Còn gọi ìà trứng ếch, trứng ốc, bọt ếch, nổ trắng, co phá mặc lăm (Thái), pha tốp (Lai Châu), đốc pha nốc (Lào), srul kraham {Cãmpuchia).

Tên khoa học Cailicarpa cana L.

Thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae.

A. Mô tả càv

Cây nhó, cành vuông phủ đầy lông hình sao màu xám, hay trắng nhạt. Lá mọc đối, hình mác hai đầu nhọn, mép có răng cưa, dài 7-20cm, rộng 2,5-llcm, hai mặt đều có lông, mặt dưới nhiểu hơn nén có màu trắng bạc. Hoa rất nhỏ màu hồng nhạt mọc thành xim ờ kẽ lá, thành hình cầu. Quả hình cầii, nhẵn, màu tía, đường kính 2-3mm, mọc sát nhau.

Mùa hoa quả: Tháng 5-9 (Hình 208).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại ở khắp những vừng đồi núi miền trung đu nước ta, có khi ở ven rừng. Còn thấy mọc ở Philipin, à các nước nhiệt đới châu Á.

Người ta dùng thân, lá, rễ gần như quanh năm. Hái về phơi hay sấy khô, hoặc hái về (rễ) rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô.

c. Thành phán hóa học

Chưa có tài liệu nghiên cứu.

1 V-"— ĩ \ ■ ‘.‘v

,\

TODO: thêm hình ảnh

Hình 208. Nàng nàng - Callicarpa cana

• D. Công dụng và liều dùng

Nàng nàng là một vị thuốc được nhân dân dùng chữa phụ nữ sau khi đẻ kém ăn, da vàng, bệnh vàng da và để bồi đưỡng.

Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Có thể tán bột uống.

Còn gọi là biển súc, cây càng tôm, cây xương

cá.

Tên khoa hoc Polvgonum aviculare L.

Thuộc họ Rau răm Poỉygonaceae.

A. Mô lả cây

Cây cỏ nhỏ, mọc bò, thân và cành mọc tỏa Iròn gần sát mạt đất, màu đỏ tím, đôi khi mọc cao tới ]0-30cm. Lá nhỏ, mọc se le, có bẹ chìa. Phiến lá dài 1,5-2cm, rộng 0,4cni. Hoa nhò, màu hồng tím, mọc tụ từ 1 đến 5, thường 3-4 hoa ở kẽ lá. Quả ở cạnh, chứa một hạt đẩu đen. Mùa hoa từ tháng 5-6, kéo dài suốt mùa hè (Hình 209).

B. Phân bố, thu hái và chế biên

Theo A. Pételot (1954) cầy không thấy mọc ở Việt Nam mà chỉ thấy bán cây khô tại các hiệu thuốc đông y và nhập của Trung Quốc. Nhưng thực tế đã phát hiện thấy mọc ở nhiều tinh Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bác Ninh, Bắc Giang và ngay cả Hà Nội, tại những nơi ẩm như ruộng bỏ hoang, lòng suối cạn, có người trồng một số ít quanh nhà dùng làm thuốc,

Trồng bàng hạt cây con. Thường người ta thu hái toàn cây (cả rẻ) vào mùa xuân và mùa hạ. Dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Không phải chế biến gì đặc biệt.

C. Thành phần hóa học

Trong rau đắng có 0,35% chất tanin, ngoài ra có vitamin c (tới 900mg% đối với cây khô kiệt), carotin (tới 39%), flavonozit avicularin C2ũH)8On, khi thủy phân avicularìn sẽ cho quexetin và

l.arabinoza.

Có tác giả cho rằng có ít ancaloit, nhưng có tác giả cho rằng không có. Trong vỏ có anthraglucozit.

Ngoài ra còn đường, tinh dầu, nhựa, sáp. Độ tro 2,44%.

D. Tác dụng dược lý

Theo A. D. Turova và một số tác giả Liên Xô

TODO: thêm hình ảnh

Hình 209. Rau đắng - Polygonum aviculare

CŨ nghiên cứu tác dụng dược lý của rau đắng mọc ở miền Nam Liên Xô cũ phát hiện thấy tác dụng hạ huyết áp, tãng cường sụ hô hấp.

Dịch chiết nước của rau đấng gây co bóp tử cung cô lập hay không cô lập cùa súc vật cái, làm tăng thời gian đông máu, tãng lượng nước tiểu.

Cũng ở Liên Xô cũ, từ rau đấng người ta chế biến thành dạng thuốc mang tên avicularen (hỗn hợp đồng đều của dịch chiết rau đấng bằng cổn 70° và bã của cây sau khi đã chiết). Avicularen làm tăng thời gian đông máu của thỏ, nhưng không ảnh hường tới độ nhớt của máu thỏ. Cho avicularen vào tá tràng thỏ cái không gây mê thì biên độ và tần số sự có bóp tử cung tăng lên.

Avicularen không độc.

Tại Liên Xô cũ avicularen được dùng cho phụ nữ sau khi đẻ, kết q’ũả tốt đạt tới 60%.

E. Công dụng và liều dùng

Trong tài liệu cổ: Rau đắng (biển súc) có vị đắng, tính bình, không độc. Vào hai kinh vị và bàng quang. Có tác dụng lợi tiểu, thông lâm, sát trùng, dùng trong những trường hợp thấp nhiệt, lầm bệnh, vưu trùng, ác thương.

Trong nhân dân rau đắng được dùng làm thuốc lợi tiểu, chữa đái buốt, sỏi thận. Ngoài ra còn được dùng làm thuốc giải độc, chữa rắn cắn, mụn nhọt, vàng da.

Ngày dùng 6 đến 12g (khô) dưới dạng thuốc sắc. Có thể dùng tươi sao khỗ rổi sắc uống. Dùng ngoài giã nát đắp không kể liều lượng. Đơn thuốc có rau đổng ỉ. Độc vị rau đắng: Ngày uống 12g rau đắng phơi hay sấy khô dưới dạng thuốc sác. Chữa tiểu tiện khó khăn, đái buốt, đái ra sỏi sạn.

  1. Đơn thuốc gổm nhiều vị: Rau đáng khô 12g, hoạt thạch lOg, mộc thông 5g, xa tiền thảo (cây mã đề) 8g, nước ba bát, sắc còn một bát. Chia ba lần uống trong ngày. Chữa viêm bàng quang viêm đường tiểu tiện, đái buốt.