LỘC NHUNG, MÊ NHUNG 鹿茸
Còn gọi là nhung hươu, nhung nai.
Tên khoa học Cornu Cervi parvum.
Lộc nhung hay mê nhung (Cornu Cervi parvum) là sừng non của con hươu (lộc) Cervus nippon Temminck, hoặc con nai (mê) Cervus unicolor Cuv. đực được chế biến mà thành. Cả hai con đều thuộc ngành có xương sống Vertebrata, lớp có vú Mammalia, bộ có móng Artiodactyla, họ Hươu Cervidae.
Ta vẫn thường nói sâm, nhung, quế, phụ là 4 vị thuốc bổ đứng đầu dùng trong đông y.
Hay dùng nhất là sâm, nhung rồi đến quế và phụ tử. Phụ tử được coi là một vị thuốc “bổ dương” nhưng có độc cho nên nhiều người không dám dùng.
A. Mô tả con vật
Con hươu (Cervus nippon Temminck) thường cao 1m dài 0,90m-1,20m (hươu đực) hoặc chỉ cao 0,72m (hươu cái). Lông đẹp mịn màu đỏ hồng đốm trắng (Hình 711).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 711. Con hươu sao - Cervus nippon
Con nai (Cervus unicolor) to và mạnh hơn con hươu, lông cứng hơn, màu xám hoặc nâu, không có đốm (Hình 712).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 712. Nai - Cervus unicolor
Cả hai đều có chân dài, nhỏ, đuôi ngắn, 2 mắt to, dưới mắt có đốm đen.
Chỉ có con đực mới có sừng. Từ hai tuổi trở đi, hươu nai đực bắt đầu có sừng, nhưng thường hươu nai từ 3 tuổi trở đi sừng hoặc nhung mới tốt và mới thu hoạch. Hằng năm vào cuối mùa hạ, sừng hươu nai cũ sẽ rụng đi, xuân năm sau sẽ lại mọc sừng khác. Sừng non khi mới mọc dài 5-10cm, rất mềm. Mặt ngoài phủ đầy lông tơ màu nâu nhạt trong chứa rất nhiều mạch máu. Vì sừng non mềm và sờ mịn như nhung do đó có tên.
Mùa nhung của hươu vào tháng 2-3, của nai vào tháng 4-8 (Hình 710).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 710. Nhung hươu nai
Thường tháng 7-8 là mùa hươu nai giao cấu. Con cái có chửa 6 tháng, vào khoảng tháng 2-3 năm sau thì đẻ. Hươu nai sống từng đàn ở núi rừng, có khi ở cả đồng bằng. Nó ăn cỏ, quả cây, nhất là non. Nơi nào cày cấy nó thường đến, ban đêm không sợ người, thường xuống ruộng ăn lúa, ngô, đỗ cho nên săn hươu nai là một hình thức bảo vệ hoa màu.
B. Cắt nhung và chế biến
Thường người ta lấy nhung ở những con hươu nai sống hoang do săn bắn được (loại này được coi là quý và đắt nhất). Nhưng vì không đủ nhu cầu hoặc có khi săn bắn không được đúng lúc nhung đúng tuổi cho nên người ta nuôi hươu nai để lấy nhung.
Tại Liên Xô cũ, người ta đã chứng minh nhung của hươu nuôi cũng tốt không kém nhung của hươu sống tự nhiên. Một số tỉnh ở miền Viễn Đông Liên Xô cũ đã tổ chức những nông trường nuôi hươu để lấy nhung. Mỗi nông trường nuôi từ 2.000 đến 8.000 con.
Ở nước ta việc nuôi hươu chưa được phổ biến: Ở Nghệ An, Hà Tĩnh (Đô Lương, Anh Sơn, Hương Sơn và Hương Khê) có nhiều nhà nuôi 2-3 con đực, một con cái, con đực hàng năm cho nhung, con cái mỗi năm đẻ một lứa. Nuôi hươu bằng lá tre, lá mót, lá chuối, dây khoai lang, cây lúa , cây ngô non v.v… Dù sao do chăn nuôi chưa đúng được với điều kiện hươu sống tự nhiên cho nên ta vẫn còn quý nhung hươu nai săn bắn được hơn. Một cặp nhung săn bắn được trị giá gấp 2-3 lần cặp nhung nuôi. Do đó, có nhiều người nuôi hươu, muốn cho cặp nhung bán có giá trị, khi hươu đã già rồi, bắn chết hươu, cắt cả đầu đem đi bán nói là hươu bắn được.
Cưa nhung: ở nước ta thường làm như sau: vào tháng 2 tháng 3 khi cặp nhung đã đúng tuổi, người ta chọn 3-4 người mạnh khỏe, ôm cổ nắm chân hươu vật ngã hươu xuống, có khi dùng võng chụp hươu, nhưng chú ý không làm hỏng cặp nhung.
Sau khi trói kỹ 4 chân, dùng loại cưa, cưa lấy nhung từ chỗ cách đế nhung 3cm. Máu chảy ra được hứng lấy cho vào rượu uống. Nhung cũng chỉ nên lấy có chừng mực, để khỏi hại hươu. Muốn hãm cho máu không chảy nữa, người ta dùng mực tàu trộn với than gỗ cho đều rồi bôi vào chỗ cưa thì máu cầm ngay. Sau đó lấy miếng vải gạc hay vải thường thật sạch bọc lấy để ruồi muỗi khỏi đậu vào sinh dòi bọ.
Thường mỗi năm chỉ lấy được một cặp nhung, đặc biệt có khi hai cặp. Tại các nước khác, người ta hướng hươu đi theo một con đường vào bẫy. Hươu tụt xuống, đưa đầu sừng ra cho người ta cắt. Sau đó lại trở về chuồng rất nhẹ nhàng.
Chế nhung: Nhung cắt được cần chế biến ngay vì nhiều máu và chất thịt để lâu có thể bị thối và dòi bọ. Chế biến không cẩn thận như sấy nóng quá, nhung bị nứt ra, máu nhung tiết ra hết cũng kém giá trị.
Có nhiều cách chế nhung:
-
Đem cặp nhung ngâm vào rượu một đêm. Khi ngâm chú ý để chỗ cắt lên trên cho chất tốt trong nhung không ra hết vào rượu. Hôm sau, rang cát cho nóng vừa, để vào một cái ống ở giữa để cặp nhung, vẫn để chỗ cắt lên phía trên. Khi cát nguội, lại đổ ra thay cát mới rang vào. Mỗi lần thay cát lại nhúng nhung vào rượu cho rượu thấm vào. Cứ làm như vậy cho đến khi khô. Cất vào hộp có nắp kín trong có gạo rang hay vôi chưa tôi để giữ cho khô ráo. Có nơi người ta thay cát bằng gạo rang. Sau khi nhung khô, người ta dùng gạo đó nấu cháo.
-
Chỉ tẩm rượu vào nhung rồi sấy khô. Khô rồi lại tẩm rượu và sấy khô. Làm như vậy đến khi nhung khô kiệt là được. Nếu làm không cẩn thận nhung có thể bị nứt, máu chảy ra mất, kém giá trị.
Thường công việc chế biến nhung đòi hỏi 2-3 ngày. Một cặp nhung nặng 800g, khi khô chỉ còn chừng 250g.
Trước khi đem dùng còn cần phải bỏ hết lông đi nữa. Muốn vậy, người ta nung một cái dùi sắt hay miếng sắt cho đỏ lăn xung quanh cho cháy hết lông. Sau đây chúng tôi cũng giới thiệu sơ lược cách cắt và chế nhung được các nhà bào chế Trung Quốc áp dụng và giới thiệu trong Trung dược chí, 1961:
Hươu 2 tuổi bắt đầu có nhung, nhưng chỉ cắt nhung khi hươu được 3 tuổi. Có loại hươu cho 2 lần nhung một năm. Lần cắt nhung thứ nhất tiến hành 45-50 ngày sau tiết thanh minh; 50- 60 ngày sau khi cắt lần thứ nhất (tương ứng với trước hay sau ngày lập thu) thì cất lần thứ hai. Khi cắt nhung thì dùng dây trói hươu treo cao khỏi mặt đất. Dùng cưa, cưa thật nhanh. Sau khi cưa đắp thuốc bột “thân lý tán” hoặc “ngọc chân tán” để cầm máu, sau đó buộc vải dầu rồi lại thả hươu về chuồng. Trong nhung cưa ra có nhiều máu, cho nên cần chế biến sớm cho khỏi thối. Trước hết nhặt bỏ các chất bẩn bao quanh nhung đi, sau đó lấy dây buộc chặt đầu cưa lại, để dây buộc dài ra để có thể cầm dây giữ lấy nhung được. Cho đầu nhung cắt vào nồi nước sôi 3-4 lần, mỗi lần 15-20 phút. Cho đến khi có bọt ở miệng cắt và nhung có mùi lòng đỏ trứng gà luộc chín thì thôi. Thời gian chế biến như vậy hết 2-3 giờ. Sau đó phơi hoặc sấy khô. Ngày hôm sau lại làm như vậy. Sấy ở nhiệt độ 70-80° trong vòng 2-3 giờ, rồi lấy ra. Làm như vậy 2-3 lần cho thật khô là được.
Một số tài liệu Trung Quốc khác giới thiệu còn cầu kỳ phức tạp hơn nữa, những cách đó chúng tôi chưa hề thấy áp dụng ở Việt Nam cho nên không nêu lên ở đây.
Phẩm chất của nhung:
Huyết nhung được coi là loại nhung quý nhất: Nhung ngắn, mềm, mọng máu, chưa phân nhánh.
Nhung yên ngựa là loại sừng non bắt đầu phân nhánh nhưng nhánh còn ngắn, chỗ phân nhánh bên dài bên ngắn trông giống yên con ngựa. Loại này người ta cũng rất quý vì cho rằng nhung đã phát triển đầy đủ mà chưa thành sừng. Nếu đợi quá ít nữa, một phần đã thành sừng thì kém giá trị.
Ngoài Việt nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên là những nước có kinh nghiệm lâu đời dùng nhung ra, một số dân tộc ở Liên Xô cũ cũng dùng nhung. Trên cơ sở kinh nghiệm sử dụng trong nhân dân, các nhà bác học Liên Xô cũ đã nghiên cứu và đã đưa nhung vào danh mục các vị thuốc được chính phủ công nhận cho sản xuất và lưu hành. Một số nông trường nuôi hươu để lấy nhung làm thuốc. Hươu nai nuôi ở đây gồm nhiều loài khác nhau.
C. Thành phần hóa học của nhung
Trong nhung hươu nai người ta đã phân tích được các chất canxi photphat, canxi cacbonat, chất protit, chất keo (nhưng trong thuốc rượu nhung hoặc thuốc tiêm chế từ nhung thường không có hay ít các chất này).
Nhà bác học Liên Xô cũ Pavơlencô đã lấy từ nhung các loại hươu nai ở Xibêri một chất nội tiết gọi là “lộc nhung tinh” pantocrin, rồi chế thành thuốc uống hay tiêm mang tên pantocrin.
D. Tác dụng dược lý
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà bác học Liên Xô cũ thì tác dụng điều trị của pantocrin rất cao: Nó làm tăng sức mạnh của cơ thể, giảm sự mỏi mệt của cơ tim, làm những vết thương bên ngoài, nhất là các mụn nhọt có mủ mau lành.
Những người dùng các thuốc chế từ nhung thấy trong người khoan khoái, sức làm việc được nâng cao, muốn ăn. Những người có bệnh về ruột, dạ dày dùng nhung cũng có kết quả tốt.
Trong báo Y học Liên Xô tháng 2-1954, Rêxétnicôva A. D có giới thiệu tác dụng của lộc nhung như sau:
Lộc nhung có tác dụng tốt đối với toàn thân, nâng cao năng lượng công tác, bệnh nhân ăn ngủ tốt hơn, hiện tượng mệt mỏi giảm bớt, những vết thương chóng lành, tăng sức lợi niệu, tăng nhu động ruột và dạ dày, ảnh hưởng tốt đến chuyển hóa các chất prôtit và gluxit.
Liều lượng khác nhau của lộc nhung có tác dụng khác nhau đối với mạch máu tim: Liều dùng lớn gây hạ huyết áp, biên độ co bóp của tim tăng, tim đập nhanh; kết quả làm cho lượng huyết do tim phát ra cũng tăng lên. Hiện tượng này nhận xét trên tim đã mỏi mệt rồi lại càng rõ rệt.
E. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ, lộc nhung có vị ngọt, tính ôn, lộc giác có vị mặn tính ôn, cao ban long vị ngọt, mặn, tính hơi ôn. Cả ba vị vào 4 kinh thận, can, tâm và tâm bào. Lộc nhung có tác dụng sinh tinh, bổ tủy ích huyết; lộc giác có tác dụng tán ứ, hoạt huyết, tiêu thũng; cao ban long có tác dụng ích huyết, bổ tinh, ôn bổ can và thận. Lộc nhung được dùng trong mọi trường hợp hư tổn trong cơ thể, nam giới hư hao, tinh kém, hoa mắt, hoạt tinh; nữ giới băng lậu, đới hạ; lộc giác dùng chữa sang thương thũng độc; cao ban long dùng chữa hư lao gầy yếu, lưng gối không có lực, mọi chứng do dương hư đưa tới thổ ra máu, máu cam, tác dụng nói chung giống nhung hươu nhưng hơi chậm hơn.
Những người âm hư mà hỏa dương mạnh thì không dùng được.
Hiện nay, lộc nhung được Nga chế thành thuốc uống và thuốc tiêm với tên gọi pantocrin dùng làm thuốc bổ, chữa mệt mỏi, làm việc quá sức, huyết áp thấp, cơ tim yếu, sau khi ốm khỏi. Pantocrin được trình bày dưới hình thức lọ 30- 50ml (để uống) hoặc ống tiêm 1ml (để tiêm dưới da hay bắp thịt). Những thuốc này cần giữ ở nơi mát, và không có ánh sáng.
Liểu dùng uống: Ngày 2 hay 3 lần, mỗi lần 30 đến 40 giọt, uống trước khi ăn cơm.
Liều tiêm: Ngày tiêm 1-2 ống.
Trẻ con tùy theo tuổi mà thay đổi liều lượng, thường mỗi kg thể trọng 1 giọt; mỗi ngày uống 2 lần, uống liên tiếp 15-26 ngày một liều điều trị. Thời gian điều trị: 2 đến 3 tuần lẻ.
Không dùng được đối với những người cao huyết áp, đi ỉa lỏng, tim hẹp, máu có độ đông cao, viêm thận nặng. Thường sau khi uống hoặc tiêm 6-8 ngày, kết quả đã thể hiện rõ rệt. Sau khi nghỉ thuốc 1-2 tháng vẫn còn tác dụng. Có thể tán bột hay ngâm rượu mà uống. Người lớn ngày uống 2-3 lần, mỗi lần uống 0,30-1g.
Đơn thuốc có lộc nhung dùng trong nhân dân
- Chữa liệt dương, tiểu tiện vặt, sắc mặt thường đen sạm:
Nhung 40g cạo sạch lông, cắt thái mỏng, giã nát, hoài sơn 48g giã nát. Cả hai vị trộn đều cho vào một túi vải; ngâm trong 1 lít rượu trong 7 ngày. Người lớn ngày uống 10-20ml rượu này. Khi hết rượu lấy bã còn lại làm thành viên mà uống.
- Chữa các triệu trứng tinh huyết khô kiệt tai điếc miệng khát, lưng đau, đi tiểu đục như nước gạo:
Nhung 40g, đương quy 40g, cả hai vị sao khô tán bột. Lấy thịt ô mai nấu thành cao trộn với bột trên làm thành viên bằng hạt ngô.
Người lớn: Ngày uống 50 viên, chia làm 2-3 lần uống với nước cơm còn âm ấm.
Chú thích
Hươu bao tử, lộc thai (Embryo Cervi).
Ngoài nhung ra, người ta còn dùng cả con hươu hay nai con trong bụng của con cái đang có thai. Khi đi săn vào tháng 1-2 âm lịch, nếu bắn được hươu cái thường hay gặp hươu bao tử. Tùy theo săn được khi hươu sắp đẻ hay khi hươu mới có thai mà ta có hươu bao tử to nhỏ khác nhau.
Hươu bao tử lấy được đem sấy khô tán bột dùng hoặc ngâm với rượu mà uống.
Ngày uống 2-4g bột.
Công dụng cũng như nhung hoặc như cao ban long.
Những bộ phận khác của hươu nai cũng được dùng làm thuốc
-
Lộc giác giao-Xem vị cao ban long.
-
Lộc giác-lộc giác sương: Xem vị lộc giác.
-
Lộc thận-lộc tiên-Penis et Testis Cervi.
Đây là dương vật và bừu dương vật của con hươu hay nai sấy khô.
Theo đông y, lộc thận hay lộc tiên “bổ thận tráng dương ôn trung, yên tạng”.
- Lộc cân-Ligamentum Cervi. Đây là gân ở 4 chân con hươu hay nai. Lấy chân hươu nai loại bỏ xương thịt, da; chỉ còn gân, và móng chân.
Theo đông y, lộc cân bổ gân xương, giúp cho các chỗ gẫy đứt chóng lành.
-
Lộc vĩ-Cauda Cervi. Lộc vĩ là đuôi con hươu, nai phơi hay sấy khô, lộc vĩ được dùng làm thuốc bổ chung chung.
-
Lộc huyết-Sanguis Cervi. Huyết hươu nai phơi khô chữa bệnh liệt dương ích tinh khí trừ độc của thuốc hay thức ăn.
LỘC GIÁC 鹿角
Còn gọi gạc hươu nai.
Tên khoa học Cornu Cervi.
A. Nguồn gốc
Gạc hươu nai là nhung để già, cứng lên thành gạc hay sừng (xem mô tả con vật ở vị lộc nhung). Hàng năm vào cuối hạ, hươu nai cọ đầu vào cây cho sừng rụng. Trong gạc hươu nai, huyết đã khô kiệt, có khi còn da bọc, có khi hết cả da, chỉ còn trơ gạc sáng bóng, màu vàng hay hơi đỏ hoặc trắng ngà. Phần dưới to có nhiều u nhỏ tròn nổi lên, phần trên nhẵn và nhọn.
Có người thường căn cứ vào số nhánh và kích thước, màu sắc để phân biệt gạc hươu với gạc nai: Gạc hươu có 3 hoặc 4 nhánh, dài 30-50cm, đường kính chừng 3cm, chất mịn và rắn, cứng chắc, u tròn cách nhau, màu gạc đỏ nâu. Gạc nai cũng giống gạc hươu nhưng thường to và dài hơn: đường kính chừng 3-6cm, dài 50-60cm, chia 3-6 nhánh, màu tro nâu hoặc tro vàng, u không rõ, thường chạy dài (Hình 713).
[]
Cả 2 loại, khi bẻ, vết bẻ màu trắng, giữa có màu tro, tủy hẹp. Nếu tủy rộng là gạc nhẹ, xấu.
B. Phân loại gạc
Gạc lấy ở những con hươu nai săn bắn được hoặc do đến mùa nó tự rụng, vào các tháng 6 tháng 8 người ta vào rừng để nhặt.
Gạc lấy ở những con hươu nai còn sống được coi là tốt hơn: Nó còn liền với xương đầu, thường gọi là gạc bao bì liên tảng (còn cả da và xương đầu) hay không còn da đầu nhưng gạc dính cả xương đầu thì gọi là gạc liên tảng.
Gạc tự rụng, nhặt ở rừng về thuộc loại kém. Trong loại gạc này, người ta thường phân biệt ra: Gạc còn phần đế dài, màu gạc trắng ngà được coi như đứng đầu trong loại gạc tự rụng, sau đó đến loại gạc tự rụng nhưng không còn đế, đế lõm vào màu sắc trắng nhợt là loại kém.
Khi dùng gạc, người ta thường cưa thành từng khúc ngắn, tẩm với mật sao vàng, tán nhỏ. Có khi người ta cưa thành khúc ngắn, dùng than đốt qua, tán nhỏ mới dùng.
Từ lộc giác có thể chế thành cao ban long và lộc giác sương.
Cao ban long: Xem vị cao ban long.
Lộc giác sương: Cornu Cervi degelatinatum. Có 2 loại lộc giác sương.
Lộc giác sương theo lối Nhật Bản. Sừng hươu nai đốt cho đen (hắc thiên) rồi tán nhỏ.
Lộc giác sương của Trung Quốc và Việt Nam là sừng hươu còn lại sau khi đã nấu cao ban long rồi phơi khô tán nhỏ. Loại này có khi người ta vẫn đổ bỏ đi hay để bón cây.
C. Thành phần hóa học
Trong gạc hươu nai có khoảng 25% chất keo (keratin), 50-60% canxi phophát, can-xi cacbonát, một ít chất đạm và ít nước.
Trong lộc giác sương tỷ lệ chất keo mất hẳn hoặc còn rất ít.
D. Công dụng và liều dùng
Trước đây ở châu Âu cũng có dùng sừng hươu nai làm thuốc, nhưng sau vì hiếm, khó tìm và có những vị khác thay thế được cho nên không dùng nữa.
Trong đông y (Trung Quốc và Việt Nam) lộc giác được coi là vị thuốc bổ dùng trong các trường hợp mệt nhọc, thần kinh suy nhược, làm cho máu chạy điều hòa, chữa khớp xương bị sưng phù, mụn nhọt độc.
Liều dùng của lộc giác: Ngày uống 4-12g, chiêu thuốc bằng nước thường hay nước gừng.
Lộc giác sương được dùng trong đông y để điều trị các bệnh ho, ho lao, tiểu tiện ra huyết, đi tiểu ra tinh dịch (niệu tinh) mụn nhọt.
Liều dùng: Ngày uống 5-10g dưới dạng thuốc bột, thuốc viên hoặc thuốc sắc.
Đơn thuốc có lộc giác và lộc giác sương dùng trong nhân dân
- Chữa nhọt mọc ở sau lưng (hậu bối), ở vú, ở các nơi khác:
Lộc giác đốt ra than, hòa với dấm bôi vào.
- Chữa gân xương đau nhức:
Lộc giác thiên tồn tính (ra than còn màu đen) tán nhỏ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 g.
- Phụ nữ bị khí hư, bạch đới:
Lộc giác sao vàng, tán nhỏ. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g. Nếu uống được rượu thì dùng rượu mà chiêu thuốc.
CAO BAN LONG 鹿角膠
Còn gọi là lộc giác giao.
Tên khoa học Colla Cornus Cervi.
Cao ban long chế bằng cách nấu gạc với nước rồi cô đặc lại, ban là đốm, long là rồng. Rồng là một con vật quý. Ý nói cao chế từ con vật quý có đốm.
A. Cách bào chế cao ban long
Việc nấu cao ban long trước đây thường do một số thợ chuyên môn tiến hành. Những người này thường có đủ đồ dùng để nấu cao ban long.
-
Một thạp lớn bằng đất nung, tráng men ở trong, cao 40-50cm, rộng 30-35cm sức chứa 35-40kg sừng hươu nai (tức là khoảng 5 yến ta; một yến ta =6,40kg). Khi chọn thạp cần chú ý chọn thạp chịu được lửa, không dò, nứt. Hiện nay ta dùng những nồi bằng nhôm, sức chứa lớn hơn.
-
Một, hai cái cưa nhỏ để cưa sừng.
-
Vài cái nạo bằng sắt để nạo sừng.
-
Rọ bằng tre đan chiều cao bằng chiều cao của thạp nấu hoặc nồi nấu.
-
Gáo để múc có kích thước nhỏ hơn miệng ống tre.
-
Đũa tre bẹt to như chiếc bơi chèo để khuấy, thường là 2 chiếc.
-
Chảo đồng lớn một chiếc.
-
Khăn vải mỏng để lọc 3 chiếc.
-
Nồi hay thùng thiếc để đun nước sôi.
-
Khay hay hộp hoặc mâm đồng để đổ cao.
Trên đây là dụng vụ cần thiết để nấu một mẻ 35-40kg sừng. Muốn nấu nhiểu thì tăng số dụng cụ lên.
Hiện nay do việc nấu tập trung tại xí nghiệp lớn cho nên có đôi chút thay đổi.
Trước khi bắt tay vào chuẩn bị nấu, cần đắp bếp. Thường để đun một thạp, cần có 3 miệng lò: Lò chính giữa để thạp nấu gạc, một lò bên đun nồi nước sôi để có nước sôi tiếp tục thêm vào thạp gạc, một lò bên nữa để bắc chảo dùng để cô cao. Có thể là một bếp chính có 2 lỗ thông sang 2 bên. Các lỗ này có cửa để đóng lại khi chưa nấu tới.
Chọn sừng: Thường người ta chọn những loại sừng to, nặng 0,8-1kg mỗi sừng, mặt ngoài sừng có màu vàng đỏ là tốt. Những loại khác cho hiệu suất kém và chất lượng cũng kém.
Chuẩn bị sừng: Để nấu một thạp thường người ta cần:
Sừng hươu nai 36-40kg
Rượu ta (35-40°) 5 lít
Nước thường vừa đủ.
Đem chất sừng thành một đống, thường xuyên tưới nước cho thật ẩm ướt hoặc dùng bao tải sạch dấp nước đắp lên cho nước thấm vào sừng. Thường làm như vậy một đêm để vỏ ngoài của sừng được mềm.
Sáng hôm sau, đem cạo hết lớp cỏ đốm đen ở ngoài sừng. Muốn như vậy, cho 4-5 cái sừng dựng đứng vào một vại nước lã. Khi dựng chú ý để đế sừng ở phía trên nước cho chỉ phủ ngập sừng, không ngập đế, tránh nước bẩn rút vào trong sừng.
Lấy ra từng cái một, cạo sạch vỏ đen vàng bên ngoài, cho đến khi chỉ còn xương trắng toát là được.
Cạo xong đem cưa thành từng khúc dài 5- 6cm trừ bỏ đế và xương trán. Sau đó dùng dao chẻ thành từng miếng nhỏ. Mỗi khúc gạc chẻ thành 4-5 mảnh hay 8 mảnh tùy theo to nhỏ. Những miếng gạc có tủy đen thì chẻ bỏ đi, chỉ lấy những miếng có tủy trắng và vàng.
Chẻ xong cho vào rổ (rá) rửa sạch 2-3 lần bằng nước lã, rồi phơi cho thật khô; ngày phơi nắng, tối phơi sương. Sau 2-3 ngày gạc trắng đẹp thì cho vào nấu.
Nấu cao: Cho gạc phơi khô vào thạp, với 5 lít rượu trộn đều. Đậy kín thạp. Cứ nửa giờ lại trộn một lần. Chừng sau 3 giờ sẽ bắt đầu nấu. Chưa rõ tại sao lại phải trộn với rượu.
Trước khi cho gạc vào thạp để nấu, cần để rọ tre đan vào giữa thạp, gạc hươu đã chẻ nhỏ xếp chung quanh, xếp như vậy để vừa nấu, vừa có thể múc nước cao ra được.
Khi cưa gạc, có thứ bột cưa ra cũng đừng bỏ đi. Ta gói vào một túi vải, tưới rượu vào, ủ chung với gạc, sau đó buộc túi chặt lại cho vào nấu chung với gạc.
Sau khi nhóm lửa, bắc thạp lên lò, đổ nước vào cho đủ ngập gạc chừng 7-10cm; một lò bên cạnh để đun thùng nước sôi, khi thạp cao bị cạn thì cho thêm nước sôi vào. Đun cho đều lửa để giữ cho sôi đều. Sau một ngày một đêm, có cạn cũng không cho thêm nước nữa. Hai giờ sau ta sẽ múc nước đầu ra gọi là nước nhất (ví dụ bắt đầu đun 6 giờ sáng hôm nay đến 8 giờ sáng hôm sau bất đầu múc nước nhất). Nước múc ra được lọc qua miếng vải lọc đặt trên chiếc phên đan bằng tre. Nước lọc hứng vào một chảo đồng to, đặt ở miệng lò thứ 2. Giữ ngọn lửa nhỏ đều (gọi là lửa văn) để cô đặc. Khi cô dùng đũa tre to quấy đều cho tới khi đưa thanh tre lên thổi vài ba hơi, thấy cao đóng cục không chảy nữa là được. Đổ chỗ cao này vào cái khay đã bôi mỡ cho khỏi sát.
Trong khi đun nước nhất này có khi người ta cho vào chỗ rọ tre đan vài quả trứng gà. Quả trứng này chín sẽ đen lại và rút vào trứng một số chất bổ của cao, như vậy chất lượng của cao sẽ kém đi.
Sau khi múc hết nước, lại đổ nước sôi vào thạp cho ngập nước gạc như trước và tiếp tục đun trong 24 giờ như trên, múc ra lọc và cô lại sẽ được cao của nước nhì.
Nước nhất và nước nhì khi cô, nên lấy hơi non, nghĩa là chưa cần đặc lắm.
Vải lọc và phên tre dính cao nhúng vào nước nóng cho tan rồi đổ vào thạp nấu cho khỏi hao, lỗ vải cũng khỏi bị cao bít kín.
Thường người ta nấu đến nước thứ ba, mỗi lần một ngày một đêm, tổng cộng 3 ngày, 3 đêm là xong.
Cô cao: Nước thứ ba lọc được chỉ cần cô nửa chừng không cần đổ ra khay như hai nước trước.
Đem cao của nước nhất và nước nhì thái thành từng miếng nhỏ, bỏ vào chảo có nước ba đánh cho tan.
Giai đoạn cô cao này quan trọng nhất vì nó quyết định của cả mẻ cao. Lửa cần giữ cho đều nhưng nhỏ (lửa văn). Cô cho đến khi thành cao, để nguội không cứng quá mà cũng không mềm quá, nếu cứng quá hiệu suất thấp, nhưng nếu mềm quá cao hay chảy và mốc.
Khi cao đã gần được chỉ để ít than mà cô. Khi cao đã nóng thì bắc xuống đất, đặt lên bao tải mềm cho khỏi hại đáy chảo mà khuấy; khi cao đã hơi nguội lại đưa lên bếp đun cho nóng rồi lại bắc xuống đánh và khuấy cho đến khi được thì đem đổ ra khay hay mâm đã bôi mỡ cho khỏi sát vào khay. Đợi 1-2 ngày bóc ra và cắt thành từng miếng nặng từ 70-100g (2-3 lạng ta). Hiện nay ta cắt thành từng miếng 100g một.
Hiệu suất: 100kg sừng cho từ 20-25kg cao. Để tăng phẩm chất của cao, nhiều khi trong một thạp cao, người ta cho thêm vào một cặp nhung. Cao chế được gọi là cao nhung. Giá gấp hai cao thường.
B. Thành phần hóa học của cao ban long
Cao ban long tuy chưa được nghiên cứu kỹ, nhưng sơ bộ ta đã biết rằng trong cao ban long mặc dù chế từ sừng hươu nai nhưng không có muối canxi như một số người thường nói.
Thành phần chủ yếu của cao ban long là chất lượng keratin cùng loại với chất gelatin. Chúng ta cũng biết rằng thành phần hóa học của keratin thay đổi tùy theo nguồn gốc, nhưng chứa rất nhiều sunfua dưới hình thức axit amin, xystein và axit có sunfua không có amin, ngoài ra còn chứa axit amin tyrosin. Nghiên cứu một loại keratin-Thomas đã thấy có 8,8% xystein 6,5% tyrosin 18,2% leuxin 15% axit glutamic 4,7% acginin 1,2% alinin 0,2% lysin và 0,4% glycocol.
Những axit amin như axit glutamic, lysin, xystein, leuxin và tyrosin đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển cơ thể.
Ngoài ra chúng ta biết rằng gelatin có tác dụng cầm máu. Trước khi tiêm thời gian máu đông là 7 phút, sau khi tiêm gelatin, thời gian máu đông giảm xuống 3 phút. Marfan đã chứng minh gelatin uống vẫn có tác dụng cầm máu vì tính chất của gelatin không bị dịch vị và dịch tràng phá hủy. Chất keratin cũng là một chất khó bị phân giải, hay sự phân giải rất chậm.
Các tính chất trên giải thích được phần nào cộng dụng của cao ban long là vị thuốc được chỉ định trong các trường hợp xuất huyết như ho ra máu, nôn ra máu, đái ra máu, chảy máu trong ruột, tử cung ra máu v.v…
C. Công dụng và liều dùng
Cao ban long là một vị thuốc bồi dưỡng, thuốc bổ, thuốc cầm máu dùng trong các trường hợp thổ huyết, nôn và ho ra máu, dạ dày và ruột chảy máu, tử cung ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, đi tiểu nhiều, mồ hôi trộm chân tay đau nhức.
Liều dùng, ngày ăn 5-10g. Có thể ăn tới 20g. Cắt thành từng miếng nhỏ để nhai và ngậm cho tan dần trong miệng. Có thể ăn với cháo hoặc hòa tan trong rượu hâm nóng lên mà uống. Có thể dùng ngậm để chữa ho, ho khan, ho gió.
Đơn thuốc có cao ban long
- Bài nhị long ẩm (của Hải Thượng Lãn Ông) chữa mất ngù, sốt về chiều, kém ăn.
Cao ban long 40g (1 lạng ta), long nhãn 40g (1 lạng ta).
Long nhãn cho vào nước sắc kỹ, vắt lọc lấy nước, cắt nhỏ cao ban long vào khuấy và đun cho tan. Uống khi còn nóng.
Hải Thượng Lãn Ông dùng thuốc này làm thuốc chữa các trường hợp không ngủ, đổ mồ hôi trộm, sốt về chiều khát nước, đại tiện táo bón, miệng lở, mắt vàng, ăn uống không được.
- Bài bổ tỳ âm tiễn (Hải Thượng Lãn Ồng).
Bạch truật 160g (4 lạng) sao với sữa, hoặc sao đất nếu đi tả, sâm bố chính 80g sao vàng với gạo nếp, thục địa 40g nướng khô, can khương 4g sao đen, long nhãn 28g, cao ban long 40g.
Các vị trên sắc với nước nhiều lần, cô đặc thành cao, mỗi lần uống chừng 2 cốc con, dùng nước hạt sen làm thang.
Nếu hay sôi bụng thêm 4g đinh hương. Nếu đại tiện lỏng quá thêm 12g nhục đậu khấu và 4g ngũ vị tử.
A GIAO - MINH GIAO 阿膠 , 明膠
Tên khoa học Colla Asini, Gelatinum Asini, Gelatina nigra.
A giao là keo chế từ da lừa cạo bỏ lông, nấu thành cao. Con lừa có tên khoa học Equus asinus L. thuộc ngành có xương sống (Vertebrata), lớp có vú (Mammalia), bộ guốc lẻ (Perissodaetyla), họ Ngựa Equidae.
A là tên huyện Đông A thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc, giao là keo. Tại huyện Đông A có cái giếng, dùng nước giếng này nấu da lừa sắc đặc thành cao do đó có tên a giao.
A. Cách chế biến a giao
Theo Trung dược chí, cách chế a giao của Trung Quốc như sau: Lấy da lừa ngâm nước 2- 3 ngày cho mềm. Lấy ra cạo sạch lông, cắt thành từng miếng nhỏ. Rửa sạch lần nữa. Cho vào nồi, đổ ngập nước đun 3 ngày 3 đêm. Lấy nước ra, thay nước mới, làm như vậy 5-6 lần để lấy hết chất keo của da lừa. Lọc qua dây đồng có mắt nhỏ. Thêm vào nước lọc một ít phèn chua, khuấy đều, chờ vài giờ, các tạp chất lắng xuống. Gạn lấy lớp trong ở trên và cô đặc, 2 giờ trước khi lấy ra, thêm đường và rượu (cứ 600kg da lừa thêm 4 lít rượu và 9kg đường) và nửa giờ trước khi lấy ra lại thêm dầu đậu tương cho đỡ dính (600kg thêm 1kg dầu). Sau đó đổ ra, để nguội, cắt thành từng miếng dài 10cm, rộng 4- 45cm, dày 0,8-1,6cm (Hình 714).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 714. A giao - Colla Asini
Ở Việt Nam cũng có lừa nhưng thường không chế. A giao vẫn còn phải nhập của Trung Quốc. Ta có thể dựa trên phương pháp giới thiệu trên để chế a giao.
B. Thành phần hóa học
Thành phần chủ yếu trong a giao là collagen.
Collagen thủy phân sẽ cho các axit amin: 10% lysin, 7% acgynin, 2% histidin, xystin, glyxin.
Lượng nitơ toàn phần là 16,43-16,54%, lượng canxi là 0,079-0,118%, lượng sunfua 1,10- 2,31%. Độ trong 0,75-1,09% (Theo T. G. Ni 1935. The Composition and action upon calcium metabolism of Ah. Chiao and Commercial gelatin. Chinese J. Physiol 9: 329).
C. Tác dụng dược lý của a giao
Theo sự nghiên cứu của T. G Ni (báo Chinese journal Physiol., 1935-1936) a giao có 4 loại tác dụng:
-
Ảnh hưởng đối với chuyển hóa chất canxi. Theo báo cáo của T. G Ni a giao có khả năng cải thiện sự hấp thụ canxi của động vật. Tác giả đã cho chó uống a giao đồng thời cho ăn canxi cacbonat, thấy lượng canxi trong huyết thanh tăng cao tác giả cho rằng sự hấp thụ canxi được tăng là do glyxin trong a giao. Cho uống a giao, khả năng đông máu không tăng nhưng nếu tiêm dung dịch 5% a giao diệt trùng thì khả năng đông máu tăng.
-
Tác dụng tạo máu. Tác giả đã rút máu của chó để gây thiếu máu, rồi chia chó làm hai lô, một lô cho ăn a giao một lô không cho ăn. Xét nghiệm hồng cầu và các yếu tố khác của máu. Kết quả a giao làm tăng nhanh lượng hồng cầu và các sắc tố của máu.
-
Tác dụng đối với chứng loạn dưỡng cơ dần dần (dystropie musculaire progressive). Tác giả đã nuôi chuột bạch theo một chế độ ăn đặc biệt để gây hiện tượng loạn dưỡng cơ dần dần: Nhẹ thì như bị què, nặng thì tê liệt khó đứng dậy. Sau đó cho ăn a giao thì sau hơn 100 ngày, đa số con vật hết các triệu chứng tê liệt so với các con vật khỏe mạnh không khác nhau.
-
Tác dụng chống choáng. Tác dụng đã gây choáng đối với mèo, sau đó dùng dung dịch a giao 5% thêm muối để giữ đẳng trương và kiềm hóa, lọc, đun sôi 30-40 phút, đợi nhiệt độ hạ xuống 38° thì tiêm từ từ vào mạch máu; thấy huyết áp trở lại bình thường và con vật được cứu sống.
D. Công dụng và liều dùng
A giao là một vị thuốc bổ, và cầm máu dùng trong mọi trường hợp băng huyết, lỵ ra máu, ho ra máu, đại tiểu tiện ra máu, hồi hộp mất ngủ.
Còn dùng làm thuốc an thai.
Ngày dùng 6-12g. Có khi dùng sống, có khi sao với bột vỏ sò, hoặc bồ hoàng rồi mới dùng.
Theo tài liệu cổ a giao có vị ngọt tính bình, vào kinh phế, can và thận. Có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, bổ phế, nhuận táo, cầm máu, an thai. Dùng chữa hư lao sinh ho, phế ung thổ ra mủ, ho ra máu, nôn ra máu, ra máu cam, ỉa ra máu, thai sản, băng lậu âm hư, tâm phiền, mất ngủ. Người tỳ vị hư nhược, nôn mửa, ỉa lỏng, tiêu hóa kém không dùng được.
Cách chế biến a giao khi dùng
-
Chế với bột vỏ sò (cáp phấn). Cho chừng 1kg vỏ sò vào chảo, rang cho nóng cho a giao thái nhỏ vào, rang thêm cho đến khi a giao nở dòn (không có chỗ nào rắn cứng nữa) thì lấy ra rây bỏ vỏ sò đi, a giao chế như vậy sẽ bớt độ dính. Mùi cũng thơm hơn.
-
Chế với bồ hoàng. Cho bồ hoàng vào chảo, rang nóng rồi cho a giao thái nhỏ vào, tiếp tục rang cho đến khi a giao nở thì rây bỏ bồ hoàng, lấy a giao mà dùng.
Đơn thuốc có vị a giao
- Bài thuốc an thai: A giao 8g, ngải cứu 8g. Sắc với 600ml (3 bát nước) cô đặc còn 200ml (1 bát), chia 3-4 lần uống trong ngày.
Theo tài liệu cổ, liều lượng a giao và ngải cứu dùng tới 80 g mỗi thứ, hành trắng tới 20g, nhưng thực tế chỉ cần dùng theo liều lượng giới thiệu trên.
-
Chữa kinh nguyệt ra mãi không ngừng: A giao sao với bồ hoàng như trên, tán nhỏ ngày uống 8-16g. Nếu uống được rượu thì dùng rượu mà chiêu.
-
Chữa lỵ ra máu: A giao 10g (để riêng không sắc), hoàng liên 3g, can khương 2g, sinh lục địa 5g, nước 600ml. Sắc còn 200ml. Lọc bỏ bã, nước thuốc còn đang nóng, thái nhỏ a giao cho vào. Chia làm 2 lần uống trong ngày (bài thuốc kinh nghiệm trong cuốn Thiên kim phương).
Chú thích
1- Ngoài vị a giao trong đông y còn dùng vị minh giao là chất keo chế từ da trâu hay da bò Bos taurus L. Thành phần cũng gần như a giao. Công dụng cũng như a giao.
2- Tây y có dùng làm thuốc và thực phẩm chất gélatin chế từ xương, gân, da các giống vật.
Gelatin được coi là một món ăn cung cấp protit cho cơ thể, một vị thuốc cầm máu, chữa đi ỉa lỏng, chữa loét dạ dày và ruột.
NHAU SẢN PHỤ 紫河車
Còn gọi là thai bàn, thai y, thai bào, nhân bào, tử hà sa.
Tên khoa học Placenta Hominis.
Nhau sản phụ là bộ phận ở trong tử cung của người mẹ cùng với cái thai. Khi thai còn ở bụng mẹ thì nhau sản phụ có nhiệm vụ che chở và nuôi dưỡng thai.
A. Nguồn gốc nhau sản phụ
Nhau sản phụ nói ở đây là nhau của người (Homo sapiens) thuộc ngành có xương sống (Vertebrata), lớp có vú Mammalita, họ người (Hominidae).
Phụ nữ đến tuổi đều có kinh nguyệt, hàng tháng hai buồng trứng sản xuất ra trứng. Trứng gặp tinh trùng sẽ thụ tinh và qua vòi dẫn trứng xuống đậu ở tử cung. Trứng phát triển thành thai. Nhưng vì trứng không có chất dùng để dự trữ nuôi dưỡng cái thai như trong trứng gà trứng vịt cho nên từ thành của tử cung sẽ tạo ra một bộ phận có nhiệm vụ nuôi dưỡng, hô hấp, bài tiết và cung cấp nội tiết tố cho cái thai tức là nhau sản phụ.
Khi sinh nở, tử cung co bóp cổ tử cung mở rộng, trước hết tống thai ra ngoài, người ta cắt rốn cho thai, được ít lâu sau tử cung co bóp lần nữa, tống nhau sản phụ ra (Hình 715).
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0964.jpg]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 715. Nhau thai và thai - Placenta Hominis
Ngoài nhau của người, ta có thể dùng nhau của bò lợn, cừu dê hay những gia súc khác.
B. Chế biến nhau sản phụ
Cần chọn nhau của sản phụ mạnh khỏe không bệnh tật. Muốn vậy, những người ta định lấy nhau cần được khám nghiệm cẩn thận. Kinh nghiệm cho biết những nhau to bất thường, mặt gồ ghề hoặc mụn nhỏ trên phía mặt cuống nhau là loại có thể nhiễm trùng bệnh giang mai, không nên dùng.
Nhau nào còn nguyên bọc, không sây sát, hồng tươi là nhau tốt.
Nhau là một chất thịt đang còn tiếp tục sống cho nên sau khi lấy được cần được chế biến hết sức sớm để tránh hỏng thối. Thường không nên để lâu quá 1-2 giờ, nhất là khi trời nóng ấm. Trời rét có thể để lâu hơn.
Khi lấy nhau, tay phải rửa xà phòng thật sạch, bát hay dao, kéo, gạc dùng chế biến cần rửa sạch, luộc nước sôi lâu và kỹ để tiệt trùng.
Nhau lấy ra lập tức dùng vải hay gạc mềm đã luộc sôi lau khô máu và chất nhờn. Chú ý đừng ấn mạnh tay quá sẽ làm nước bổ trong nhau tiết ra mất. Sau đó rửa bằng nước muối (một lít nước khoảng 9-10g muối) bóc hết màng, cắt bỏ những ống máu đọng trên mặt nhau.
Có khi nhau sản phụ được dùng ngay, có khi cho vào tủ lạnh giữ ở nhiệt độ từ 0-4° trong vòng 7-10 ngày theo phương pháp Pilatốp rồi mới dùng.
Sau khi đã rửa xong, hoặc rửa rồi lại đựoc ướp lạnh theo phương pháp Philatốp ta có thể chế theo một những phương pháp sau đây:
- Ngâm rượu nhau: Thái hay cắt nhỏ ngâm với rượu trắng. Cứ 1 cái nhau, cho vào 1 hoặc 1,5 lít rượu 40-50°. Ngâm 10-15 hôm trở lên có thể gạn lấy rượu uống dần. Có thể cho thêm tinh dầu thơm như rượu vỏ cam, vỏ quít hoặc vani v.v… cho thơm. Khi uống có thể thêm mật ong, đường.
Chú ý phải cho rượu đủ độ và lượng nói trên hay nhiều mới khỏi thối hỏng, vì trong nhau sản phụ có rất nhiều nước, nếu cho ít rượu quá, nước có sẵn trong nhau sản phụ làm cho độ rượu bị pha loãng không đủ để bảo quản nhau. Sau khi gạn uống hết chỗ rượu trên, có thể thêm nửa lít rượu nữa ngâm thêm.
-
Ngâm với mật ong: Rửa sạch một lần nữa nhau thai bằng rượu 40-50°. Thái nhỏ cho một lít hay hai lít mật ong tốt. Đợi nửa tháng đến một tháng mật ong sẽ tiêu cả cái nhau. Thực tế các chất trong nhau thai chuyển tan vào mật ong, còn lại xác các tế bào của nhau chứ toàn bộ nhau không tan hết như người ta thường nói. Lấy mật ong đó uống dần. Hình thức này hợp đối với người không uống được rượu, nhưng cần chú ý chọn mật ong tốt, nguyên chất nếu không dễ bị thối, vì lượng nước trong nhau có thể làm loãng mật ong làm cho mật ong giảm bớt khả năng bảo quản.
-
Chế biến nhau sản phụ dưới hình thức món ăn như băm nhau với trứng, nướng chả v.v… Hình thức này cũng tốt nhưng có điều bất tiện phải ăn một lúc số lượng quá lớn.
Trong các sách cổ nói đến nhiều phương pháp bào chế khác, chúng tôi chỉ trích giới thiệu ở đây phương pháp ghi trong Bộ Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân:
“Tử hà xã trong các bài thuốc cổ không chia trai gái, các đời sau mới chia ra của con giai để chữa bệnh nam giới, của con gái để chữa bệnh phụ nữ. Lại có sách khác nói bệnh nam giới dùng của con gái, bệnh phụ nữ dùng của con giai, thứ nhất là của người đẻ con so, không có thời lấy của người đàn bà vô bệnh cũng được. Khi đã lấy được ngâm với nước vo gạo trong, rửa cho sạch, rồi để vào giỏ đan bằng tre, ngâm vào giữa dòng nước chảy rửa bỏ hết gân màng, rồi lấy rượu ngâm nhũ hương (nhựa của cây Pistacia lentiscus-chú thích của Đỗ Tất Lợi) rửa qua sấy khô tán bột. Cũng có khi ép vào ngói để sấy cho khô, lại có khi đun với rượu giã cho thật nhuyễn hoặc để vào chõ đồ cho chín đem phơi, phương pháp đồ tốt hơn”.
Có người nói không nên bỏ gân và màng.
C. Thành phần hóa học
Trong nhau sản phụ có một chất protit đặc biệt cấu tạo bởi 8 phân tử N-axetyl d- glucozamin C₆H₁₃O₅N, 6 phân tử d-galactoza và 6 phân tử manoza. Ngoài ra có pepton, anbumoza (albumoza) polypeptit và cholin.
Trong nhau sản phụ tươi còn có các nội tiết tố chorionic gonadotropin, kích noãn tố F. S. H (Follciculin stimulating hormon) làm cho bọc trứng và trứng phát triển, đồng thời làm cho bọc trứng tiết ra noãn tố tức là nữ tiết tố sinh dục nữ và kích tố sinh hoàng thể L. H. (lutenizing hormon) có khả năng làm cho trứng chín, bọc trứng mở ra và trứng rụng sau đó làm cho vỏ bọc trứng còn lại chuyển thành hoàng thể.
D. Nhiệm vụ sinh lý của nhau sản phụ
Nhau sản phụ đứng trung gian giữa mẹ và bào thai và giữ nhiệm vụ:
-
Bảo vệ cái thai
-
Nuôi dưỡng thai
-
Đóng vai trò một hạch nội tiết
Để làm nhiệm vụ bảo vệ thai nhau sản phụ lọc một số chất độc hay một số chất không cho qua thai. Nhưng nhiều khi nhau sản phụ không lọc hết tất cả mọi chất độc. Ví dụ nhau sản phụ lọc và giữ lại chất quinin, nhưng lại để các chất cafêin và veronal đi qua. Khi mẹ được chủng đậu, những chất miễn dịch bệnh đậu (anticorps) cũng có trong nhau sản phụ.
Trong nhiệm vụ nuôi dưỡng thai, nhau sản phụ vừa là một kho dự trữ thức ăn, vừa là một hạch tạo ra các thức ăn.
Trong nhau sản phụ có tích lũy glycogen như ở gan, chất mỡ, chất protit. Nhau sản phụ có rất nhiều muối vô cơ, các men tiêu hóa chất bột (amylaza), men tiêu hóa chất protit (proteaza và trypsin) và men tiêu hóa chất béo (lipaza) v.v…
Do các chất men chứa trong nhau sản phụ, các chất dinh dưỡng trong máu mẹ được chế biến trong nhau sản phụ thành các thức ăn trực tiếp hấp thụ được. Vì không liên hệ trực tiếp giữa tuần hoàn của mẹ và bào thai cho nên các thức ăn cần được các men trong nhau sản phụ tiêu hóa trước khi vào bào thai.
Nhau sản phụ là một cơ sở giúp sự miễn dịch, do đó thuốc chế từ nhau sản phụ có thể chữa và phòng một số bệnh do nhiễm trùng.
Trong nhiệm vụ hạch nội tiết. Nhau sản phụ tiết ra nội tiết tố hydrat folliculin hay ơstrion (hydrate de folliculin=oestrol) và nội tiết tố oertradiol. Các chất nội tiết tố xuất hiện từ tháng thứ ba trong nước tiểu người mẹ, khi nhau sản phụ được tống ra ngoài thì không thấy các chất nội tiết tố đó trong nước tiểu nữa.
Ngoài ra nhau sản phụ còn tiết ra chất hoàng thể tố: Progesteron như chất nội tiết của buồng trứng. Lượng progesteron tăng dần cho đến ngày sinh đẻ.
Nhau sản phụ còn tiết và tích lũy các nội tiết gônadotrôp giống như các chất nội tiết của thùy trước tuyến yên gồm gonadostimulin A và gonadostimulin B. Chúng ta biết rằng gonadostimulin A là một chất nội tiết có tác dụng làm trứng chóng trưởng thành (đối với giống cái) và kích thích sự tạo thành tinh trùng (đối với giống đực). Còn Gonadostimulin B giữ cho hoàng thể ở buồng trứng tồn tại và tiết ra nhiều progesteron (đối với giống cái) hoặc phát triển hòn dái và tinh nang đối với con đực.
E. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân nhau sản phụ được coi là một vị thuốc rất bổ, bổ khí, nuôi huyết, ích tinh, dùng chữa các bệnh lao lực, gầy còm, ho nhiều, trong xương đau nhức, kém ăn, kém ngủ, hen suyễn, di mộng tinh.
Ngày dùng 2-4g dưới hình thức bột, hoặc 20- 30ml rượu nhau hoặc mật ong ngâm nhau nói ở trên.
Theo tài liệu cổ, nhau có vị ngọt, mặn, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng đại bổ khí huyết. Dùng chữa gầy yếu, ho suyễn, nhiều mồ hôi. Đau nhức trong xương, di tinh, hoạt tinh. Người có thực tà không dùng được.
Đơn thuốc có vị hà sa
Đơn thuốc có vị hà sa đại tạo hoàn hay đại tạo hoàn:
Bài thuốc rất được nhân dân tín nhiệm. Bài thuốc này được ghi trong bộ Bản thảo cương mục (từ thế kỷ 16) như sau:
Nếu gặp người sắp chết, chỉ còn thoi thóp dùng một vài liều, cũng có thể sống thêm được vài ngày. Sự công hiệu bổ âm của nó rất vĩ đại, trăm người dùng thời tin cả trăm. Uống nó nhiều lần, tai mắt sẽ sáng tỏ thêm, râu tóc đã bạc lại đen, sống lâu mạnh khoẻ, thật là hiệu nghiệm cướp được công của tạo hóa vì thế mới gọi bài thuốc là đại tạo hoàn hay hà sa đại tạo hoàn.
-
Hà sa (nhau sản phụ) 1 cái: Ngâm nước gạo rửa sạch ép vào ngói mới, sấy khô, tán bột hoặc tẩm rượu, đồ chín, phơi khô tán bột.
-
Quy bản 2 lạng (80g) tẩm nước tiểu trẻ em 3 ngày, phơi khô, sau lại tẩm dấm thanh sấy cho vàng.
-
Hoàng bá bỏ vỏ tẩm vào muối, sao qua 1 lạng rưỡi (60g).
-
Đỗ trọng bỏ vỏ, tẩm với sữa nướng dòn 1 lạng rưỡi (60g)
-
Ngưu tất bỏ cuống tẩm với rượu 1 lạng 2 đồng (48g).
-
Địa hoàng 2 lạng rưỡi (100g) trộn với 6 đồng cân (24g) sa nhân và 2 lạng (80g) bạch phục linh. Cho cả vào túi lụa ngâm vào hũ rượu đem đun lên 7 lần rồi bỏ phục linh và sa nhân chỉ lấy địa hoàng giã cho nhuyễn.
-
Thiên môn đông 1 lạng 2 đồng cân (48g) bỏ lõi.
-
Mạch môn đông 1 lạng 2 đồng cân (48g) bỏ lõi.
-
Nhân sâm bỏ rễ con 1 lạng 2 đồng cân (48g).
Nếu dùng chữa bệnh mùa hạ thêm 7 đồng cân, (28g) ngũ vị tử.
Tất cả các vị trên tán bột luyện với cao địa hoàng viên bằng hạt đậu nhỏ. Mỗi lần uống 50 viên, hòa nước muối làm thang chiêu thuớc. Mùa đông dùng rượu để chiêu thuốc.
Nếu dùng cho phụ nữ thì bỏ quy bản, thay bằng:
- Đương quy 2 lạng (80g) nấu với nhũ hương, luyện hồ mà làm thành viên.
Nếu nam giới mắc bệnh di tinh, phụ nữ mắc bệnh đới hạ (khí hư) thêm:
- Mẫu lệ phấn 1 lạng (40g).
Một người mắc bệnh suy yếu, dương sự không cử lên được, uống hai tễ thuốc này thân thể sẽ khỏe hẳn lên, mấy năm sinh được 4 con giai. Một phụ nữ 60 tuổi uống bài thuốc này thọ tới 90 tuổi vẫn còn khỏe mạnh. Một người đàn ông sau khi ốm nặng đã khỏi bỗng dưng không nói được, sau khi uống bài này sức càng thêm khỏe, tiếng lại cũng to. Một người đàn ông mắc bệnh “nuy” hai chân không đi được đã tới nửa năm, sau khi uống bài này đi được xa không hề mỏi mệt. (những liều lượng theo gam là chú thích thêm của Đỗ Tất Lợi).
Chú thích:
Ngoài nhau sản phụ ra người ta còn dùng cả cuống nhau hay cuống rốn gọi là tề đới (Restis umbilicalis) sấy khô. Dùng chữa ho suyễn, mồ hôi trộm, hư lao, bổ thận khí.
HẢI MÃ 海馬
Còn có tên là cá ngựa, hải long, thủy mã.
Tên khoa học Hippocampus sp.
Hải mã Hippocampus là toàn con cá ngựa phơi hay sấy khô.
A. Nguồn gốc
Cá ngựa ở nước ta thuộc chi Hippocampus.
Có nhiều loài khác nhau như Hippocampus keloggi Jordan et Snyder, Hippocampus hystrix Kaup v.v… Những chi này đều thuộc bộ Hải long (Syngnatiformes) họ hải long Syngnathidae.
Vì là giống cá sống ở nước mặn có đầu hình giống đầu ngựa do đó có tên cá ngựa hay hải mã (ngựa bể).
Thân cá ngựa dài chừng 15-20cm, có khi tới 30cm, màu trắng, vàng hoặc hơi xanh đen.
To nhỏ, trắng, vàng hoặc màu sắc nào cũng được dùng làm thuốc, nhưng người ta thường cho rằng loại trắng và vàng là tốt hơn (Hình 716, Hm32.3)
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 716. Hải mã - Cá ngựa Hippocampus sp
B. Phân bố và chế biến
Cá ngựa sống ở dọc bờ bể Việt Nam, đâu cũng có. Ở Việt Nam chỉ có một vài nơi biết dùng làm thuốc (Hòn Gai).
Tại Trung Quốc, cá ngựa được dùng làm thuốc và ghi đầu tiên vào bộ sách Bản thảo cương mục thập di của Triệu Học Mẫn (1765). Cá ngựa được khai thác nhiều tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hải Nam (Trung Quốc).
Quanh năm đều có cá ngựa, nhưng nhiều nhất là tháng 8-9 người ta bắt được cá ngựa khi đi bắt cá chứ không tổ chức bắt riêng cá ngựa. Sau khi bỏ ruột, uốn đuôi cho cong rồi phơi khô. Chọn những con to nhỏ bằng nhau rồi buộc từng 2 con một coi như đó là một đôi đực, cái nhưng thực tế không phải.
Tại Thành phố Hạ Long, người ta ngâm cá rượu có quế hồi và một số dược liệu có tinh dầu một thời gian rồi đem ra phơi khô.
C. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý
Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân, người ta coi hải mã là một vị thuốc bổ có tác dụng kích thích và giúp cho sự giao cấu được lâu. Thường dùng cho người già yếu, thần kinh mệt yếu, tán bột cho uống. Còn có thể chữa đau bụng. Phụ nữ trong khi đẻ mệt yếu, thai ra khó.
Tính chất của hải mã theo đông y như sau:
Tính ôn, vị ngọt, không độc, có tác dụng giúp ích phòng sự (giao cấu), tráng dương đạo (cường dương), trị huyết khí thông, phụ nữ khó đẻ.
Ngày dùng 4-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc sấy khô vàng một đôi cá ngựa tán nhỏ rồi dùng dưới dạng bột hoặc dưới dạng thuốc viên.
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1-3g bột hoặc thuốc viên. Dùng nước hay rượu mà chiêu thuốc.
Đơn thuốc có cá ngựa
Chữa nam giới liệt dương, nữ giới không có con (bài thuốc kinh nghiệm trong nhân dân):
Hải mã một đôi sấy khô tán bột. Ngày uống 3 lần mỗi lần 1g. Dùng rượu mà chiêu thuốc.
HUYẾT LÌNH
Còn gọi là lục linh.
Lình là tên tiếng Thổ của con khỉ, lục là nhau thai và huyết lình là máu chảy ra của con khỉ sau khi đẻ, phơi khô.
A. Thu hái và chế biến
Vào mùa khỉ đẻ, vào tháng 5-6 âm lịch (6-7 dương lịch) người ta đến những nơi núi đá ở những nơi khỉ hay ở và đi lại, tìm những mỏm núi đá là nơi khỉ hay ngồi sau khi đẻ để cạo lấy huyết đã khô đen. Có những mảng huyết đọng dày tới 1cm hay hơn.
Khi mới cạo về đem phơi nắng hay sấy cho khô, cất vào lọ hay gói kín để chỗ khô ráo. Khi dùng thì sấy khô tán nhỏ. Tại những chợ vùng núi nước ta vào các tháng 8-9 dương lịch, người ta thường đem bán huyết lình dưới dạng cục nhỏ bằng đầu ngón tay màu đen nâu như màu bã cà phê mùi tanh, khi dùng cần tán nhỏ để ngâm rượu hay cho vào cháo mà ăn.
B. Thành phần hóa học
Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Soi kính hiển vi chỉ thấy toàn hồng cầu, có lẫn các chất bẩn khác.
C. Công dụng và liều dùng
Huyết lình là một vị thuốc nhân dân hay dùng làm thuốc bổ máu cho phụ nữ sau khi đẻ, cho những người xanh xao gầy yếu, trẻ con gầy còm, chậm lớn, kém ăn. Dùng ngoài dưới hình thức ngâm rượu để xoa bóp làm thuốc giảm đau, trong những trường hợp đau nhức, ngã hay bị thương mà sưng đau.
Uống trong: ngày 1-2g huyết lình đã sấy khô tán nhỏ hay ngâm rượu. Nếu ngâm rượu cần hâm nóng lên trước khi uống để cho khỏi tanh.
Đơn thuốc có huyết lình dùng trong nhân dân
Chữa trẻ con chậm lớn, kém ăn:
Huyết lình sấy khô tán nhỏ, cho vào cháo nóng-cho trẻ con ăn vào buổi sáng. Mỗi lần cho uống 1-2g. Dùng luôn trong 7-10 ngày.
Đơn thuốc này còn dùng cho phụ nữ sau khi đẻ bị xanh xao gầy yếu, mà không uống được rượu.
Thuốc xoa bóp khi đau ngã:
Huyết lình không kể liều lượng, cho vào ngâm càng đặc càng tốt, thường một phần huyết lình 5 phần rượu. Khi dùng ngâm nóng mà xoa bóp vào chỗ sưng đau. Có thể dùng để uống.
TẮC KÈ 蛤蚧
Còn gọi là đại bích hổ, cáp giải, cáp giới.
Tên khoa học Gekko gekko L.
Thuộc họ Tắc kè Gekkonidae, bộ Thằn lằn (Sauria hay Lacertilia).
Tắc kè-Gekko-là con tắc kè mổ bỏ ruột phơi hay sấy khô.
A. Mô tả con vật
Con tắc kè giống như con “mối rách” hay “thạch sùng” nhưng to và dài hơn (không nên lầm với con thằn lằn). Chiều dài của thân chừng 15-17cm, đuôi dài 15-17cm. Đầu bẹp hơi 3 cạnh, mắt có con ngươi thẳng đứng, 4 chân, mỗi chân có 5 ngón rời nối với nhau thành hình chân vịt, mặt dưới ngón có những màng phiến mỏng màu trắng sờ như có chất dính làm cho con vật có thể bám chặt vào tường hay cành cây khi trèo ngược.
Đầu, lưng và đuôi đều có những vẩy nhỏ hình hạt tròn hoặc nhiều cạnh, nhiều màu sắc từ xanh lá mạ đến xanh rêu đen có khi xanh nhạt hay đỏ nâu nhạt. Màu sắc này còn thay đổi tùy theo lúc để cho màu sắc con vật giống cảnh vật xung quanh làm cho con vật lẩn tránh dễ dàng khi ở trên cây.
Đuôi tắc kè được coi như một bộ phận quý nhất của con vật. Khi bị gãy hay đứt có thể mọc lại được.
Con tắc kè sống ở những hốc cây hốc đá hoặc những khe hốc các nhà gác cao, tường cao. Nó ăn sâu bọ, dán, châu chấu, bướm, nắc nẻ v.v… Những con vật này phải cử động tắc kè mới trông thấy. Đến mùa rét nó không ăn mà vẫn sống mạnh khỏe.
Tắc kè đẻ trứng. Mỗi lần đẻ 2 trứng. Trung bình sau 90-100 ngày trứng mới nở. Không phải ấp. Mùa đẻ: từ tháng 5 đến tháng 10.
Con đực kêu hai tiếng tắc kè, do đó thành tên. Nó kêu luôn một lúc 10-12 lần liền có khi nhiều hơn. Tiếng kêu càng về cuối càng nhỏ dần. Trong sách cổ có nói con đực kêu “tắc” con cái kêu “kè” nhưng thực tế một con kêu cả hai tiếng “tắc kè” (Hình 717, Hm 58,4).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 717. Tắc kè - Gekko gekko
B. Phân bố, cách bắt và chế biến tắc kè
Tắc kè sống hoang tại các tỉnh miền thượng du nước ta như Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hàng năm ta có thể thu mua và xuất tới 250.000 con (riêng miền Bắc).
Miền Nam trung bộ và Nam Bộ cũng có nhiều.
Ngoài nước tắc kè có ở nam Trung Quốc, Cămpuchia, Lào, Thái Lan, Miến Điện và Đông bắc Ấn Độ.
Tắc kè thường kêu từ các tháng hè đến hết thu (5-10), vào thời kỳ này người ta tổ chức đi bắt. Vào mùa khác người ta dựa vào phân tắc kè mà đi tìm nơi chúng ở. Phân tắc kè gồm một thỏi màu nâu to và một cục trắng nhỏ. Muốn bắt tắc kè người ta tìm nơi hang hốc có tiếng kêu hay nơi nó thường đi lại. Người ta làm một que cứng, dẻo làm bằng tre cật, dài chừng 1m. Đầu que buộc một mớ tóc rối hay mớ sợi móc. Khi chọc đầu que này vào hốc, tắc kè ngoạm lấy, tóc rối vướng vào răng không mở ra, ta chỉ việc kéo ra mà bắt lấy. Mỗi hang hốc có thể bắt 2-10 con, có khi tới 20-30 con.
Nếu hang hốc nông, người ta bao tay bằng vải thô rồi thò tay vào mà bắt.
Đem về mổ bụng bỏ hết ruột, dùng 2 que nứa nhỏ ngắn, một que căng hai chân trước và một que căng hai chân sau. Một que nữa thì xuyên dọc suốt từ đầu đến quá đuôi. Nơi đuôi người ta lấy giấy bản cắt thành dải cuộn chặt vào que để bảo vệ đuôi. Sau đó phơi hoặc sấy khô. Khi dùng, bỏ mắt, chặt bốn bàn chân, sấy khô tán nhỏ hoặc cắt nhỏ ngâm rượu (Hình 718).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 718. Tắc kè khô
C. Nghiên cứu thành phần hóa học
Năm 1958, sơ bộ, chúng tôi nghiên cứu thấy trong đuôi tắc kè có rất nhiều chất béo (23- 25%). Trong toàn thân tỷ lệ chất béo chỉ có 13- 15%. Chất béo có 3,88% chất không xà phòng hóa.
Trong chất béo có một loại tinh thể đặc biệt. Tuy nhiên, hoạt chất chưa rõ (Đỗ Tất Lợi, 1958).
Năm 1962 (Farmacia 5-1963, Rumania), G. Hermann, I. Ciulei, M. Marin, Đỗ Tất Lợi, Elena Hadarag, Emilia Dumitriu và P. Balaci đã nghiên cứu thấy trong toàn thân tắc kè có các axit amin theo thứ tự từ nhiều đến ít như sau: axit glutamic, alanin, glyxin, axit axpartic, acginin, lysin, serin, leuxin, isoleuxin, phenylalanin, valin, prolin, histidin, treonin và xystein.
D. Tác dụng dược lý
Theo tài liệu cổ tắc kè có tác dụng làm cho đỡ mệt nhọc, vì vậy muốn thử xem có phải đúng tắc kè hay không, người ta thử như sau: Nướng tắc kè cho vàng, giã nhỏ, ngậm một ít, chạy một quãng đường, không thấy thở mới là thực- Theo Lý Tuân do Lý Thời Trân thuật lại trong Bản thảo cương mục.
Ngoài ra trong các tài liệu cổ còn ghi tắc kè có tác dụng chữa hen, lao phổi và cường dương.
Năm 1962 các tác giả trên (xem phần nghiên cứu hóa học) đã thí nghiệm dược lý và đã đi tới một số kết luận sau đây:
-
Thuốc chế từ tắc kè (rượu sau khi đã bốc hơi để loại rượu) có tác dụng chống vi trùng Gram âm và Gram dương, nhưng vòng vô khuẩn nhỏ.
-
Thuốc tắc kè không gây hiện tượng dị ứng, dùng chế dưới dạng thuốc tiêm, không gây phản ứng tại chỗ hay toàn thân.
-
Thuốc tắc kè có tính chất kích thích sự nở lớn.
-
Nghiên cứu tác dụng thuốc tắc kè trên máu, các tác giả thấy thuốc tắc kè làm tăng lượng hồng huyết cầu, tăng huyết sắc tố và không ảnh hưởng tới hệ thống bạch cầu.
-
Đối với ruột cô lập của thỏ, thuốc tắc kè có tác dụng kích thích, làm tăng trương lực (tonus) tăng biên độ; tác dụng này rất rõ và kéo dài.
-
Trên tim ếch tại chỗ, tắc kè có tác dụng làm tim chậm lại. Với tài liệu dùng trong thí nghiệm, thuốc tắc kè đã gây hiện tượng chỉ cần sức âm (inotropisme négatif) chính điệu âm (chronotropisme négatif) và cơ dẫn âm (dromotropisme négatif).
-
Tiêm thuốc tắc kè vào mạch máu chó đã gây mê, huyết áp hạ thấp trong 1-2 phút, sau đó từ từ trở lại bình thường.
-
Tiêm mạch máu cho chó đã gây mê, với liều 3-5ml, thấy có hiện tượng giảm tiết niệu nhất thời.
E. Công dụng và liều dùng
Tắc kè là một vị thuốc nhân dân, dùng làm thuốc bổ và chữa ho.
-
Thuốc bổ: Tác dụng ngang như nhân sâm, thịt để dùng cho những người giao cấu không được bền bỉ. Thường người ta dùng một đôi con đực và con cái. Nhưng thực tế rất khó phân biệt con đực và con cái, cho nên cứ dùng 2 con một.
-
Chữa các chứng ho có đờm hay không có đờm lâu ngày không khỏi, khạc ra mủ máu, ho luôn không dứt, hơi nghẽn lên cổ.
Bản thân tác giả thường dùng khi trí não mệt nhọc, thấy chóng tỉnh táo khoan khoái.
Hình thức dùng có thể sấy khô tán bột uống riêng hoặc trộn với các vị thuốc khác. Cũng có thể ngâm rượu mà uống. Ngày uống 3 đến 4g dưới dạng thuốc bột hay ngâm rượu.
Theo tài liệu cổ tắc kè có vị mặn, tính ôn, vào hai kinh phế và thận. Có tác dụng bổ phế thận, ích tinh, trợ dương, chữa hen suyễn. Dùng chữa hư lao, ho có mủ, ho ra máu, hen suyễn, tiêu khát. Người có đờm ẩm hen suyễn không dùng được.
Những đơn thuốc kinh nghiệm có tắc kè
- Rượu tắc kè, chữa suy nhược thần kinh, đau ngang thắt lưng:
Tắc kè mổ bỏ ruột, sấy khô, cắt bỏ đầu, chân, ngâm với rượu; mỗi một lít rượu 35-40° ngâm 2 đến 5 con. Ngâm trong một tuần lễ trở lên. Lọc lấy rượu trong mà uống. Ngày uống (15-30ml) chừng nửa cốc con. Uống nguyên hoặc pha với mật ong cho ngọt. Có thể thêm ít trân bì hay vỏ cam vào cho thơm. Uống vào buổi tối hay sáng sớm.
Dùng cho những người hay mệt nhọc, đau xương đau người, đau ngang thắt lưng.
- Đơn thuốc chữa ho, nặng mặt, nặng cả chân tay:
Tắc kè một đôi, bỏ đầu, chân, lấy rượu bôi khắp lượt rồi nướng chín, nhân sâm 20g (hoặc có thể dùng đảng sâm 40g). Cả hai vị sấy khô tán nhỏ. Cất trong lọ kín ăn dần. Ngày ăn 4g bột này.
- Đơn thuốc chữa bệnh ho lao, già mà ho nhiều đờm, tim yếu:
Tắc kè một đôi bỏ đầu, chân, sấy khô tán nhỏ. Đảng sâm 20g, quy bản nướng tán bột 20g, bắc sa nhân 20g tán bột. Tất cả trộn đều. Thêm vị táo đỏ và giã nát làm thành viên, mỗi viên nặng 1g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 đến 2 viên, nhai và dùng nước mà chiêu thuốc.
MẬT ONG 蜂蜜
Còn gọi là bách hoa tinh, bách hoa cao, phong đường, phong mật.
Tên khoa học mel.
A. Nguồn gốc
Mật ong là một chất lỏng hơi sền sệt, vị ngọt do nhiều giống ong hút mật của nhiều loại hoa đem về tổ chế biến cô đặc mà thành.
Không phải chỉ có một giống ong cho mật ong. Ong cho mật có thể thuộc nhiều chi Apis (Apis mellifica, A. ligustica, A. sinensis, A. indica, A. dorsata), chi Maligona, Trigona v.v…
Tại Lào Cai (Sapa) người ta phân biệt loại ong muỗi (ong nhỏ) cho thứ mật ong trắng và ong khoái (to hơn) cho loại mật ong màu vàng.
Những giống ong đều thuộc lớp Cánh mỏng (Hymenoptera), họ ong Apidae.
Ong sống thành đàn từ 25.000 đến 50.000 ong, trong các tổ ong chúng làm lấy trên những cây ở rừng hoặc trong các thân cây đục lỗ hoặc các hòm đặc biệt, mà người ta làm sẵn cho nó. Càng ngày người ta càng chú ý phát triển nuôi ong vừa để lấy mật, vừa để tăng thu hoặch hoa màu vì khi ong đi lấy mật, ong giúp cho sự thụ phấn của các hoa và tỷ lệ quả đậu nhiều hơn.
Trong một số tổ ong, không phải con ong nào cũng đi lấy và làm ra mật ong. Mỗi tổ ong đều có 3 loại: Ong chúa, ong đực và ong thợ.
Ong chúa là ong cái duy nhất trong cả đàn. Ong này chỉ có nhiệm vụ đẻ trứng. Ong chúa dài và to hơn các con ong đực và ong thợ, thân hình mảnh dẻ và cánh ngắn hơn. Ong chúa cũng do một cái trứng như các trứng ong khác, nhưng từ khi nở ra cho đến khi thành nhộng, ấu trùng ong chúa được nuôi bằng một thứ mật đặc biệt chứa trong một ổ riêng do ong thợ xây thêm bên canh tầng. Thứ mật ong đặc biệt này gọi là mật ong chúa hay sữa ong, hay sữa chúa (Xem thành phần hóa học ở dưới). Ong chúa sống 3-4 hoặc 5 năm, lâu gấp 50 lần ong thợ. Ong chúa không làm ra mật, chỉ ăn mật các ong khác đem về.
Ong đực xuất hiện vào mùa hè, cũng không làm ra mật mà ăn những thức ăn có sẵn trong tổ, ngay đến việc ăn cũng phải nhờ đến ong thợ mới ăn được. Đời sống ong đực ngắn ngủi chỉ được 1-2 tháng. Sang thu, ong đực bị đuổi ra khỏi tổ và chết trước thềm tổ ong.
Ong thợ đi lấy mật, chiếm đa số trong tổ ong. Những con này nhỏ nhắn gọn gàng, bé hơn ong chúa và ong đực. Tuổi thọ trung bình của ong thợ thay đổi tùy theo lứa ong. Những lứa sinh vào mùa xuân và hạ thường chỉ sống vào khoảng 6 tuần lễ, những lứa sinh vào mùa thu lại sống tới 6 tháng (Hình 719).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 718. Ong mật và tổ ong
Tính chất mật ong thay đổi tùy theo loại hoa. Trong mùa hoa, người ta tính một con ong thợ có thể dừng cánh trên 250 triệu bông hoa. Nhà khoa học Liên Xô Yoirích đã đưa ra một phương pháp sản xuất thật nhanh mật ong và biến tổ ong thành một xí nghiệp dược phẩm sản xuất những loại mật ong hiếm quý, bằng cách cho ong hút những nhụy hoa nhân tạo. Nhờ phương pháp này Yoirich đã thu được tới 85 loại mật ong khác nhau, có loại mật ong chứa nhiều vitamin hoặc mật ong có quinin, có những chất nội tiết tố v.v…
B. Lấy mật
Ta có thể lấy mật vào ba mùa xuân, hạ và thu. Nhưng tốt nhất vào xuân hạ. Sang mùa đông, mật vừa ít lại vừa ảnh hưởng tới đời sống của con ong vì phải để cho ong có thức ăn qua mùa rét lạnh không có hoa.
Hàng năm, ở Việt Nam, thường lấy mật vào tháng 3, tháng 6 đôi khi cả vào tháng 9.
Thường lấy mật vào buổi sáng và trưa là lúc ong bay đi ra ngoài nhiều, nhấc cầu của tổ ong lên, dùng dao sắc, lưỡi mỏng cắt lấy tầng ong, để lại tầng có nhộng và ấu trùng và những tầng đang xây dở dang.
Cắt tầng thành từng miếng nhỏ, đặt trên các thanh tre kê ở mạt chiếc chậu khô và sạch, rồi đem phơi nắng. Nhờ sức nóng của mặt trời, sáp của tầng bị chảy lỏng, mật được giải phóng và chảy xuống thau. Loại mật này tốt nhất có màu vàng nhạt.
Sau đó đun nóng và ép nhẹ sẽ được một thứ mật màu sẫm hơn. Cuối cùng đun nóng già và ép kỹ hơn thì được loại mật có màu sẫm hơn nữa vì một số mật bị cháy thành caramen, cho màu nâu sẫm. Hai loại mật sau kém hơn, vì có lẫn sáp và một số tạp chất khác.
Hiện nay tại các nuớc sản xuất nhiều mật ong, cũng như ở nhiều nơi trong nước ta người ta dùng máy ly tâm để lấy mật: nhấc tầng ong, cho vào chiếc lồng bằng thép có mắt cáo nhỏ và quay thật mạnh. Mật sẽ được vung ra. Hứng lấy để lắng một thời gian rồi gạn lấy mật. Như vậy ong đỡ mất công xây lại tầng cho nhiều mật hơn.
C. Tính chất của mật ong
Tính chất ở mật ong thay đổi tùy theo từng vùng, từng tỉnh và từng thời kỳ lấy mật. Đặc biệt, mật ong có thể có chất độc nếu ong hút mật ở những cây có hoa độc như hoa phụ tử, hoa thuốc lá, hoa cà độc dược. Tại các nước, người ta đã chứng kiến những vụ ngộ độc do ăn mật ong có chất độc.
Mùi và vị của mật ong phụ thuộc vào các loại hoa có trong vùng. Đó là cơ sở khoa học để phân biệt mật ong từng tỉnh như: mật ong Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh v.v… của ta.
Khi soi mật ong dưới kính hiển vi, ta sẽ thấy phấn hoa của nhiều loại cây khác nhau, người ta có thể dựa vào sự có mặt của một số loại phấn hoa để xác định mật ong của vùng nào.
Có loại mật ong màu vàng nhạt, mặt gợn như đường, có đường kết tinh ở dưới. Có người cho đó là loại tốt nhất. Nhưng thực tế cũng có những loại mật ong lỏng, trong, không đóng đường mà vẫn tốt và có loại mật ong có màu sẫm hơn, cũng là loại mật ong tốt. Hiện nay chúng ta chưa thể dùng nhận xét bề ngoài để đánh giá mật ong tốt xấu hoặc thực giả, mà phải nghiên cứu thành phần hóa học.
D. Thành phần hóa học của mật ong
Mật ong không phải là một chất do con ong bài tiết. Chủ yếu nó là mật hoa được ong chế biến và cô đặc lại.
Trong mật hoa, tỷ lệ nước lên tới 40 đến 80%, còn trong mật ong chỉ có 15 đến 20% nước.
Thành phần của mật ong thường và mật ong chúa cũng khác nhau.
Trong mật ong thường có 65-70% glucoza và levuloza, 2-3% sacaroza (nếu ong nuôi bằng mật mía hoặc ở gần nơi có đường mật thì tỷ lệ sacaroza còn tăng nữa tới 10% hoặc hơn, vì trong nước dãi con ong không có đủ men invectin để biến cả sacaroza thành glucoza và levuloza).
Ngoài ra còn có muối vô cơ, các axit hữu cơ (axit focmic, axetic, tactric, malic) các men tiêu hóa chất béo (lipaza), chất bột (amylaza), men tiêu hóa chất đường (invectin), một ít tinh bột, protit, sáp, sắc tố, chất thơm, phấn hoa.
Mật ong của Nhật Bản có chứa axit pantotenic 0,99γ/g, axit nicotinic 0,92γ/g, axetycolin 12- 15γ/g, vitamin A, D, E.
Trong mật ong chúa hay sữa chúa tỷ lệ đường ít hơn, nhiều chất mỡ, chất đạm (dưới dạng axit amin trong đó rất nhiều xystin là một axit amin có sunfua) và vitamin. Chúng ta biết rằng do được nuôi bằng mật ong chúa, ấu trùng trở thành con ong chúa sống lâu gấp 50 lần ong thợ, lại đẻ trứng được.
Phát hiện giả mạo. Người ta thường làm giả mật ong bằng mật mía, nước thủy phân tinh bột, hoặc xirô. Mật ong của những con ong ăn đường hoặc mật mía có tỷ lệ sacaroza cao. Ngoài việc định lượng các thành phần của mật ong người ta làm những thí nghiệm sau đây:
- Pha một phần mật ong và 2 phần nước. Dung dịch này phải có phản ứng axit vì trong mật ong có các axit hữu cơ. Nhưng không được có axit vô cơ như axit clohydrit hoặc sunfuric.
a) Mật ong pha loãng với 2 phần nước rồi lọc, thêm axit nitric loãng và bạc nirat không được có tủa (clorua) tức là có axit clohydrit.
b) Thêm baryclorua không được tủa (sunfat) tức là có axit sunfuric.
-
Mật ong thêm dung dịch iôt không được ngả màu đỏ (chứng tỏ có dextrin) hay màu xanh (có tinh bột).
-
Mật ong thêm oxalat amon và axit axetic không được kết tủa (nếu tủa là có canxi và như vậy có thể giả mạo bằng xirô glucoza.)
-
Soi kính hiển vi một giọt mật ong chỉ được thấy ít mảnh sáp, ít hạt phấn hoa (dựa trên hạt phấn hoa có thể tìm nguồn gốc của mật ong).
-
Ta có thể định lượng axit photphoric trong tro của mật ong: Mật ong tự nhiên có chừng 0,01-0,03% P₂O₅ trong khi mật nhân tạo chỉ có rất ít.
E. Tác dụng dược lý
- Mật ong là một vị thuốc bổ:
Tại Liên Xô cũ, giáo sư Udintsev đã cho một số bệnh nhân bị lao uống mỗi ngày từ 100 đến 150g mật ong, thấy sức khòe bệnh nhân ngày một tăng tiến, thể trạng và máu bệnh nhân tốt hơn.
-
Mật ong có thể giảm độ axit của dịch vị, độ axit dạ dày trở thành bình thường và làm cho hết các triệu chứng đau xót khó chịu của bệnh đau loét dạ dày và ruột (Theo kết quả điều trị của bệnh viện Ostrounop ở Maxcơva và một số bệnh viện tỉnh khác ở Liên Xô cũ). Các bệnh nhân bị loét dạ dày và ruột điều trị bằng mật ong đều lên cân, sự tiêu hóa tiến triển tốt hơn.
-
Mật ong có thể dùng trong việc điều trị chứng bệnh về gan, túi mật và một vài bệnh về thần kinh. Mật ong còn là một thứ thuốc an thần tốt giúp cho giấc ngủ được ngon và làm bệnh nhân đỡ nhức đầu.
-
Mật ong tiêu diệt được một số vi trùng. Một số nhà bác học Nga ở Kiep là Necht, Chadimenko, Moroz đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiều loại mật ong, đối với nhiều loại vi trùng gây bệnh như Staphylococ, Streptococ, vi trùng lỵ, thương hàn v.v… Kết quả của trên 2.000 thí nghiệm đã chứng minh một vài loại mật ong có tính chất tiêu diệt hoặc ngăn cấm sự phát triển của vi trùng.
Sự nghiên cứu này giúp ta hiểu một phần tại sao mật ong tìm thấy trong một kim tự tháp ở Ai Cập mặc dầu đã để hơn 3.000 năm mà không bị cạn, bị hỏng mà còn giữ nguyên vị thơm ngon.
Trên cơ sở nghiên cứu này, mật ong được dùng tại một số bệnh viện ở Liên Xô cũ để điều trị các vết thương do súng đạn (nhà phẫu thuật Liên Xô Krinixki đã nhận thấy thuốc mỡ chế bằng mật ong làm cho vết thương đóng thành sẹo). Mật ong còn dùng xông hơi điều trị những bệnh ở đường khí quản (viêm niêm mạc đường khí quản), uống chữa bệnh cảm lạnh (uống mật nguyên chất hay trộn với chanh hay sữa). Mật ong còn dùng băng bó điều trị các mụn nhọt và giáo sư Pletneva ở Viện Y học số 2 Maxcơva còn dùng mật ong để chữa những bệnh nhân có thương tổn ở giác mạc.
- Mật ong có tính chất phóng xạ. Nhà bác học Pháp là Alain Queille đã chứng minh rằng một vài loại mật ong có tính chất phóng xạ; ông đã đem mật ong đổ vào nhiều cốc thủy tinh khác nhau, sau một thời gian thấy mật ong tác động đối với các phim ảnh đựng trong các giấy đen.
C. Công dụng và liều dùng
Mật ong được dùng làm thuốc từ lâu. Theo tài liệu cổ mật ong có vị ngọt, tính bình, vào 5 kinh, tâm, phế, tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt bổ trung, nhuận táo, hoạt trường, giải độc, hết đau. Dùng chữa tỳ vị hư nhược, táo bón, ho đau bụng, giải độc ở đầu, dùng ngoài chữa lở miệng, vết thương bỏng.
- Thuốc bổ cho người lớn và trẻ em, chữa bệnh loét dạ dày và ruột, an thần, chữa nhức đầu và một số bệnh thần kinh, bệnh ho khan, viêm họng.
Ngày dùng 20 đến 50g. Có thể dùng tới 100- 150g. Nhưng với liều này có thể nhuận tràng. Uống riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Có khi người ta chế mật ong thành thuốc tiêm, làm thuốc bổ toàn thân.
-
Dùng ngoài chế thành thuốc mỡ hay nguyên chất đắp lên các mụn nhọt, vết loét, vết thương.
-
Làm tá dược chế thuốc viên hay các dạng thuốc khác.
Chú thích:
Ngoài mật ong, sữa chúa ra con ong còn cho ta nọc ong được dùng để điều trị có kết quả một số bệnh tê thấp, bệnh viêm dây thần kinh ngồi (thần kinh tọa). Nhưng nọc ong là loại thuốc mạnh, nguy hiểm. Khi dùng cần có sự theo dõi chỉ dẫn của thầy thuốc.
Gần đây người ta còn sử dụng phấn hoa do con ong mang về với mục đích làm thức ăn nuôi ong con. Trong phấn hoa có các axit amin, chất béo, gluxit, vitamin.
Đơn thuốc có mật ong
- Đơn thuốc chữa loét dạ dày và tá tràng:
Mật ong 10g, cam thảo sống 10g, trần bì 6g, nước 400ml. Trước hết sắc cam thảo và trần bì với nước, cô cạn còn 200ml thì lọc, bỏ bã. Thêm mật ong vào chia làm 2 hay 3 lần uống trong ngày.
- Đơn thuốc chữa cao huyết áp, táo bón:
Mật ong 60g, vừng đen (tức hắc chi ma) 50g. Trước hết nấu vừng cho chín giã cho nát rồi thêm mật ong và chừng 200ml nước vào khuấy đều, chia làm 2 lần uống trong ngày, sáng và tối.
- Mật ong sữa chúa (mật ong có chứa 2-4% sữa chúa) làm thuốc bổ cao cấp:
Ngày uống 2-3ml, ngậm trong miệng đến khi tan hết.
NỌC ONG 蜂毒
Apitoxin
Nọc ong là một vị thuốc được nhân dân nhiều nước châu Á và châu Âu biết dùng từ lâu để chữa nhiều bệnh khác nhau.
Nọc ong là sản phẩm của những tuyến đặc biệt trong cơ thể con ong, muốn dùng nọc ong trước đây người ta cho con ong đốt, hay có khi người ta uống con ong, gần đây người ta lấy nọc ong riêng rồi chế thành thuốc với những dạng khác nhau như nhũ dịch, dầu bôi có nọc ong, thuốc tiêm dưới da, di chuyển ion (ionophorese).
Muốn lấy nọc ong hàng loạt, người ta thường kích thích con ong bằng cách giết chết một con ong, đặt lên một màng mỏng có dòng điện, khi những con ong khác đậu vào bị dòng điện kích thích sẽ “đốt “ màng mỏng. Nọc chảy ra người ta hứng lấy để chế thuốc.
A. Tính chất của nọc ong
Nọc ong là một chất lỏng rất sánh, không màu, mùi rất đặc biệt na ná như mùi mật ong, vị bỏng đắng. Tỷ trọng 1,13), phản ứng axit, trong nước có pH 4,5-5,5; trong không khí nọc ong chóng khô, lượng cao khô trong nọc ong chừng 41%. Ở dạng khô, nọc ong giữ nguyên tính chất căn bản một thời gian dài. Trong dung dịch nước (pha loãng 0,1-1%) nọc ong bị phá hủy dần.
B. Thành phần hóa học của nọc ong
Thành phần hóa học của nọc ong rất phức tạp. Người ta mới biết trong nọc ong có:
-
Phần anbumin và chất mỡ.
-
Phần hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp.
-
Các axit amin tự do: xystin, lysin, acginin, glycocol, alanin, methionin, axit glutamic, treonin, leuxin, isoleuxin.
-
Các axit nucleic (desoxyribonucleic và ribonucleic).
-
Các axit muravic, ortophotphoric.
-
Chất béo và các chất có cấu tạo steroit.
-
Tinh dầu
-
Các men hialuronidaza và photpholipaza A.
-
Chất vô cơ, magiê, đồng.
Các nhà nghiên cứu Đức, Nâyman và Khabecman đã tách được phần abumin có tác dụng gọi là melitin, trọng lượng phân tử khoảng 35.000. Melitin bền vững ở nhiệt độ thấp và cả ở nhiệt độ cao, không bị môi trường axit mạnh phá hủy nhưng dễ bị phá hủy ở môi trường kiềm.
Nghiên cứu thành phấn vô cơ của nọc ong, nhà nghiên cứu Liên Xô cũ, Actêmov đã thấy trong tro của nọc ong có 0,4% magiê, ít đồng nhưng hoàn toàn không thấy những kim loại khác như Na, K, Fe thường thấy trong những hợp chất sinh vật khác.
Trong axit hữu cơ tự do và amin, có chừng 1% histamin.
C. Tác dụng dược lý của nọc ong
Tác dụng dược lý có quan hệ nhiều đến melitin, làm tan hồng cầu, có các cơ trơn và cơ vân, hạ huyết áp phong bế một đoạn thần kinh trung ương và ngoại vi, tác dụng lên thành các mạch máu, gây viêm tại chỗ.
Men Hialurodinaza làm tan các chất căn bản của tổ chức liên kết thúc đẩy sự lan truyền của nọc độc, ở trong da và đẩy mạnh tác dụng tại chỗ.
Men photpholipaza phân hủy lexitin và tạo thành lisoxitin có khả năng dung giải các tế bào và làm dung huyết một cách gián tiếp: người ta còn cho photpholipaza làm trì hoãn hoạt đông của thủy phân của các tổ chức và của thrombokinaza, trên cơ sở này người ta cắt nghĩa hiện tượng nọc ong hạ thấp độ đông của máu.
Nhiệt độ cao chỉ phá hủy các men của nọc ong, mà không tác dụng vói melitin: melitin rất vững đối với nhiệt độ và đối với cả môi trường axit mạnh nhưng dễ bị phá hủy trong môi trường kiềm mạnh.
Các nhân tố oxi hóa làm giảm tác dụng của nọc ong, các men dung giả protein, pepsin, trypsin phong bế hoàn toàn nọc ong, phá hủy anbumin của nọc ong chứng tỏ anbumin là chất có tác dụng cơ bản trong nọc ong.
D. Tác dụng trên cơ thể người
Nọc ong có tác dụng thay đổi tùy theo liều cao thấp, nơi bị đốt và đặc biệt cảm ứng riêng của từng cơ thể.
Phụ nữ và trẻ em thường nhạy cảm đối với nọc ong hơn nam giới.
Đối với người có tính cảm ứng bình thường, ong đốt 1, 2 lần chỉ gây phản ứng viêm tại chỗ, đối với người bị ong đốt nhiều lần như những người nuôi ong, có thể xuất hiện sức đề kháng cao.
Tại chỗ, nọc ong thường gây đỏ, sưng, cảm giác đau, xuất hiện đột ngột, có cảm giác như bị bỏng, có thể sốt, nhiệt độ tăng hơn bình thường 2 đến 5°C. Với liều cao hơn (bị chừng 50 đến 200 con ong đốt một lúc có thể nằm liệt giường, ngay sau khi bị đốt, nạn nhân thấy chóng mặt, buồn nôn, chảy nước bọt, mồ hôi ra nhiều, rồi nôn mửa, rối loạn đường ruột, bất tỉnh nhân sự, huyết áp hạ xuống, có những dấu hiệu tan các hồng cầu.
Tuy nhiên ít gặp người nào chết do ong đốt, vì liều chết vào khoảng khi bị 1.000 con ong đốt một lúc. Chết do liệt trung tâm hô hấp.
Với liều vừa đúng, tùy theo từng người, nọc ong có tác dụng chữa bệnh, liều độc so với liều điều trị thường gấp hàng chục lần, và liều chết gấp 100 lần liều điều trị.
Nọc ong làm dãn động mạch và các mao quản, tăng cường sự thâm nhập của máu đến cơ quan bị thương, làm giảm đau. Đối với hệ thống tuần hoàn, nọc ong nâng cao số lượng hemoglobin, bạch cầu ở địa phương và toàn thân, tốc độ huyết trầm hạ thấp, độ nhớt và độ đông máu nhỏ hơn. Nọc ong kích thích cơ tim, hạ huyết áp, ảnh hưởng tới dinh dưỡng, đặc biệt làm giảm cholesterol trong máu.
Nọc ong nâng cao sức lực toàn thân và khả năng làm việc, làm cho ăn ngủ tốt hơn.
E. Công dụng và liều dùng
Nọc ong được dùng điều trị có hiệu quả trong nhiều bệnh, những bệnh nặng và kéo dài, đôi khi khó chữa, như sưng khớp do thấp, bệnh thấp của cơ, sưng khớp truyền nhiễm không đặc hiệu, suyễn, viêm khí quản, nhức đầu, huyết áp cao ở giai đoạn 1 và 2.
Tuy nhiên nọc ong không dùng được đối với bênh lao, bệnh gan và tuyến tụy tạng, bệnh thận kèm đái ra máu, bệnh tuyến thượng thận, suy nhược toàn thân, bệnh máu và các tổ chức tạo máu với khuynh hướng làm chảy máu.
Phụ nữ có thai không điều trị bằng nọc ong.
Có người dùng tiêm nọc ong phối hợp với châm cứu (tiêm vào các huyệt).
ONG ĐEN 黑蜂
Còn gọi là ong mướp, ô phong, hùng phong tượng phong, trúc phong.
Tên khoa học Xylocoba dissimilis (Lep).
Thuộc họ ong Apidae.
Trúc là cây tre, cây nứa, phong là con ong, vì con ong này sống trong đốt tre, cây nứa cho nên có tên. Còn gọi ong mướp vì thường thấy nó đến hút mật ở hoa mướp. Hùng là gấu, tượng là voi đều là những con vật to vì ong này so với ong mật thì to hơn như con gấu con voi đối với nhưng con vật khác.
A. Mô tả con ong đen
Ong đen có màu đen, thân to và tù, dài chừng 0,5cm, toàn thân có lông mền, màu đen nhạt, phía lưng có lông màu vàng nhạt, chân ngắn, đen, cánh màu lam tím, óng ánh, mềm, nhìn qua được. Thường sống trong những hốc cây mục hay trong thân cây tre, cây nứa, có thể sâu tới 30cm hay hơn.
Trong thân cây nứa, ong chia thành ngăn, trong ngăn có phấn hoa và mật, đồng thời đẻ trứng (Hình 720).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 720. Ong đen - Xylocoba dissimilis
B. Phân bố, chế biến
Ong đen sống khắp nơi đồng bằng cũng như miền núi. Tại nước ta còn ít chú ý khai thác. Tại miền Nam Trung Quốc người ta thường bắt ong này vào mùa thu đông là mùa ong sống trong ống tre nứa. Sau khi biết ong ở đâu, người ta nút kín ống tre hay ống nứa lại. Hơ nóng cho ong chết, chẻ ra để lấy mà dùng.
Ong đen bảo quản dễ mốc mọt, phải sấy cho khô, không nên phơi nắng dễ hỏng và dễ mốc mọt hơn. Ong đen có thể là một nguồn xuất khẩu, nên chú ý khai thác.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Có thể người ta sử dụng chủ yếu chất độc của nọc con ong vì ong đen cũng có nọc, đốt cũng đau buốt như ong mật.
D. Công dụng và liều dùng
Ong đen là một vị thuốc được dùng từ lâu đời trong nhân dân. Theo tài liệu cổ, ong đen có vị ngọt chua, tính hàn, không độc, vào 2 kinh vị và đại trường.
Tác dụng của ong đen là thanh nhiệt, tả hỏa khử phong dùng trong những trường hợp sâu răng, miệng lở loét, đau cổ họng, trẻ con kinh phong.
Ngày dùng 2 đến 4 con tán nhỏ uống.
Theo tài liệu cổ những người hư hàn, không hỏa không nên dùng.
Chú thích:
Ngoài con ong đen trên, người ta còn dùng con ong đen Xylocopa phalothorax nhỏ hơn, nhưng không dùng con có đốm trắng ở đầu.
YẾN 燕
Còn gọi là hải yến, huyền điểu, du hà ưu điểu, yến hoa, yến thái, quan yến, kim ty yến.
Tên khoa học Collocalia sp.
Thuộc họ Vũ Yến Apodidae.
Người ta dùng tổ con chim yến (Nidus Collocaliae). Chim yến thuộc nhiều loài: Yến đảo Giava Collocalia thunbergi; yến lưng màu tro Collocalia inexpectata Hume; yến một màu Collocalia unicolor Gordon; yến đảo Hải Nam Collocalia linchi affinis Bearan, yến sào Collocalia francica vestida đều thuộc họ Vũ yến Apodidae.
A. Mô tả con vật
Hải yến giống con chim én (cũng gọi là yến) nhưng lông không đẹp, hót không hay, mình nhỏ, cánh dài và nhọn, đuôi ngắn, mỏ cong, lông ở lưng và bụng màu xám, lông đuôi và cánh đen như huyền do đó người ta thường gọi loại yến này là “huyền điểu” (chim đen màu huyền), hay “hải yến” (chim yến ở biển), hoặc “du hà ưu điểu” (chim bay trên sóng nước).
Nhiều loại yến khác cũng được khai thác; tất cả đều nhỏ và thân thường chỉ dài 9-10cm, con cái to hơn con đực, nặng chỉ khoảng 7-10g, đầu mỏ hơi cong, ngón chân có màng, cánh nhỏ dài, thường bơi lội trên mặt nước hoặc bay lướt trên mặt nước, đớp lấy động vật trong biển hoặc đồ ăn ở tàu thuyền vứt bỏ để làm thức ăn.
Đừng nhầm với chim én mình thon, mỏ rộng, đuôi dài và chẽ thành hình chữ V tuy thuộc cùng họ, nhưng khác loài và không cho yến, vì không làm tổ bằng chất dãi như chim yến nói trên (Hình 721, Hm 58,1).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 721. Chim yến - Collocalia sp.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Chim yến cho yến sống rải rác ở những hải đảo vùng đông nam châu Á, Inđônêxia, Philipin, miền nam Trung Quốc (bờ biển Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam).
Ở Việt Nam chim yến cho yến sống nhiều ở ven biển từ Quảng Bình đến Hà Tiên. Có ba vùng đặc biệt nổi tiếng: Cù lao Chàm (thuộc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng), Mũi én và vùng biển thuộc tỉnh Khánh Hòa. Tại những vùng này yến sống rất đông ở nhiều đảo. Nhưng yến thường ở tại những nơi rất hiểm hóc: Khi thì ở những mũi đá lởm chởm dựng đứng, khi thì ở những mỏm núi cheo leo, phía dưới là vịnh nước đen sâu đầy đá ngầm, muốn tìm và đến được những nơi yến ở để lấy tổ yến phải rất kiên nhẫn và rất dũng cảm.
Người ta tìm tổ yến để lấy “yến sào”. Yến sào tức là cái tổ của con chim yến, ở đây yến sống và sinh nở. Nhưng khác với những loài chim khác đến mùa sinh đẻ thường tha rác, cành cây về làm tổ, còn chim yến, làm tổ bằng chất nước dãi của mình. Người ta cho rằng, ban ngày chim yến đi kiếm ăn, nuốt cá con trong biển, rồi đêm đến nhả nước dãi thành những vành tròn hình xoáy trôn ốc để xây tổ. Ban đầu tốc độ chậm, nhưng vào mùa gió nồm thổi thì tốc độ nhanh hơn. Vào đầu tháng 4 yến làm xong tổ và thời kỳ này cũng là bắt đầu mùa thu hoạch tổ yến đầu tiên. Nếu thu hoạch kịp thì chim yến mất tổ, còn thời gian làm lại tổ khác. Đợt làm tổ thứ hai này kéo dài 2-3 tháng, kịp vào tháng 6 là mùa yến sinh nở. Yến đẻ trứng, sau 25 ngày trứng nở, chờ sau 75 ngày nữa cho yến non đủ lớn mới nên lấy tổ. Đợt thu hoạch tổ này kém vụ thứ nhất do mồi là thức ăn chính của yến ít đi. Tùy theo màu sắc, người ta phân biệt tổ yến ra mao yến (hay quan yến) và huyết yến.
Mao yến là tổ của hải yến lúc đầu mới làm để đẻ trứng. Vì khí hậu còn lạnh, trong tổ có nhiều lông yến màu tro đen, hình tổ hơi giống hình bán nguyệt, mặt bám vào hang đá thì tương đối bằng, mặt hướng ra ngoài hơi vồng lên, dài độ 6-10cm, rộng 3-5cm, mặt trong lõm vào, bên ngoài màu tro trắng, lẫn lộn nhiều lông yến, toàn thể do nhiều lớp sợi xơ chồng lên mà thành, mặt bám vào hang đá thì xơ chằng chịt, ngổn ngang, sần sùi, mặt lưng vồng lên thì sợi xơ tương đối mịn, sắp xếp thành hình sóng lượng, bên trong tổ thì sần sùi như xơ mướp, chất cứng mà dòn, dễ gẫy, chỗ gẫy trong như chất sừng. Một tổ yến chỉ nặng khoảng 10g (Hình 722).
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0978.jpg]
Bạch yến hay quan yến là tổ có lông lần đầu tiên bị lấy mất, con yến làm lại tổ lần thứ hai, màu trắng tinh, nửa trong suốt, mặt lưng lồi lên tương đối bằng, trơn, thỉnh thoảng cũng có lông yến lẫn vào, hình dáng lớn nhỏ cũng giống như mao yến, thứ này phẩm chất rất tốt.
Huyết yến về hình dáng, kích thước cũng như bạch yến, chỉ khác ở chỗ có sợi xơ màu huyết đỏ nâu. Người ta cho rằng do khi con mẹ nhả dãi làm tổ, trong dãi yến mẹ có lẫn máu. Yến huyết rất hiếm và rất quý. Người ta tính trên một đảo yến, một vụ chỉ thu được 2-3kg huyết yến là cùng.
Người ta còn dựa vào màu sắc mà phân biệt ra yến thiên là yến có màu vàng, yến địa là yến có màu xám, hơi nham nhở xù xì, yến bài là loại tổ yến đang làm dở.
Mùa thu hoạch tổ yến thường từ tháng 4, tháng 8 đến tháng 12 là tốt. Năm 1976 riêng trong đợt I ty thủy sản tỉnh Nghĩa Bình đang phấn đấu khai thác 150kg yến sào, nhiều nhất ở 2 xã Phước Hải và Phước Châu (Quy Nhơn).
Trước đây một kg yến sào trị giá bằng một lạng vàng.
C. Thành phần hóa học
Phân tích tổ yến người ta thấy có gần 50% chất protit, 30,55% gluxit và 6,19% tro.
Trong protit thấy có 2,7% histidin, 2,7% acginin, 2,4% xystin, 1,4% tryptophan và 5,6% tyrosin.
Trong tro có Photpho, sắt, kali và canxi.
Hoạt chất chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thì yến sào được thấy ghi đầu tiên trong “Bản thảo cương mục thập di” (1765): Tính chất của yến sào được ghi là vị ngọt, tính bình, vào hai kinh phế và vị. Tác dụng của nó là nuôi phế âm, tiêu đờm, hết ho.
Thường dùng chữa hư yếu, ho lao, sốt từng cơn, hen suyễn, thổ huyết. Thường dùng làm món ăn bổ trong những bữa tiệc lớn. Làm thuốc, yến sào được dùng làm thuốc bổ dưỡng, chữa gầy yếu, ho hen, lao, thổ huyết, ngày dùng 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc: cho yến sào vào túi vải, thêm nước vào đun sôi, để lắng mà uống.
Theo tài liệu cổ thì đối với những người biểu tà, vị hư hàn không dùng được.
Bình luận