(Kontum).

Tên khoa học Raphìdophora decursìva Schott.

Thuộc họ Ráy Araceae.

A. Mô tả cây

Cây mọc leo có thể dài 4 đến 20m. Cành hình trụ đường kính 2,5 đến 5cm. Rễ khi sinh mọc thõng. Lá dai, màu xanh lục, dài 40-70cm, rộng 30-50cm, toàn phiến hình thuôn dài, ngọn lá nhọn gốc hình tim. Ngọn cuống gập khúc làm cho phiến lá mọc quặp xuống. Phiếm lá non nguyên, phiến lá già xẻ lông chim. Trên lá già còn có nhiều lỗ thủng nhỏ dọc ờ hai bên gần giữa. Cụm hoa bông mo dày, màu xanh nhạt, hình trụ ngọn tù, dài 15-20cm xung quanh bao bọc bởi một lá bắc to, hai mặt màu vàng. Hoa nhiều, lưỡng tính hình ìăng trụ 6 góc rộng. Quả mọng màu đỏ, nhiều hạt thuôn dài, tù ở hai đầu, có chấm trấng nhỏ ở mép (Hình 97).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 97. Lãn tơ uyn - Raphidophora decursiva

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Cây mọc bám trên thân cây cổ thụ mọc dọc suối nước ở vùng ẩm thấp (rừng già) hoặc dọc bờ rào (ở đồng bằng), có ở khắp nơi từ miền Bắc đến Nam. Người ta dùng thân và lá tươi làm thuốc.

Không có chế biến gì đặc biệt.

C. Thành phần hóa học

Lá lân tơ uyn cho phản ứng của glucozit, saponozit, dịch chiết có pH axit (theo Đặng Hanh Khôi, Vũ Vãn Chuyên và cộng sự 7-68).

D. Tác dụng dược lý

Lá có tác dụng kháng sinh đối với vi trùng

Staphỉococcus aureus, Streptomyces pyogenes, Pseudomonas seruginosa và Bacilỉus subtilis.

Lẽ Khắc Lạp (Viện Quân y giải phóng Khu V) đã theo dõi kết quả điều trị trên 357 trường hợp đã đi tới những kết luận sau đây:

  1. Chỉ định điều trị

a. Tất .cả vết thương phần mềm có miệng rộng. Nếu vết thương chột, miệng nhỏ thì phải vạch rộng, cát lọc tốt rồi mới dùng lân tơ uyn.

b. Bỏng độ II, nhất là bỏng độ III.

Phản chỉ định: vết thương chột, lỗ nhỏ, ở trong sâu còn dị vật, không nên dùng Lân tơ uyn sẽ làm cho vết thương chóng liền miệng, Làm ứ đọng mủ ở trong sâu.

  1. Tác dụng của ỉân tơ uyn trên lâm sàng.

a. Lần tơ uyn có tác dụng kháng sinh tại chỗ có thể thay sunfamit và penixilin điểu trị tại chỗ. Những vết thương phẩn mềm không có triệu chứng sốt nhiễm trùng thì chỉ dùng lân tơ uyn đắp lên vết thương cũng đủ tốt.

b. Vết thương được đắp gạc tẩm lân tơ uyn qua 2-3 lần thay băng, các tổ chức chất nhầy mủ được lấy đi nhanh chóng, nhìn mặt vết thương rất sạch và đỏ.

c. Lân tơ uyn kích thích tổ chức hạt non ở vết thương phát triển nhanh, rút ngấn quá trình lấp đầy vết thương, kích thích da non phát triển, chóng liền sẹo và là sẹo mềm ít có thịt thừa ùn lên quá mép vết thương.

d. Dùng lân tơ uyn tiết kiệm được 1/2 số lượng bông gạc và rút ngắn 30 đến 45% thời gian thay băng. Khi bóc gạc hầu hết mủ nhầy và mảnh dính ở vết thương đểu dính theo miếng gạc. Không gây đau đớn và chảy máu khi thay băng. Vêt thương rất sạch, chỉ cần rửa qua một lượt là đủ. Qua theo dõi 357 (rường hợp chưa thấy phản ứng gì xấu tại chỗ và toàn thân của thương binh được điều trị bằng lân to uyn. (Y học thực hành 143-1967, tr. 25-29).

£. Cóng dụng và liều dùng

Việc sử dụng lân tơ uyn mới được phổ biến rộng rãi mấy năm gần đây. Quân giải phòng miền Nam dựa vào kinh nghiệm đồng bào Kon tum khi làm nương rẫy bị dao rựa cắt đứt da thịt thưòng dùng lân tơ uyn đắp vào vết thương. Nhân dân miển Bắc dùng nước sắc thân cây rửa vết

thương (Cứu quốc, 27-8-1967).

Cách dùng như sau: Dùng lkg dây lân tơ uyn bỏ lá, cạo hết rễ, rửa sạch, bàm nhỏ, cho vào 3 lít nước đun sói trong ba giờ. Lọc qua khăn vải và cô lại còn 700ml dung dịch. Nước lân tơ uyn ở độ đậm này khi đắp vào vết thương, thương binh chỉ có cảm giác xót thoảng qua như rửa nước muối ưu trương trong lần thay băng đầu. Những ngày sau thì hết xót. Không nên dùng nước lân tơ uyn quá đặc, càng không nên dùng cao lân tơ uyn vì khi đắp Lên vết thương rất xót và gây phản ứng xấu tại chõ (xót, sưng, đỏ). Nước lân tơ uyn lẽn mốc, đổi màu, có vị chua. Khi dùng như sau: rửa vết thuơng bằng nước muối (nếu có nhiều lân tơ uyn thì dùng nước lân tơ uyn rửa càng tốt). Dùng miếng gạc tẩm nước lân tơ uyn đắp lên vết thương xong bàng lại và cách 2-3 ngày lại thay báng một lần, tùy mức độ mủ nhầy ở vết thương.