Còn gọi là vỏ hầu, vỏ hà, hầu cồn, hầu cửa sông, hà sông.
Tên khoa học Ostrea sp.
Thuộc họ Mẫu lệ Ostriedae.
Mẫu lệ (Concha Ostreae), là vỏ phơi khô của nhiều loại hầu hay hà như hầu cửa sông (còn gọi là hầu cồn, hà sông), Ostrea rivularis Gould hầu ve, hầu đá, hầu lãng v.v…
Mẫu là đực, lệ là giống sò to, vì người xưa cho rằng giống sò này chỉ có đực.
A. Mô tả con vật
Hầu cửa sông là một loại hầu vỏ to và dày, có nhiều hình dáng kích thước như tròn, dài, bầu dục v.v… Do bám chen chúc vào nhau trên các vật bám khác nhau nên tạo ra những hình dáng khác nhau. Ngoài các yêu tố như sóng gió, những sinh vật khác
[1] Ngoài cây vải nói trên, trong nhân dân đặc biệt ở miền Nam hay trồng và dùng loại vải thiều hay lôm chôm, chôm chôm, ser mon hay chle sao mao (Campuchia) có tên khoa học là Nephelium lappaceum L. cùng họ. Cây cao vừa phải, lá kép gồm 1 đến 4 đôi lá chét, hoa mọc thành chùy dài vượt lá, quả hình trứng, dài 6 cm, có lông to và cứng, hạt có áo hạt dính. Được trồng nhiều ở miền Nam ít trồng ở miền Bắc nước ta. Còn mọc ở Cămpuchia, Inđônêxia, Thái Lan. Áo hạt ăn được nhưng kém vải do dính vào hạt, vị chua ngọt, thơm dễ chịu. Hạt đắng và gây say, chứa 35-48% chất dầu béo đặc gần như bơ cacao, gồm arachidin kết hợp với olein, có thể dùng chế xà phòng hay nến. Quả và vỏ quả được dùng chữa ỉa chảy, sốt, kiết lỵ.
Trong vỏ quả có tanin và một saponin độc.
[2] Một số người ăn quả vải bị ngộ độc (người nôn nao, nổi mề đay, đau bụng dữ dội, nôn mửa, ỉa chảy, khó thở, huyết áp hạ…) không phải do bản thân quả vải mà là do một thứ nấm độc Candida tropicalis thường thấy ở núm những quả vải chín quá, dập nát, úng thối. Hàm lượng đường, pH, axit là môi trường cần thiết cho nấm phát triển. Vậy không nên ăn quá nhiều, nhất là khi thấy thấy chất lượng quả có những biến đổi khác thường.
[3] Ngoài hạt khiên ngưu kể trên, người ta còn dùng hạt cây mao khiên ngưu Ipomea purpurea (L). Lam, (Pharbitis hispida Choisy) cùng họ. Lá cây nguyên không xẻ. Có người dùng cả lá cây bìm bìm sắc uống cũng thấy tác dụng lợi tiểu.
[4] Ngoài Rumex wallichii, trong nước ta còn loài Rumex crispus L. và một Rumex khác đang được di thực. Có thể dùng như chút chít
[5] Theo A. Pételot, tại Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên có một loài Aloe sp. có lẽ là Alo maculata Forsk. (tên này được ghi trong danh mục những cây của Vườn bách thảo Sài Gòn). Tại Huế người ta gọi cây này là long thủ (tay rồng), Quảng Trị gọi là lưu hội. Nhân dân thường lấy chừng 2-3 lá này bóc vỏ cứng ngoài, cắt thành từng miếng nhỏ ăn tươi với đường hoặc nấu đường, hoặc ăn như rau sống để cho mát và chữa kinh nguyệt không đều.
[6] Ngoài rau câu ra, ở miền duyên hải người ta còn khai thác một loại tảo gọi là rau mo (Sargassum), rau mã vĩ Fucus hay rau ngoai. Loại rau mơ mọc ở vùng nước sâu từ 3-6m, những nơi sóng gió tương đối lớn. Rau mọc bám vào đá và san hô. Thân rau mơ có màu nâu nhạt và có nhiều quả tròn nhỏ bằng hạt tiêu đó là những phao dùng cho rong mơ mọc đứng thẳng trong nước.
Rau mơ vớt về nhặt sạch tạp chất, ngâm nước ngọt cho hết nước mặn rồi phơi khô. Rau mơ dùng chế keo rau mơ dùng hồ vải, dán gỗ, chế tơ nhân tạo, các tông, lie làm mũ.
Rau mơ rửa sạch muối, phơi hay sấy khô tán nhỏ làm thành viên dùng chữa bệnh bướu cổ tên Iotamin, tác dụng do chất iôt ở dạng hữu cơ. Mỗi ngày uống 2-4 viên. Uống luôn trong 3-4 tháng.
[7] Ngoài công dụng làm thuốc, gần đây Menvin Cavin ở đại học California đã phát hiện cây tục tùy tử và cây xương khô (Euphorbia tirucalli Lin) (xem vị này) đều chứa chất hydrocacbua giống dầu mỏ lại ít tạp chất hơn dầu mỏ vì không có chất lưu huỳnh gây khó khăn trong việc chế biến. Hai cây này có thể mọc khoẻ trên những đất khô cằn và cho năng suất khoảng 15 tấn/ ha. Cavin đã tính với diện tích sa mạc vùng Arizona, 2 cây này có thể thoả mãn nhu cầu về xăng chạy xe hơi của xứ mình.
Bình luận