Còn gọi là cây sầu đâu cứt chuột, hạt khổ sâm, khổ luyện tử, nha đảm tử, chù mền, san đực (Sầm Sơn), cứt cò (Vĩnh Linh), bạt bỉnh (Nghệ An).

Tên khoa học Brucea ịavanica (L.) Merr. {Brucea sumatrana Roxb.).

Thuộc họ Thanh thất Simaroubaceae.

Cây sầu đâu rừng cho vị nha đảm tử (Pructus Bruceae hay Brucea hoặc Semen Bruceae) còn gọi là khổ luyện tử hay khổ sâm hay quả xoan đầu rừng là quả khô cùa cây sầu đâu rừng.

Chớ nhầm quả này với quả xoan Meỉia aieđarach L. thuộc họ Xoan (Meliaceae) người ta lấy gỗ làm nhà, vỏ rễ để trị giun, người ta cũng gọi quả xoan là khổ luyện tử (xem cây xoan ở mục các vị thuổc chữa giun sán).

A. Mô tả cày

Cây sầu đâu rừng nhỏ, chỉ cao độ 1,60 đến 2,5m là cùng, thân yếu không thành gỗ và không to như cây xoan làm nhà. Lá xẻ lông chim không đều, 4-6 đôi lá chét. Hoa nhỏ khác gốc, mọc thành chùm xim (Hình 124, Hm 9,3).

B. Phán bố, thu hái và chế biến

Cây sầu dâu rừng mọc hoang ở nhiều nơi ưong nước ta: Hải Phòng, Đồ Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên đâu cũng có. Chưa được tổ chức trồng. Nhưng ngay với nguồn mọc hoang dại, hiện nay mỗi năm tổ chức tổt, ta cũng có thể thu mua được 3-5 tấn. Quả chín hái về phơi hay sấy khô. Loại bò lạp chất. Không phải chế biến gì khác. Quả khô bảo quản hàng 10 năm gần như không hỏng và không giảm tác dụng. Mùa thu hái:

Hình Ị24. Sáu dâu rừng - Brucea javanìca

Tháng 8 đến tháng 12.

C. Thành phần hóa học

Trong quả nha đảm tử có 23% dẩu (hoặc 50% nếu chỉ tính đối với nhân). Dầu lòng, màu ữắng. Ngoài ra còn một glucozit gọi là kosamin, chất tanin, chất men có thể là men thủy phân, amydalin, chất quassin và một chất saponin.

Chất kosamin có tác dụng diệt trùng rất rõ rệt. Liều nhỏ gây nôn diệt giun sán, liều cao thì độc, làm tim đập chậm, nôn ra mật và máu, đi ỉa lỏng và có thể chết được. Máu người bị ngô độc đen, không đông được, hồng cầu phổng lên, vón lại, Ống tiêu hóa và màng não bị viêm.

Bruxein

(Theo Judith Polansky và cộng sự 1967)

Năm 1967, Viện các hợp chất thiên nhiên ở Pháp (Judith Polansky- Zoia Baskeviih- Experienỉia 23 (6) 1967-C. A.1968 Nb5- 21869), nãm 1968 Trường đại học tổng hựp Caliíbmia Mỹ (Keng Y. Sim James J. Simes J. Org. Chem. 33 (1) 1968-C. A 68, 39849n) đẩ chiết và xác định công thức hóa học của một số chất đắng như bruxein A, B, c và brusatola.

Brusatola có độ chảy 276-278", công thức thỏ C₂₇H₃₂On.

D. Tác dụng dược lý

Thí nghiệm trong ống nghiệm, hạt khổ sâm (nha đảm tử) có tác dụng diệt amip ở dạng hoạt động. Trên lâm sàng, hạt khổ sâm tỏ ra có tác dụng chữa lỵ amip cấp tính rất tốt, so sánh tác dụng như ẽmêtin. Nhưng đối với lỵ mãn tính và lỵ có mang vi trùng thì hiệu quả có kém hơn.

Năm 1973, s. M. Kupchan và cộng sự (1968. J. Org, Chem. vol. 38 (I): 178) từ Brucea untidysenterica Mill. chế thành dịch chiết cồn có tính chất ức chế trên các tế bào ung thư trong ống nghiệm. Trong dịch chiết cổn này, các tác giả đã phân lập được bruxeantin (0,01%), bruxeantirin (0,002%) và bruxein B (0,002%). Tác dụng chống ung thư của bruxeantin mạnh hơn bruxeantirin và bruxein

B. Sự khác nhau này có lẽ do sự có mặt của một este không no, ở bruxeantin. Công trình nghiên cứu này của tác giả đã dựa trên kinh nghiệm của nhân dân Etiopia đã dùng hạt cây này chữa lỵ và ung thư.

Nãm 1971, Đổ Tất Lợi và cộng sự (Dược học 3. 1971, 6.1971 và 5.1972) đã nghiên cứu tìm thấy liều điều trị của nhân đã khử dầu là 4mg/kg thể trọng (người), liều DL-50 là 260mg/ kg và liều DL-100 là 360mg/kg đối với chuột

Brusơtoia

(Theo Keng Y Sim và cộng sự, 1968)

nhắt. Trên cơ sở đó đã đề nghị sản xuất viên nha đảm tử chứa 5mg nhân đã khử dấu (dùng cho trẻ em) và chứa 20mg (dùng cho người lớn). Nhũng viên này đã được dùng rộng rãi trong vụ dịch lỵ ở Nam Hà. Theo báo cáo của khoa truyền nhiễm bệnh viện Bạch Mai 92% trường hợp lỵ đã khỏi. Tác dụng phụ không đáng kổ: 2% sô’ người dùng thuốc buồn nôn hoặc nôn mửa. Khi ngừng thuốc các triệu chứng đó hết ngay.

E. Công dụng và liều dùng

Tính vị theo đông V. VỊ đắng, tính hàn, vào kinh đại tràng. Tác dụng táo thấp (làm khô cái ẩm ướt), sát trùng. Chữa sốt rét, những người tỳ vị hư nhược nôn mửa cấm dùng. Đây là một loại thuốc ]ỵ đã được dùng lâu đời ở nhiều nước nhiệt đới: Tại Việt Nam, vị thuốc được ghi với tên “xoan rừng” trong bô “Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh (thế kỷ 17), tại Trung Quốc vị thuốc lần đẩu tiên thấy được ghi với tôn nha đảm tử trong ”Bản thảo thập di ” của Triệu Học Mẫn (1765).

Ngày dùng 10-14 quả, có thể tới 20 quả, tán nhỏ, làm thành viên 0,1 Og toàn quả hoặc 0,02g nhân đã khử dầu mà uớng. Uống liền 3-4 ngày đến một tuần lễ.

Thường chỉ 1-2 ngày là khỏi. Nhưng nên uống liền trong 5-7 ngày cho hết hẳn. Có thể bỏ vỏ, ép hết dầu vì dầu có tính chất kích thích, gây nôn và ỉa lỏng. Ngoài công dụng chữa lỵ, nha đảm tử còn có tác dụng chữa ỉa lỏng, viêm ruột thường, chữa sốt rét.

Có thể dùng dưới dạng thụt: Lấy 20-30 hạt giã nhỏ, ngâm vào 200ml dung dịch 1% natri bicacbonat, sau 1-2 giờ, lọc lấy nước thụt giữ.

Nha đàm tử có độc, uống quá liều có thể gây đau bụng, nôn mửa, kém ãn, người mệt. Khi

thụt thì ít hiện tượng độc hơn. Dùng uống với liều kể trên thường không xảy ra hiện tượng độc nào, hoặc chỉ thấy nôn nao, buồn nôn. Ngùng thuốc sẽ hết ngay.

Để chữa sốt rét: ngày uống 3 lần sau bữa ăn. Mồi lán uống lg quả. Uống liền 4-5 ngày. Phụ nữa có thai vẫn dùng được.

TỎI

Tên khoa học Allium sativum L.

Thuộc họ Hành Alìiaceae.

Ta dùng củ tỏi (Bulbus Allii) là dò của cay tỏi mà ta vẫn dùng làm gia vi (Hình 125, Hm 41,3)-

A. Thành phần hóa học và tác dụng

Trong tỏi có một ít iốt và tinh dầu (lOOkg tỏi chứa chừng 60g đến 200g tinh dầu). Thành phần chủ yếu của tỏi là một chất kháng sinh alixìn C₆H(0OS2, một hợp chất suníua có tác dụng diệt vi khuẩn rất mạnh đối với vi trung Staphxllữcoccus, thương hàn, phó thương hàn, lỵ, vi trùng tả, trực khuẩn sinh bệnh bạch hầu, vi khuẩn thối.

Trong tỏi không có chất alixin ngay mà có chất aliin, một thứ axit ainin; chất aliin chịu tác dụng của men alinaza cũng có trong tỏi mới cho chất alixin.

Chất alixin tinh khiết, là một chắt dầu không màu, hòa tan trong cồn, benzen, ête, vào dịch nước (hì không ổn định, dễ thủy phân. Độ thủy phân chừng 2,5%, có mùi vị như tỏi và có tính kích thích da như tỏi, aliin không có mùi hôi của tỏi.

Chất alixin bị nhiệt sẽ chóng mất tác dụng, gặp kiềm cũng bị mất tác dụng, axit nhẹ ít bị

Viên nha đảm tử 5mẹ: Trẻ 1 tuổi: ngày 2-4 viên; 2 tuổi: ngày 3-6 viên; 3 tuổi: ngày 4-8 viên; 4 tuổi: 5-10 viên. Trên 4 (nổi: dùng viên nha đảm từ 20mg, ngày 5-10 vicn. Có thể uống 15-20 viên, chia làm nhiều lần uống, mỗi lần 1-

2 viên.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 125. Tỏi - Allium satìvum

ảnh hưởng.

Thí nghiệm trong ống nghiệm, tác dụng diệt khuẩn của alix.in rất mạnh.

Dung dịch 1/85.000-1/125.000 đủ ức chế sinh trưởng các trùng Staphyỉococccus, Streptococ- cus, trùng thương hàn, phó thương hàn, trực

2 CH₂ = CH — CHa — SO — cn2 — CH — COOH + mcn alinaza

Aliin I ►

NH₂ H20

CHS — CO — COOH + 2 NHs

axit pyruvic amoniac

  • CH₂ = CH — CHa — s — s — CH₂ — CH = CHa 0 alixin

C:>H5 — s — s — C;iHr, + 2 HS — CH₂ — CH — COOH 11 l 0 nh2

aỉixin xystcin

2 CaHr, — s — s — CHZ — CH — COOH + H20

I

NH₂

trùng lỵ (cloromyxétin ờ nổng độ 1/5.000 trong cùng điều kiện đối với trùng thương hàn chưa có lác dụng) không bị ảnh huởng của axit paraaminô benzôic (vitamin H’) là sản vật của cơ thể thường ảnh hưởng đến tác dụng của sunfamit.

Chất alixin rất dễ mất ôxy và do đó mất tác dụng kháng sinh, vì vây người ta cho rằng tác dụng kháng sinh của alixin là do nguyẽn tử ôxy trong phân tử.

Chất aỉixin rất đễ kết hợp vói một axit amin có gốc SH là xystein để cho một hợp chất.

Gốc SH được coi là một nguyên nhân có tính chất kích thích sự sinh sản của vi sinh vật hay tế bào. Do đó tỏi có ức chế sự sinh sản của vi trùng bằng cách phá hoại khâu SH của chất xystein.

Đối với trực trùng lỵ amip, nước tỏi 5% ức chế rất mau sự hoạt động của trùng amip: Amip co lại thành khối tròn. Trong phân của người bị lỵ amip, sau khi dùng tỏi, thì trùng amip mất hếc năng lực sinh sản.

Những năm gẩn đây tại Trung Quốc dùng tỏi chữa lỵ amip kết quả khỏi đạt tới 80%.

Dối với lỵ trực ỉrùng tỏ ì cũng có tác dụng như trên đã giới thiệu.

Trong ống nghiệm, nước tỏi 3% đủ diệt các trực trùng lỵ và trực trùng gây bệnh đường ruột.

Trên lâm sàng dùng tỏi chữa lỵ trực trùng kết quả khỏi đạt tới 85% không kém dùng sunfaguanidin. Cách dùng cũng như đối với lỵ amip.

B. Cách dùng và liều dùng

ỉ. Chữa lỵ amip hay lỵ trực trùng: Lấy tỏi giã nát ngâm với nước sôi để nguội với tỷ lệ 5% hoặc 10%. Ngâm 1-2 giờ lọc qua gạc (không cần tiệt trùng, ngày pha 1 lần) thụt giữ.

Một hai ngày đầu, thụt dung dịch 5% (lOOml) sau đó dùng dung địch 10%. Mỗi ngày thụt một lần, có thể đồng thời uống 6g tỏi chia làm 3 lần uổng trong ngày.

Thời gian điều trị 5-7 ngày. Kết quả rất rõ

rệt.

Chỉ phiền dùng tỏi thì miệng hôi và thụt nhiểu ngày thì khó chịu ở hâu môn.

  1. Ngoài công dụng chữa lỵ, nước tỏi 10% còn dùng chữa các vết thương có mủ, trị giun kim (thụt phối hợp với lòng đỏ trứng gà), chữa viêm phế quản mãn tinh, ho gà, cao huyết áp (do gây dãn mạch).

Chữa cao huyết áp: Ngày uống 20-50 giọt cồn tỏi 1/5 với cồn 60° (chia làm 2-3 lần uống). Nếu dùng quá liều, huyết áp sẽ tăng.

Rết cấn: Giã nát củ tỏi xát vào nơi rết cắn.

Chú thích:

Trong dông y, ghi về tỏi như sau: Vị cay, tính ôn, hơi có độc, vào 2 kinh can và vị. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ. Tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt, hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả lỵ V.V..,

Phàm những chứng âm hư, nội nhiêt, thai sản, đậu trẩn, đau mất, mũi răng cổ, lưỡi chó dùng.

Hình ỉ26. Mộc hoa trắng - Holarrhena antidysenĩerica ì .Lá và cành 2. Quả

Thuộc họ Trúc đào (.Apocynaceae).

Ta dùng hạt và vỏ cây mộc hoa trắng.

antidysenteria

A. Mô tà cây

Cây nhỏ hoặc cây to, có thể cao tới 12m. Cành non nhẵn hoặc mang lông màu nâu đỏ, trên mặt có nhiều bì khổng trắng rõ. Sẹo lá còn sót lại thường nổi lên. Lá mọc đối gần như không cuống, không có lá kèm, nguyên, hình bầu đục đầu tù hay nhọn, đáy lá tròn hoặc nhọn, dài từ 12-15cm, rộng từ 4-8cm. mặt lá bóng, màu xanh lục nhạt. Hoa trắng, mọc thành xim hình ngù b kẽ lá hay dầu cành. Quả là những đại màu nâu có vân dọc hơi hình cung dài 15-30cm, rộng 5- 7mm. Rất nhiều hạt dài 10-20mm, rộng 2- 2,5mm, dày l-1,5mm màu nâu nhạt, đáy tròn, đầu hơi hẹp lõm một mặt, trên mặt có một đưòng con màu trắng hơi nhạt. Chùm lông của hạt màu hơi hung hung, dài 2-4,5cm (Hình 126, Hm 45,2).

Lá mầm gấp nhiều lần. Mùa hoa nỏ: tháng 3 đến tháng 7, mùa quả: tháng 6-12.

B. Phán bố

Mọc khắp nơi ở Việt Nam. Tại miền Bắc có ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hòa Bình và nhiều tỉnh khác.

Còn mọc ở Ân Độ, Miến Điện, Thái Lan, Malaixia.

C. Thành phần hóa học Từ vỏ và hạt cãy mộc hoa trắng người ta đã chiết xuất các ancaloit chủ yếu sau đày:

  • Conesin

  • Norcoriesin

  • Conesimin

  • Isoconesimin

  • Conesinidin

  • Conkurchin

  • Holarhenin

Chất conesin có tinh thể hình lãng trụ (kết tinh trong axêtôn) độ chảy 125°, aD=

-1,9° (CHCụ hoặc + 21°6 (C₂HSOH).

Cho muối clohydrat, bromhydrat và oxalat có tinh thể.

Conesin cho phản ứng sau đây: Hòa tan một ít conesin trong 8 giọt H,S04. Thêm một giọt HNOj đặc vào sẽ có ngay màu vàng tươi. Màu vàng sẫm dần. Nếu thêm một giọt axit nitric nữa, sẽ ngả mầu nâu bẩn, sau ngả mầu lục.

Theo Ciaus J. F. Mhaskar trong hạt mộc hoa

trắng có từ 36-40% dầu và 0,025% ancaloit.

D. Tác dụng dược lý

Chất conesin rất ít độc. Với liều cao, tác dụng của nó gần giống mocphin, nó gảy liệt đổi với trung tâm hô hấp. Nếu tiêm, nó gây tê tại chồ nhưng lại kèm theo hiện tượng hoại thư do đó không dùng gây tê được.

Conesin bài tiết một phần qua đường ruột, một phần qua đường tiểu tiện. Nó gày hạ huyết áp và làm tim đạp chậm.

Conesin kích thích sự co bóp ruột và tử cung.

Theo Janot M. M. và Cavier R. (1949. Ann. Pharmaveuí. Franc: 549-552) conesin clohydrat, có tác dụng trừ giun đối với chuột bạch.

Trên lâm sàng, người ta dùng conesin clohydrat hay bromhydrat chữa lỵ amip. Hiệu lực nhu emetin lại hơn emetin ở chõ ít độc và tiện dùng. Nó tác dụng cả đổi với kén và amip, còn cmetin chỉ tác dụng đối với amip. Hiện tượng không chịu thuốc rất ít hoặc không đáng kể.

E. Công dụng và liều dùng Hạt và’vỏ được dùng làm thuốc chữa lỵ amip. Thường dùng dưới dạng bột, cồn thuốc hoặc cao lỏng.

Bột vò ngày uống lOg Bột hạt ngày uống 3-6g Cao lỏng 1/1 ngày uống l-3g Cổn hạt (1/5) ngày uống 2-6g