Cỏn gọi lù thuỷ liểu, chi krassang tomhom (Cãmpuchia), phăk phèo (Vièntian).
Tên khoa học Polygonum odoratum Lour.
Thuộc họ Rau răm Polygonaceae.
A. Mô tả cây
Cày sống hàng năm, toàn thân rễ và lá vò đều có mùi thơm dặc biệt dễ chịu. Thân mọc bò, từ mỗi đốt mọc ra rất nhiều rẻ, có từng phần thân mọc thẳng đứng lên cao chừng 35-40cm. Lá đơn mọc so le, hình mác hay hình trứng mác, cuống ngán. Bẹ chìa ngắn, chỉ đạt 1/4 hay 1/5 chiểu dài mồi đốt, trên mặt có những gân chạy song song, dài khỏi bẹ chìa thành những lóng dài. Hoa mọc thành bông hẹp, gầy, đơn độc hoặc xếp đôi hay thành chùm có ít nhánh. Quả nhỏ, ba cạnh, hai đầu nhọn, bóng nhẩn (Hình 428).
B. Phán bố, thu hái và chế biến
Rau râm được trồng ở khắp nơi nước ta chủ yếu để làm gia vị. Một số người hái thân và lá dùng làm thuốc. Thường dùng tươi, không phải chế biến gì khác.
C. Thành phần hoá học
Toàn cây chứa một tinh dầu màu vàng rơm nhạt, mùi thơm mát dễ chịu. Hoạt chất khác chưa rõ.
Năm 1985, Roger Moser đã nghiên cứu tinh dầu rau răm lấy giống ở Việt Nam đem về írổng ở Thụy Sĩ thấy trên sắc ký khí khối phổ có tới 38 pic trong đó chủ yếu (85%) là các aldehyd aliphatic và alcool.
D. Cồng dụng và liều dùng
Chủ yếu nhân dân ta vẫn trổng để làm gia vị. Có người cho ràng rau răm có tác dụng dịu tình dục cho nên các người đi tu thường dùng để giảm những cơn bốc dục. Ngoài ra còn có tác dụng kích thích sự tiêu hoá, kém ăn, chữa rắn cắn. Mỗi ngày dùng 15-20g thân và Lá tươi.
Để chữa rắn cán, người ta hái lấy khoảng 20 ngọn rau rãm giã nát vắt lấy nước uống. Bã đắp lên nơi rắn cắn. Thường trong vòng 15 phút sau đỡ đau và sau 3 giờ hết sưng táy.
Tại Cămpuchia, rau răm được coi là một vị Ểhuốc thông tiểu, chữa sốt, chống nôn.
Chữa hác lào, sâu quảng: Cả cây giã.nát, thêm rượu vào, bôi lên nơi hắc lào, chốc lở đã rửa sạch.
Còn gọi là bông vang, ambrette, ketmie musquée.
Tên khoa học Hibiscus abeỉmoschus L. (Abelmoschus moschatus Moench.).
Thuộc họ Bông Maỉvaceae.
A. Mô tả cây
Vông vang là một cây thân cỏ cao khoảng lm, phía gốc hơi thành gỗ và thân hơi có lông. Lá hình tim, có cạnh hoặc chia thùy khá sảu cả hai mặt đều phủ nhiều lông. 5 thuỳ hình ba cạnh, mép có răng cưa, trên có 3-5 gân chính. Hoa màu vàng, mọc đơn độc ở nách lá phía trên, cuống hoa phủ lông và phía sát hoa hơi phình lên. Quả thuôn trên phủ đầy lôrỉg trắng nhạt, chiều dài quả 4-5cm, với 5 cạnh, phía trong cũng phủ lông, chứa nhiều hạt hình thận, dẹt, dài 3- 44mm, rộng l-2mm, trên mặt có những đưòrng nhăn đồng tâm xung quanh rốn hạt. {Hình 429).
B. Phán bờ, thu hái và chế biến
Mọc hoang khắp nơi ở những ruộng và những vùng mới vỡ hoang, trên những đồng cỏ. Có nơi trồng lấy hạt và rễ dùng trong công nghiệp nước hoa hoặc làm thuốc. Còn thấy ở Ấn Độ, Malaixia, Trung Quốc, Philipin.
Chủ yếu người ta dùng hạt làm thuốc hay để chế tinh dầu dùng trong nước hoa. Chất nhầy trong rễ được dùng làm chất dính trong nghể giấy hay làm tinh bột.
C. Thành phần hoá học
Hạt chứa dầu mùi xạ hương cho nên trên thị trường thường có tẽn hạt xạ (graine d’ambrette). Tinh dầu đặc ở nhiệt độ thường, màu vàng nhạt, mùi thơm của xạ, thành phần chủ yếu của tinh dầu là chất panmitìn, famesola và ambretolite C16H2a02. Khi loại axit panmitìc ta sẽ được một tinh dầu lỏng, được hãng Schimmel đưa vào thị trường từ năip 1902, tinh dầu này mạnh hơn tinh dầu thiên nhiên gấp 6 lần và với 5 hay 6 thể tích cồn 80° cho một dưng dịch trong. Thường người ta chiết tinh dầu vông vang bầng dung mồi, là một loại tinh dầu cao cấp có tác dụng làm dậy mùi và bền mùi, giá rất đất.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 429. Vông vang - Hibiscus abelmoschus
Rễ có chứa chất nhày như rễ sâm bổ’ chính.
D. Công dụng và liều dùng
Hạt được dùng trong công nghiệp tinh dầu. Nơi sản xuất chủ yếu trên thế giới là đông Ân Độ và đảo Mactinic. Tại Ân Độ và Malaixia người ta dùng cho vào quẩn áo chổng nhậy.
Về y dược, hạt vông vang được dùng Làm thuốc trấn kinh, chữa di tinh và thông tiểu. Ngày dùng 4 đến 6g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Còn dùng chữa rắn cắn (xem vị bông báo)
Rẻ do chất nhầy được dùng để hổ giấy, hoặc chế tinh bột. Có khi được dùng làm thuốc bổ, thuốc mát thay sâm bố chính.
Đơn thuốc có hạt vông vang
Chữa rắn cẩn:
Lấy 50 hạt hoặc nhiều ít tùy theo nặng nhẹ, khi bị rắn cắn nhai nhò nuốt nước. Bã đắp lên vết rán cấn (Y học thực hành, 9/1961: 22).
Cỏn gọi là dong, cây lùn, toong chinh (Thái).
Tên khoa học Phrynium parviýỉorum Roxb.
Thuộc họ Hoàng tinh (Marantaceae).
A. Mô tả cây
Cỏ cao khoảng lm. Lá to hình trứng thuôn dài đầu nhọn, nhẵn, dài 35cm, rộng 12cm, cuống dài 22cm, trong đó 2~3cm phía trên nhẵn. Cụm hoa hình đầu, không cuống, nằm trong bẹ của lá, đường kính 4-5cm gồm 4-5 hoa. Cánh hoa màu trắng hay đỏ. Quả hình trứng dài llmm, một phía khum nhiều hơn phía kia. Hạt thuôn dài với áo hạt gồm 2 phiến.
Mùa hoa quả: tháng 4-6 (Hình 430).
B. Phãn bố, thu hái và chế biên
Cây mọc hoang ở khắp núi rừng những nơi ấm ướt. Còn thấy mọc ờ Ân Độ, Inđônêxya, nam Trung Quốc. Được trổng để lấy lá gói bánh.
Lá còn dùng làm thuốc, có thể thu hái quanh năm. Dùng tươi.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu
D. Công dụng và liều dùng
Lá dong được dùng chủ yếu để gói bánh chưng, bánh chưng gói lá dong sau khi luộc lên có một mùi thơm đặc biệt và dễ chịu. Lá dong non được dùng chế dấm: Lá dong non nhúng vàọ rượu, hoặc lá dong ngâm trong nước đường
Hĩnh 430. Lá dong - Phrynìum parviỊìorum ì. Cây: 2 Quả
(một phần đường, ba phần nước).
Lá dong được nhân dân dùng làm thuốc dã rượu chữa say rượu, còn dùng làm thuốc giải độc: Ngày uống 100-200g giã nát, vắt lấy nước cho uống.
Chữa rắn cắn: Lá dong nhai nát nuôt nước lấy bã đắp lên nơi rắn cắn.
Bình luận