Còn gọi là hoàng thường sơn, thục tất, áp niệu thảo, kê niệu thảo.
Tên khoa học Dichroa febrifuga Lour.
Thuộc họ Thường sơn Saxifragaceae.
Cây thường sơn cho ta các vị thuốc sau đây:
Vị Thường sơn (Radix Dichroae) là rễ phơi hay sấy khô của cây thường sơn.
Lá và cành phơi hay sấy khô (Folium Dichroae) được gọi là thục tất.
Trên thực tế ở Việt Nam người ta ít dùng rễ hoặc dùng cả rễ và lá đều gọi là thường sơn.
Chữ Dichroa có nghĩa là 2 màu, febrifuga có nghĩa là đuổi sốt, vì cây và lá thường sơn có 2 màu tím đỏ và xanh lại có tác dụng chữa sốt do đó có tên này.
Tên thường sơn vì có ở núi Thường Sơn, đất Ba Thục (Tứ Xuyên Trung Quốc hiện nay).
A. Mô tả cây
Thường sơn là một loại cây nhỡ cao 1-2m, thân rỗng, dễ gẫy, vỏ ngoài nhẵn màu tím. Lá mọc đối, hình mác hai đầu nhọn, dài 13-20cm, rộng 35- 90mm, mép có răng cưa mặt trên xanh, mặt dưới tím đỏ, gân tím đỏ, không có lông hoặc hơi có lông. Hoa nhỏ màu xanh lam hay hồng, mọc thành chùm nhiều hoa mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Quả mọng, khi chín màu xanh lam, đường kính 5mm, một ngăn, hạt nhiều nhỏ hình lê, có mạng ở mặt, dài không đầy 1mm (Hình 500, Hm 35,4).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 500. Thường sơn - Dichroa febrifuga
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây thường sơn mọc hoang rất nhiều ở các tỉnh miền rừng núi nước ta, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Hà Tây, Sapa-Lào Cai cũng có mọc.
Tại Trung Quốc cũng có mọc hoang và được trồng để lấy rễ và lá dùng làm thuốc và xuất khẩu.
Mùa thu vào các tháng 8-10 người ta đào rễ về, rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con, phơi hay sấy khô.
Nếu dùng lá, hái quanh năm nhưng tốt nhất lúc cây sắp và đang ra hoa. Hái về rửa sạch, phơi khô. Có thể dùng tươi.
C. Thành phần hoá học
Năm 1928, M. E. Bouillat có nghiên cứu thường sơn, nhưng không lấy được một chất gì rõ rệt.
Năm 1948, chúng tôi đã chiết từ lá cây thường sơn tươi (Hà Giang, Tuyên Quang) một chất có tinh thể và có tính chất glucozit vì điều kiện kháng chiến chưa xác định các tính chất lý hoá (Đỗ Tất Lợi và Bùi Đình Sang, 1948).
Tại các nước, thường sơn được là đề tài nghiên cứu kỹ về mặt hoá học và dược lý từ năm 1946.
Trong các năm 1946-1948, các tác giả Triệu Thạch Dân, Chuyên Phú Vinh và Trương Xương Thiệu đã lấy được từ thường sơn các chất sau đây:
-
Dicroin -α (Dichroin) C₁₀H²¹₍₁₉₎O₃N₃ độ chảy 136°C.
-
Dicroin β C₁₆H⁽¹⁹⁾₂₁O₃N₃ độ chảy 145°C.
-
Dicroin γ C₁₆H₂₁⁽¹⁹⁾O₃N₃ độ chảy 160°C.
Năm 1948, Kuehl đã chiết từ thường sơn được một số ancaloit với những tính chất sau đây:
-
Ancaloit I (dichroin A) độ chảy 131-132°C.
-
Ancaloit II (dichroin B) C₁₆H₁₉O₃N₃ độ chảy 140-142°C.
Koepfli, các năm 1947 và 1949, đã chiết được các ancaloit đạt tên là febrifugin C₁₆H₁₀O₃N₃, có độ chảy 139°-140°C và 154°-156°C isofebrifugin C₁₆H₁₉O₃N₃ có độ chảy 128-130°C.
Gần đây, người ta đã xác định được rằng dicroin α ancaloit I và chất isofebrifugin chỉ là một. Còn dicroin α, ancaloit II và febrifugin là một. .
Những ancaloit trong thường sơn đều là dẫn xuất của nhân quinazolin có 3 dạng α, β và γ. Nhiệt độ, chất kiềm hay axit hoặc dung môi đều có ảnh hưởng và thay đổi các ancaloit, thành các dạng khác nhau. Trong 3 dạng đó thì dicroin γ có tác dụng chữa sốt rét mạnh nhất.
Công thức của febrifugin và isofebrifugin đã được xác định như sau:
[]
Isofebrifugin
Tỷ lệ ancaloit toàn phần chừng 0,2% trong lá và 0,1-0,15% trong rễ. Từ cây thường sơn di thực vào Liên Xô cũ, người ta đã chiết được trong lá 0,5-0,7% ancaloit toàn phần trong đó có 0,15- 0, 19% là febrifugin 0,1% isofebrifugin. Trong rễ chỉ có 0,2-0,5% ancaloit toàn phần (C. A., 19, 1971-20733t)
D. Tác dụng dược lý
Thường sơn đã được nhiều tác giả nghiên cứu về mặt dược lý. Sau đây là một số kết quả:
- Tác dụng chữa sốt rét. Năm 1945-1948, các tác giả Vương Tiến Anh và Trương Xương Thiệu đã báo cáo thí nghiệm dùng thường sơn chữa bệnh sốt rét của gà thấy cao nước với liều 1g trên 1kg thể trọng có tác dụng chữa sốt rét rất rõ rệt (Trung Hoa y học tạp chí, 31: 159, 1945 và Nội khoa học báo 2: 840, 1950). Chất dicroin với liều 1mg trên 1kg thể trọng so với quinin mạnh gấp 25-50 lần. Trong các dạng dicroin thì dạng γ có dụng mạnh nhất ước chừng gấp 100 lần quinin, dạng β mạnh gấp 50 lần, còn dạng α thì tác dụng tương đương với quinin.
Các nhà nghiên cứu Mỹ thí nghiệm tác dụng chữa sốt rét của ancaloit của thường sơn so sánh với các cây khác cũng chứng minh rằng các ancaloit của thường sơn có tác dụng chữa sốt rét mạnh hơn quinin 100 lần.
Cao thường sơn trên lâm sàng có tác dụng rõ rệt chữa sốt rét thường nhưng có nhược điểm là gây nôn làm cho bệnh nhân khó chịu (kinh nghiệm trong kháng chiến Việt Nam và báo cáo của Chu Đình Sung, Trương Xương Thiệu trong Trung Hoa y học tạp chí, 29: 137, 1943).
Năm 1956, các tác giả Ngô Vân Dực, Lưu Văn Phú và Kim Âm Xương đã báo cáo trong hội nghị sinh lý học lần thứ nhất của Trung Quốc về tác dụng chữa sổt rét và độc tính của thường sơn cũng công nhận các kết luận nói ở trên.
- Tác dụng chữa sốt. Năm 1935, Mã Văn Thiên đã báo cáo tiêm vào mạch máu 2ml trên 1kg thể trọng thỏ dung dịch 0,03% trực trùng côli để gây sốt rồi tiêm dưới da dung dịch 5% thường sơn (1ml tương đương với 1,67g nguyên liệu) với liều 0,5ml trên 1kg thể trọng thì thấy tác dụng hạ sốt rất rõ: Nhiệt độ đang lên cao hạ xuống nhiệt độ bình thường.
Cùng năm 1935, Kinh Lợi Bân và Lý Đăng Bảng cũng theo phương pháp trên xác nhận thường sơn có tác dụng giảm sốt, nhưng cả hai nhóm đều không thí nghiệm cho uống thuốc cho nên cũng chưa rõ cho uống thuốc thì tác dụng như thế nào.
Năm 1947 (Trung Hoa y học tạp chí, 33: 177), Trương Xương Thiệu và Hoàng Kỳ Chương cũng báo cáo thuốc thường sơn thô chế có tác dụng chữa sốt, nhưng ancaloit toàn bộ của thường sơn không có tác dụng chữa sốt.
- Tác dụng trên bộ máy tuần hoàn và hô hấp. Năm 1945, Hồ Thành Nhu và Lý Hồng Hiến (Nội khoa học báo 2: 840, 1950) báo cáo ancaloit của thường sơn có tác dụng hưng phấn đối với tim ếch và tim thỏ, nhưng chất R212 (monohydroclorit α dicroin) lại có tác dụng ức chế đối với tim ếch cô lập.
Năm 1945 Vương Tiến Anh, Phó Vĩnh Phong và Trương Xương Thiệu đã dùng ancaloit của thường sơn thí nghiệm trên chó đã gây mê thấy hô hấp hưng phấn và huyết áp hạ xuống (Dược học 1-2, 111-131, 1953).
Năm 1950, (Nội khoa 2,1-8) cũng báo cáo thấy kết quả như trên.
- Độc tính. Năm 1935, Mã Văn Thiên đã dùng cao rượu thường sơn chế thành dung dịch 1% trong nước tiêm dưới da chuột nhắt để thử độc tính, thì thấy với liều 0,2ml/10g thể trọng đa số chuột chết trong vòng 15-20 phút.
Năm 1947, Trương Xương Thiệu và Hoàng Kỳ Chương (Trung Hoa y học tạp chí 33, 177) báo cáo đã xác định nửa liều gây chết LD-50 của dicroin α, β, γ trên 1kg thể trọng của gà là 20mg, chuột nhắt là 18,5mg, gà nhỏ là 7,5mg, một giống gà nhỏ khác là 10mg.
Năm 1950, Diệm Phượng Cương đã báo cáo dùng chất có tinh thể chiết được từ rễ thường sơn và chất R212 để thí nghiệm tác dụng chữa sốt rét thì thấy trong quá trình nghiên cứu với liều 10mg trên 1kg thể trọng gà hay quá liều đó thì đa số gà thí nghiệm bị chết. Dùng nước Ringer để pha chất R212 thành dung dịch 0,1% rồi thí nghiệm trên chó nhỏ và ếch thì thấy tiêm dưới da cho chó nhỏ với liều 1,5ml cho 1kg thể trọng, chó sẽ phát sinh nôn mửa, đi ỉa lỏng, phân tiết dạ dày và ruột tăng cường, nhu động cũng tăng cường, niêm mạc dạ dày và ruột xuất huyết, huyết áp hạ xuống, hô hấp nhanh lên, cuối cùng thì chết.
E. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thường sơn vị đắng, tính hàn, có độc, thục tất vị cay, tính bình có độc. Vào 3 kinh phế, tâm và can. Có tác dụng thổ đờm, triệt ngược, thanh nhiệt hành thuỷ. Dùng chữa sốt rét mới bị hay đã lâu ngày, lão đờm tích ẩm, dẫn tới đờm đi lên sinh nôn mửa.
Thường sơn là một vị thuốc được dùng từ lâu đời trong đông y để chữa bệnh sốt rét (sốt rét thường hay sốt rét ác tính) rất có hiệu quả. Còn dùng chữa sốt thường. Tuy nhiên nhược điểm của thường sơn là gây nôn. Những ancaloit lấy ra cũng gây nôn.
Trong nhân dân có nơi muốn bớt nôn cần rửa lá bằng rượu rồi mới dùng nhưng chúng tôi đã có dịp rửa rượu rồi mà vẫn gây xôn.
Thường khi dùng thường sơn phối hợp với nhiều vị thuốc khác ít nôn hơn.
Liều dùng trung bình: 6-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Đơn thuốc có thường sơn
- Thường sơn triệt ngược chữa các chứng sốt rét:
Thường sơn 6g, Binh lang 2g, thảo quả 1g, cát căn 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Theo kinh nghiệm hễ sốt rét nhiều rét ít thì người ta tăng liều cát căn lên tới 10g, ngược lại nếu rét nhiều sốt ít hơn, thì người ta tăng liều thảo quả lên tới 3-4g. Đơn thuốc này ít gây nôn.
- Thường sơn cam thảo thang:
Chữa sốt rét và sốt thường: Thường sơn (rễ) 10g, cam thảo 3g, nước 600ml. sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Đơn này dễ gây nôn.
- Cao thường sơn chữa sốt rét:
Thường sơn (rễ) 12g, bình lang 12g, miết giáp 12g, ô mai 3 quả, táo đen 3 quả, cam thảo 3 nhát (miếng), sinh khương 3 miếng. Thêm nước vào sắc kỹ, lọc và cô đặc còn 3g. Người lớn ngày uống 1-2 lần, mỗi lần 3g. Toàn liều điều trị chừng 12-18g là khỏi. Không gây nôn.
Chú thích:
Ngoài vị thường sơn nói trên đây, trong nhân dân ta và nhân dân Trung Quốc còn dùng nhiều vị khác thuộc cùng họ thực vật hay thuộc họ thực vật khác hẳn với tên thường sơn.
Xin kể sau đây để chú ý phân biệt và tránh nhầm lẫn:
- Cây thổ thường sơn-Hydrangea thunbergii sieb, hoặc Hydrangea aspera Don. Cùng thuộc họ Thường sơn Saxifragaceae.
Cây này chưa thấy ở Việt Nam. Người ta dùng lá. Trong lá có chất ngọt phellodulxin C₁₀H₁₄O₅. Dùng cho thuốc dễ uống, làm lợi tiểu, trong bệnh đường tiện.
-
Cây tử thường sơn (Thường sơn tím)-Hydrangea sp, cùng họ, chưa thấy tài liệu nghiên cứu, cũng chưa thấy ở Việt Nam.
-
Cây thường sơn Nhật Bản-Orixajaponica Thunb. Thuộc họ Cam Rutaceae. Cây này cũng chưa thấy ở Việt Nam. Chủ yếu người ta dùng rễ, nhưng cũng có khi dùng cả lá và thân. Trong rễ thường sơn Nhật Bản, ngưòi ta lấy được ancaloit gọi là orixin C₁₈H₂₃O₆N, orixidin C₁₅H₁₃O₄N, chất isoorixin và kokusagin C₁₃H₉NO₆; trong lá có 0,01% tinh dầu, trong đó có camphen C₁₀H₁₆ và linalol.
Rễ dùng chữa ho, sốt, gây nôn, sốt rét. Dùng ngoài đắp những chỗ bị trúng độc. Lá dùng sát lên mình trâu bò để chữa trừ ve, bọ.
-
Hải châu thường sơn-Clerodendron trichotomum Thunb. Thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae, còn gọi là xú Ngô đồng (xem vị này). Người ta dùng rễ, lá sắc uống chữa sốt rét, cao huyết áp kết quả rõ rệt. Thân và lá sắc dùng tắm trâu bò khỏi bị ve, bọ.
-
Bạch thường sơn-Mussaenda divaricata Hutch. Thuộc họ Cà phê Rubiaceae. Cây này chưa thấy có trong nước ta, nhưng nhân dân một số nơi dùng cây bướm bạc hay bướm bướm- Mussaenda cambodiana Pierre mọc ở nước ta, cùng họ. Hoa có tác dụng thông tiểu tiện, chữa ho, hen, sốt rét.
-
Sơn thường sơn (Thường sơn núi)-Berberis vulgaris L. Thuộc họ Hoàng liên gai Berberidaceae. Cây này chưa thấy ở nước ta. Hoạt chất là becberin. Cũng dùng chữa sốt rét.
-
Hợp tác xã thuốc dân tộc Hà Nội dùng cây Phlogacanthus turgidus Nicholson họ Ồrô Acanthaceae với tên thường sơn. Cây này còn có tên khác là Meninia turgida Hook. Có tác giả lại xác định là cây dóng xanh Gendarussa ventricosa (Wall.) Nees. Chưa thấy nghiên cứu.
TÍA TÔ 紫蘇
Còn gọi là tử tô, tử tô tử, tô ngạnh.
Tên khoa học Perilla ocymoides L. [Perilla nankinensis (Lour.) Decne, Perilla frutescens (L.) Breit].
Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae.).
Ngoài công dụng làm gia vị, cây tía tô cho các vị thuốc sau đây:
-
Tử tô tử (tố tử, hắc tô tử-Fructus Perillae) là quả chín phơi hay sấy khô (ta gọi nhầm là hạt) của cây tía tô.
-
Tử tô (Herba Perilae) là cành non có mang lá của cây tía tô phơi hay sấy khô.
-
Tử tô diệp-Folium Perillae là lá phơi hay sấy khô.
-
Tô ngạnh (Tử tô ngạnh-Caulis Perillae) là cành non hoặc cành già phơi hay sấy khô.
A. Mô tả cây
Tía tô là một loại cỏ mọc hằng năm, cao chừng 0,5-1,5cm. Thân thẳng đứng có lông. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mép có răng cưa to; phiến lá dài 4-12cm rộng 2,50-10cm, màu tím hoặc xanh tím, trên có lông màu tím. Người ta phân biệt thứ tía tô có lá màu tím hung là Perilla ocymoides var. purpurascens và thứ tía tô có lá màu lục, chỉ có gân màu hung (Perilla ocymoides var.bicolor). Cuống lá ngắn 2-3cm. Hoa nhỏ, màu trắng hoăc tím nhạt, mọc thành từng chùm ở kẽ lá hay đầu cành, chùm dài 6-20cm. Quả là hạch nhỏ, hình cầu, đường kính 1mm, màu nâu nhạt, có mạng (Hình 501, Hm 39,2).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 501. Tía tô - Perilla ocymoides
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Tía tô được trồng ở khắp nơi ở Việt Nam để lấy lá ăn làm gia vị và làm thuốc. Trồng bằng hạt, chọn ở những cây to khoẻ, không có sâu bệnh. Thời kỳ gieo hạt tốt nhất là sau lập xuân vào tháng 1-2 dương lịch. Mỗi hecta cần chừng 20-30kg hạt giống.
Tuỳ theo mục đích trồng lấy lá hay lấy hạt, cách thu hoạch có thay đổi: Tía tô gieo vào tháng 1-2 thì tháng 3-4 đã có thể hái lá lần thứ nhất. Lúc hái chỉ nên hái lá già, sau đó ít lâu (một tháng sau) lại có thể hái một lần nữa. Sau lần thứ nhất, cần chăm sóc bằng cách tưới nước tiểu pha thêm nước lã, hay dùng khô dầu giã nhỏ, bón vào gốc sau khi xới đất cho nhỏ. Thông thường một cây chỉ hái 2-3 lần lá. Nếu cây tía tô sau khi hái lá cứ để nguyên, thì đến đầu mùa thu, quả sẽ già và hái được, nhưng thường những cây tía tô đã hái lá rất ít hạt hay hạt nhỏ và kém cho nên sau khi hái hết lá, người ta chặt cây, lấy đất trồng cây khác. Cành chặt ra dùng làm thuốc với tên tô ngạnh.
Những cây để lấy hạt làm giống hay làm thuốc thì không hái lá. Cây tía tô để lấy hạt, sau khi hạt đã già, cắt cả cành có hạt mang về phơi hay sấy khô trong mát (tránh phơi nắng to, hay sấy ở nhiệt độ cao hoạt chất sẽ giảm), rũ lấy hạt, bỏ cành và tạp chất.
Tiêu thụ nhiều nhất là lá. Lá hái về, cũng phải phơi khô trong mát hay sấy nhẹ độ để giữ lấy hương vị.
C. Thành phần hoá học
Trong toàn cây tía tô có chứa 0,50% tinh dầu, trong tinh dầu, thành phần chủ yếu là perilla andehyt C₁₀H₁₄O, (55%), limonen (20-30%), α-pinen và dihydrocumin C₁₀H₁₄O. Chất perilla andehyt có mùi thơm đặc biệt của tía tô, chất perilla andehyl anti-oxim ngọt gấp 2.000 lần đường, khó tan trong nước, đun nóng sẽ phân giải, có độc, cho nên không dùng làm chất điều vị được, nhưng có người dùng làm ngọt thuốc lá.
Chất màu trong lá tía tô là do este của chất xyanin clorit C₂₇H₃₁O₁₆Cl. Ngoài các chất trên, trong tía tô còn chứa adenin C₅H₅N₅ và acginin C₆H₁₄N₄O₂.
Trong hạt tía tô có 45-50% chất dầu lỏng, màu vàng, mùi và vị của dầu lanh (huilede lin), thuộc loại dầu khô, có chỉ số iôt vào loại cao nhất (206), chỉ sổ xà phòng 189,6 tỷ trọng 0,930. Hằng năm Nhật Bản và Triều Tiên trước đây sản xuất tới 60.000 tấn dầu này để quét lên dù làm cho dù không thấm nước hoặc quét lên loại giấy không thấm nước.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tía lô có vị cay, tính ôn, vào hai kinh phế và tỳ. Có tác dụng phát tán phong hàn, lý khí khoan hung; giải uất, hoá đờm, an thai, giải độc của cua cá. Cành không có tác dụng phát biểu, chỉ có tác dụng lý khí. Dùng chữa ngoại cảm phong hàn, nôn mửa, động thai, ngộ độc cua cá.
Thông thường lá tía tô (tô diệp) có tác dụng là cho ra mồ hôi, chữa ho, giúp sự tiêu hoá, giảm đau, giải độc, chữa cảm mạo, còn có tác dụng chữa bị ngộ độc nôn mửa, đau bụng do ăn cua cá.
Cành tía tô (tử tô tử) có tác dụng chữa ho trừ đờm, hen suyễn, tê thấp.
Liều dùng hàng ngày: Lá và hạt ngày uống 3-10g, cành ngày uống 6-20g dưới dạng thuốc sắc.
Dầu hạt tía tô: Ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản dùng trong kỹ nghệ vẽ trên đồ sứ, thực phẩm.
Đơn thuốc có tía tô
- Sâm tô ẩm: Chữa bệnh cảm mạo, sốt, nhức đầu, đau các khớp xương:
Lá tía tô, nhân sâm, trần bì, chỉ xác, cát cánh, cam thảo, mộc hương, bán hạ, can khương, tiền hồ mỗi vị 2g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
- Tử tô giải độc thang: Chữa trúng độc đau bụng do ăn phải cua cá:
Lá tía tô 10g, sinh khương 8g, sinh cam thảo 4g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày, uống khi thuốc còn đang nóng.
- Chữa sưng vú:
Tía tô 10g sắc lấy nước uống, bã đắp vào vú.
- Ăn phải cua hay cá mà trúng độc:
Giã lá tía tô tươi vắt lấy nước hoặc sắc lá khô (10g khô) uống nóng.
TIỀN HỒ 前胡
Còn gọi là quy nam (Lạng Sơn), tử hoa tiền hồ (Trung Quốc), thổ dương quy, sạ hương thái.
Tên khoa học Peucedanum decursivum Maxim, Angelica decursiva Franch et Savat.
Thuộc họ Hoa tán Umelliferae.
Tiền hồ (Radix Peucedani decursivi) là rễ phơi hay sấy khô của cây tiền hồ hay cây quy nam.
A. Mô tả cây
Cây thuộc thảo, cao 0,7-1,4m, mọc thẳng đứng, trên có phân nhánh trên thân có khía dọc. Lá ở gốc cây lớn, 1-2 lần xẻ lông chim, cuống dài 14-30cm, phiến lá chia thành thuỳ hình bầu dục có răng cưa to. Lá ở thân nhỏ, cuống ngắn có bẹ lá phồng và rộng. Lá ở phía không cuống hay thu lại còn bẹ lá. Cụm hoa tán kép. Hoa màu tím. Quả hình bầu dục, cụt ở hai đầu, 5-7mm, rộng 3-5mm. Phân liệt quả, có múi ở cạnh, khi chưa chín 2 phân liệt quả dính chặt vào nhau. Khi chín phân liệt quả nở tung ra, có dìa rộng và hơi dày (Hình 502).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 520. Tiền hồ - Peucedanum decursivum
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Hiện nay mới phát hiện thấy có nhiều ở Đồng Đăng (Lạng Sơn), ở đây người ta thu mua với tên Quy nam. Có người lại gọi nhầm nó là độc hoạt hay khương hoạt.
Thực ra độc hoạt và khương hoạt là rễ những cây khác.
Vào mùa thu, đông hay mùa xuân, đào lấy rễ về, rửa sạch đất, phơi hay sấy khô là được.
Tại Trung Quốc, tiền hồ mọc ở Thiểm Tây, Quảng Châu, Hàng Châu, An Huy. Thiểm Tây, Hàng Châu được coi là nơi tiền hồ tốt nhất. Tại Trung Quốc, còn khai thác rễ một cây khác gọi là bạch hoa tiền hồ (tiền hồ hoa tráng) Peucedanum praeruptorum Dunn cùng họ Hoa tán. Cây này có hoa trắng và chưa thấy ở Viêt Nam, cũng thấy ở Thiểm Tây, Quảng Tây, Phúc Kiến, An Huy, Trung Quốc.
C. Thành phần hoá học
Trong tiền hồ, người ta phân tích thấy có chất glucozit gọi là nodakenin có công thức C₂₀H₂₄O₉, tinh dầu, tanin, spongosterola.
Chất nodakenin, khi thuỷ phân sẽ cho nodakenitin hay nodagenin và glucoza.
Nodakenin có độ chảy 215°C, tan trong nước lạnh, cồn, axit axetic, không tan trong ête, dầu hoả, benzen.
Nodakentin có độ chảy 185°C.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0667.jpg]
Nodakenitin
D. Tác dụng dược lý
Theo Cao ứng Đẩu và Chu Thọ Bành (1954, Trung Hoa y học tạp chí, 5) thí nghiệm trên mèo gây mê thì tiền hồ có tác dụng trừ đờm.
Nhưng Hoàng Khánh Chương (1954, Trung Hoa y học tạp chí, II) gây ho cho mèo bằng cách tiêm dung dịch 1% iôt vào dưới sườn, sau đó cho uống nước sắc tiền hồ 0,8-2g cho 1kg thể trọng, thì không thấy có tác dụng trừ ho rõ rệt.
E. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tiền hồ có vị đắng, cay, tính hơi hàn, vào hai kinh phế và tỳ. Có tác dụng tuyên tán phong nhiệt, hạ khí chỉ ho, tiêu đờm. Dùng chữa phong nhiệt sinh ho, đờm đặc, xuyễn tức. Không thực nhiệt, ngoại cảm không dùng được.
Thường tiền hồ là một vị thuốc chữa ho, trừ đờm. Ngoài ra còn là một vị thuốc chữa sốt, giảm đau dùng trong trường hợp cảm mạo, sốt nóng, đầu nhức.
Liều dùng 9-15g dưới dạng thuốc sắc chia làm 2-3 lần uống trong ngày.
Đơn thuốc có tiền hồ
Chữa viêm khí quản, đờm không tiết ra được:
Tiền hồ 10g, tang bạch bì 10g, đào nhân 10g, khoản đông hoa 8g, bổi mẫu 10g, cát cánh 5g, cam thảo 3g, nước 600ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. (Đơn thuốc kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền).
TRÚC NHỰ 竹茹
Còn gọi là trúc nhị thanh, đạm trúc nhự.
Tên khoa học Caulis Bambusae in Taeniis.
Trúc nhự là vị thuốc chế bằng cách cạo vỏ xanh của cây tre (Bambusa sp.), cây vầu (Phyllostachys sp.) và nhiều loại tre bương khác thuộc họ Lúa Graminae, sau đó cạo lớp thân thành từng mảnh mỏng hay sợi mỏng, rồi phơi hay sấy khô.
A. Mô tả cây
Cây tre là mộc cây có thân rễ ngầm, sống lâu, mọc ra những chồi gọi là măng ăn được. Thân rạ hoá mộc có thể cao tới 10-18m, ít phân nhánh, rỗng trừ ở các mấu. Mỗi cây có chừng 30 đốt hay hơn. Lá có cuống dài chừng 5mm, phiến lá hình mác dài 7-16cm, rộng l-2cm, mép nguyên, trên có gân song song, màu xanh nhạt.
Cây tre cả đời chỉ ra hoa kết quả một lần. Hoa có 6 nhị. Sau khi ra hoa kết quả cây sẽ chết. Cho nên nhiều người thấy cây tre nhà mình ra hoa thì cho là độc. Sự thực đó chỉ là một hiện tượng sinh lý bình thường của cây tre.
Tre vầu có nhiều loại như tre la ngà Bambusa blumeana Sch., cây hóp Bambusa multiplex Roeusch. v.v… đều là cây tre. Tại Trung Quốc, người ta dùng một loại vầu gọi là Phyllostachys nigra var. henonis Miff.) Staffa. ex Rendle thuộc cùng họ (Hình 503).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 503. Trúc nhự - Phyllostachys sp
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây tre mọc hoang và được trồng để lấy thân làm nhà, đan lát, lá dùng cho ngựa ăn hay làm thuốc.
Muốn có trúc nhự có thể lấy thân cây tre, cưa thành từng đoạn bỏ đốt, sau đó cạo bỏ vỏ xanh, rồi cạo lấy lớp ở dưới gọi là nhị thanh trúc nhự được coi là tốt nhất; sau lớp này có thể cạo lớp trắng vàng thành dải nữa nhưng người ta cho là chất lượng kém hơn. Có thể thu hoạch quan năm, nhưng người ta cho hái vào thu đông tốt hơn cả.
Lá tre cũng dùng làm thuốc: Hái tươi quanh năm.
C. Thành phần hoá học
Chưa được nghiên cứu. Chưa rõ hoạt chất là gì.
Năm 1958, hệ dược thuộc Viện y học Bắc Kinh Trung Quốc có nghiên cứu trúc nhự của Trung Quốc nhưng cũng chưa tìm thấy chất gì đặc biệt cả; không thấy có phản ứng của ancaloit, của glucozit hay tanin.
D. Công dụng và liều dùng
Trúc nhự là một vị thuốc được dùng trong nhân dân từ lâu đời. Nó được ghi trong bộ ‘‘Thần nông bản thảo” (bộ sách thuốc cổ nhất của Trung Quốc) và trong bộ Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh Việt Nam (thế kỷ 14).
Theo tính chất của trúc nhự ghi trong các sách cổ thì trúc nhự vị ngọt, tính hơi lạnh, vào 3 kinh phế, vị và can. Có tác dụng than nhiệt, lương huyết, trừ phiền, hết nôn, an thai. Dùng chữa vị nhiệt sinh nôn mửa, thượng tiêu phiền nhiệt, động thai. Thường dùng chữa sốt, buồn bực, nôn mửa, nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, thanh nhiệt, mát huyết.
Khi dùng thường tẩm nước gừng sao lên rồi mới dùng.
Ngày dùng 10 đến 20g dưới dạng thuốc sắc. Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác.
Chú thích:
Ngoài vị trúc nhự, cây tre, cây vầu còn cho ta vị trúc diệp là lá tre hay lá vầu non, còn cuộn tròn, có khi người ta còn gọi là trúc diệp quyền tâm (búp tre). Dùng tươi hay khô đều được, nhưng tươi thì tốt hơn. Dùng như trúc nhự hay có khi còn dùng nấu nước xông để giải cảm, giảm sốt (Hình 504).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 504. Trúc diệp - Bambusa sp
Theo tài liệu cổ trúc diệp vị cay, nhạt, ngọt tính hàn, vào 2 kinh tâm và phế. Có tác dụng thanh thượng tiêu, phiền nhiệt, tiêu đờm chữa ho. Dùng chữa sốt khát nước, ho, suyễn, thổ huyết, trẻ con kinh phong.
Trúc lịch Succus Bambusae là lấy cây tre tươi về nướng lên, vắt lấy nước; thường chọn những đoạn tre non cho nhiều nước hơn.Trúc lịch có tính chất ngọt, rất lạnh, không độc, có tác dụng chữa sốt, trừ đờm. Trúc lịch cũng được ghi trong Nam dược thần hiệu và Thân nông bản thảo. Trúc lịch thường được dùng chữa bệnh cảm gió không nói được (trúc lịch và nước gừng, hai vị bằng nhau cho uống), trẻ con sốt, mê man không nói được: Một bát trúc lịch, hâm nóng cho uống dần dần. Còn dùng trộn với sữa mẹ để nhỏ vào mắt trẻ con đau đỏ.
Theo tài liệu cổ trúc lịch vị ngọt, tính đại hàn. Vào 3 kinh tâm, vị và đại tràng. Có tác dụng hoạt đờm, thanh hoả, nhuận táo, chỉ khát. Dùng chữa trúng phang cấm khẩu, đờm mê đại nhiêt, điên cuồng, kinh phong.
Đơn thuốc có trúc nhự, trúc diệp dùng trong nhân dân
- Trúc diệp thạch cao thang:
Chữa triệu chứng sốt cấp tính, miệng khô khát (Đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh), trúc diệp 3g, thạch cao 12g, bán hạ 4g, nhân sâm 2g, cam thảo 1,5g, ngạnh mễ 7g, mạch môn đông 8g, nước 600ml. sắc còn 200ml, chia là 3 lần uống trong ngày.
- Chữa kinh nguyệt ra mãi không ngừng:
Trúc nhự sao qua tán nhỏ, mỗi lần dùng 12g, dùng nước nóng chiêu thuốc.
- Chữa cảm, phù:
Lá tre 30-50g sắc uống. Còn dùng rửa vết thương, trị viêm nhiễm.
XẠ CAN 射干
Còn gọi là cây rẻ quạt, la cho (Lang-biang), Iris ligré.
Tên khoa học Belamcanda sinensis (L) DC. (Pardanthus sinensis Ker., Ixia sinensis Murr.).
Thuộc họ Lay ơn Iridaceae.
Xạ can (Rhizoma Belamcandae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây rẻ quạt.
A. Mô tả cây
Xạ can là một loại cỏ sống dai, có thân rễ mọc bò. Thân có lá mọc thẳng đứng, có thể cao tới 1m. Lá hình mác, hơi có bẹ, dài 20-40cm, rộng 15-20cm. Cụm hoa dài 20-40cm, cuống gầy mềm. Hoa có cuống, bao hoa có 6 cánh màu vàng cam đỏ, điểm những đốm tía . Quả nang hình trứng, có 3 van, dài 23-25mm, hạt xanh đen, hình cầu bóng, đường kính 5mm (Hình 505).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 505. Xạ can - Belamcanda sinensis
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, nhiều nhất tại các vùng savan. có khi được trồng làm cảnh.
Còn mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Philipin.
Đào rễ và thân rễ vào mùa xuân hoặc mùa thu. Rửa sạch, cát bỏ rễ con phơi hay sấy khô, khi dùng, ngâm nước gạo một hai ngày cho mềm, thái mỏng phơi hay sấy khô mà dùng dần.
C. Thành phần hoá học
Trong xạ can, người ta đã chiết ra được một chất glucozit gọi là belamcandin C₂₄H₂₄O₁₂ và tectoridin C₂₂H₂₂O₁₁.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0670.jpg]
Có tác giả còn tìm thấy một glucozit khác gọi là iridin C₂₄H₂₈O₄ và shekanin (xạ can tố) với hiệu suất 0,05%.
Belamcandin thuỷ phân sẽ cho glucoza và belamcangenin.
Tectoridin thuỷ phân sẽ cho glucoza và tectorigenin (có tinh thể hình phiến, độ chảy 227-230°C).
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0671.jpg]
Tectorigenin
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ, xạ can có vị đắng, tính hàn, hơi độc, vào hai kinh can và phế. Có tác dụng thanh hỏa, giải độc, tán huyết, tiêu đờm. Dùng chữa yết hầu sưng đau, đờm nghẽn ở cổ họng. Phàm người tỳ vị hư hàn không dùng được.
Xạ can còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân.
Chủ yếu làm thuốc chữa viêm cổ họng, vùng amiđan bị sưng mủ, đau cổ. Nói chung xạ can đuợc coi là một vị thuốc quý chữa mọi bệnh về cổ họng.
Ngoài ra còn là một vị thuốc chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, sưng vú tắc tia sữa, chữa kinh nguyệt đau đớn, thuốc lọc máu. Có nơi còn dùng chữa rắn cắn: Nhai nuốt lấy nước, bã đắp lên nơi rắn cắn.
Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc. Hoặc giã củ tươi 10-20g với vài hạt muối, vắt lấy nước, ngậm nuốt dần. Bã đắp ở ngoài.
Đơn thuốc có xạ can
- Bài thuốc chữa tắc cổ họng:
Xạ can 4g, hoàng cầm 2g, sinh cam thảo 2g, cát cánh 2g. Các vị tán nhỏ, dùng nước lã đun sôi để nguội mà chiêu thuốc. Bài thuốc này có tên là “đoạt mệnh tán” nghĩa là cướp lại tính mệnh đã nguy cấp.
- Bài thuốc chữa các triệu chứng báng bụng to, nước óc ách, da đen xạm.
Xạ can tươi, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, hễ thấy lợi tiểu tiện thì thôi.
Bình luận