Còn gụi là chè lang, chè dại, duôì gia, chè dung.
Tên khoa học Sympỉocos racemosa Roxb.
Thuộc họ Dung Symplocaceae.
A. Mô tả câv
Dung là mộc cây nhỏ cao 1,50-2m, nhưng có thể cao 4-5m hay K-9m ‘(nếu để lâu không bị đốn chặt), Lá mọc so lc, đơn, nguyên, cuống ngấn, hình trứng thuôn dài, phía cuống hẹp lại hơi tù, phiến lá dài 9- 15cm, rộng 3-6cm, mép có răng cưa ngắn, thưa, mặt nhắn, khi khô có màu vàng xanh hay vàng nâu. Hoa nhiều, tnàu trắng hay vàng lục nhạt, mọc thành chùm ở nách lá hay ờ đẩu cành, cuống hoa ngán, trên mặt có phủ lông mỊn. Hoa mùi thơm nên ong rất (hích. Quả hạch ăn được, hình thuôn dài, dài 6-10mm, trên đỉnh có phiến đài tốn tại, thụt quả màu tím đỏ. Hạt thuờng đơn độc, màu nâu (Hình 316).
B. Phân bô, thu hái và chê biến
Mọc phổ biến ở khắp các tỉnh miển Bắc, có cả ở Lào (tên Lào là mot, kho mươt he, kho meut, dam krong), Cămpuchia (tên Cămpuchia là thvet, luot). Còn mọc ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc.
Tại miền Bắc, một số nơi được nhân dân hái lá dùng làm thuốc như vùng Thủy Nguyên (Hải Phòng), Quảng Ninh. Hái lá tươi về phơi hay sao khô để dành đùng dần.
Còn có nơi dùng vỏ thân hay vỏ rê: Bóc vỏ về phơi hay sấy khô. vỏ mềm, dẽ gẫy vụn, màu vàng nâu nhạt, khi cắt ngang giữa lớp bần và lớp mô vỏ có một lớp màu đỏ, chứa một chất màu đỏ.
C. Thành phần hóa học
Trong lá có tanin, hợp chất flavonozit. Hoạt chất chưa rõ.
Trong vỏ có chất sắc tố màu đỏ, 3 ancaloit là
loturin, coloturin, và loturidin.
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân nhiều vùng dùng Lá dung làm chè uống cho tiêu cơm, chữa đau bụnc, chữa ỉa chảy.
Tại Ấn Độ người ta dùng vỏ sắc uống chữa đau bụng, đau mắt và rửa vết loét, rong kinh do cơ tử cung bị dãn, tiểu tiện ra dường chấp.
Dùng dưới dạng bột hay thuốc sấc, môi ngày uống 3 đến 4 lần, mỗi lấn uống lg.
Mới đây bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng dựa vào kinh nghiệm dân gian đã đùng nước sắc và xirô lá đung chữa đau dạ đày có tăng toan, kết quả tốt. Liều dùng cho người lớn mỗi ngày 15 đến 30g lá khô.
Nhân dân còn dùng nhuộm vải, sau đó nhuôm cánh kiến đỏ cho có màu đỏ.
Còn gọi là dẫu tiên.
Tên khoa học Asarum maximum Hemsl.
Thuộc họ Mộc hương Aristoỉochiaceae.
A. Mò tả cây
Cây thuộc thảo sống lâu năm. Thân rễ nằm ngay dưới đất. Lá mọc từ thân rễ, có cuống dài 30-50cm, phiến lá hình tim dài, nguyên, nhẵn, mặt irên xanh bóng, mặt dưới xanh nhạt. Hoa màu tím loe ra gần như cái ống nhổ, mọc riêng lẻ ở gốc cuống lá. Mùa hoa quả: tháng 4-6 (Hình 317).
B. Phàn bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở những vùng núi cao lạnh, chỗ ẩm có tán che, ven suối như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Yên Tử (Quảng Ninh).
Người ta dùng hoa, rễ và lá tươi hoậc phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Trong hoa rất nhiểu sắc tố aníhoxyanozit.
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân dùng hoa tiên làm thuốc bổ, tăng cường thể lực, hoa, rễ ngâm rượu uống. Ngày
TODO: thêm hình ảnh
Hình 317. Hoa tiên - Asarum maximum
đùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Lá dùng chữa ăn uống kém tiêu, đau bụng. Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc.
Chú thích:
Có tác giả đã xác định tên cây này Là Asarum gỉabrum Merr.
Bình luận