Còn gọi là cà dầm, tomate (Pháp).

Tên khoa học Lycopersicum escuỉentum Mill.

Thụộc họ Cà Solanaceae.

A. Mô tả cây

Cầy thảo, sống theo mùa. Thân tròn, phân cành nhiểu. Lá có cuống dài, phiến lá xè lông chim, số lượng thùy không ổn định, thường có ràng cưa. Hoa họp thành những xim thưa ở nách lá, cuống phủ lông cứng. Đài 3-6 thùy hình mũi mác không dài hơn đài, mặt phủ lông. Nhị 5-6, bao phấn dính thành 1 ống bao quanh nhụy, thuôn dần ở đỉnh, mở bằng những kẽ nứt dọc ngắn. Bầu có 3 hoặc nhiều ô, mỗi ô chứa nhiều noãn. Quả mọng có 3 ô. Hạt dẹt, hình thận. Do một quá trình trồng trọt lâu đời, nên Cây cà chua có nhiểu biến đổi về hình thái, số lượng các thùy của dài, tràng, bộ nhị có khi 5, 6, 7 có khi 8. Sớ lượng lá noãn cũng tâng lên nhiều. Mùa hoa quả:

mùa đông và mùa xuân (Hình 110).

B. Phán bố, thu hái và chẻ’ biến

Vốn nguồn gốc ở châu Mỹ, hiện nay cà chua được trổng ở hầu hết các châu làm thức ăn. Trẽn thế giới sản xuất khoảng 20 triệu tấn/năm. Ngoài những giổng cà chua nói trên, một số nơi trổng một loại cà chua nhỏ, hình cầu có nơi gọi là cà kiu có tên khoa học Lycopersicum esculentum Mill. var. cerasi/orme Alf. vốn thấy mọc hoang dại ở Peru, đảo Ảngti, Texas.

Người ta trổng chủ yếu lấy quả để ăn. Lá dùng làm thuốc và là nguyên liệu chiết tomatin. c. Thành phần hóa học

Lá cà chua chứa rất nhiểu gluco-ancaloit, trong đó tomatin chiếm thành phần chủ yếu. Tomatin được Fontaine và cộng sự chiết được lần đầu tiên vào năm 1948 từ lá cây cà chua ở Nam Mỹ có tên khoa học Lycopersicum

Hình ỈÌO. Cà chua - Lycopersicum esculentum

pimpineỉliỹoỉium Mill. Cùng năm đó, Kuhn và Low cũng chiết được tomatin từ loài cà chua quả nhỏ mọc ở Đức. Tomatin thực tế là hỗn hợp của nhiều chất gần nhau, trong đó tomatin a chiếm chủ yếu. Tomatin thủy phán cho 2 phân tử glucoza, 1 galactoza, 1 xyloza và tomatidin. Tomatidin là một genin thuộc nhóm các spirosolanol, đồng phân lập thể của soladulcidin. Một số loài cà chua có hàm lượng tomatin lên tới 5%.

Quả cà chua chứa các axit hữu cơ trong đó axit tactric, xitric, siiccinic và malic chiếm chủ yếu. Về giá trị dinh dưỡng, cà chua chứa 77% nước, 0,6% protit, 4% gluxit (sacccaroza, pec- tin), 0,7% xenluloza, 0,4% tro. Muối khoáng gồm

u,4mg% Canxi, 24,7mg% p, 1,3mg% Fe, các vitamin gổm 1,9mg% caroten, 0,06mg% vítamin Bl, 0,04mg% vitamin B2, 0,5mg% vitamin pp và 38mg% vitamin c (Bảng thành phẩn hóc học thức ăn Việt nam - Nhà xuất bản Y học Hà nội, 1972). Có tác giả còn thấy vitamin p, vitamin K. Ngoài • ra còn lycopen, xanthophyle và quexcitrozit. Hạt cà chua chứa 25% một loại dầu béo thô, có thể ãn được sau khi tinh chế. Khô dầu hạ(cà chua có thể dùng làm thức ăn cho gia súc.

D. Cồng dụng và liều dùng

Quả cà chua măc dầu giá trị dinh dưỡng thấp nhưng được toàn thế giới dùng làm thức ãn dưới dạng tươi hay nấu chín, nuớc ép cà chua là một loại nước giải khát tươi ở nhiểu nước, còn dùng dưới dạng tương, nước sốt, nấu canh …

’ Một số người dùng quả cà chua làm thuốc nhuận tràng, chữa sốt, lao phổi. Tại Tây Ban Nha người ta phối hợp quả cà chua với ớt để chữa trĩ, hoặc ngưòti ta nấu cà chua với dầu hay mỡ (cho đến khi bổc hết hơi nuớc) rổi dùng dưới dạng thuốc mỡ bôi lên những nơi mụn nhọt, lở ioét.

Đọt cả chua (lá non) được nhân dán dùng đắp mụn nhọt, nơi viêm tấy như sau: Lấy đọt cà chua rửa sạch, giã nát, thêm vào vài hạt muối. Đắp lên nơi mụn nhọt hay viêm tấy, bãng lại. Ngày làm một hai lần cho đến khi khỏi.

Lá cà chua khô hiện được dùng làm nguyên liệu chiết tomatin là một chất kháng khuẩn, chống nấm, chống một số sâu bệnh hại cây trồng (nhưng với liểu nào đó lại có tác dụng kích thích sinh trưởng, ví dụ đối với sáu coleoptyle của thóc avoine). Tomatin còn được dùng để bán tống hợp các hocmon steroidic.