BẠCH CƯƠNG TÀM 白殭蚕
Còn gọi là cương tàm, cương trùng, thiên trùng.
Tên khoa học Bombyx cum Botryte, Bombyx botryticatus.
Bạch cương tàm là con tằm Bombyx mori L. thuộc họ Tằm Bombycidae bị một bệnh do khuẩn Botrytis bassiana Bals hoặc Beauveria bassiana (Bals) Vuill làm chết cứng, sắc trắng như vôi.
A. Tính chất
Tại những nơi nuôi tằm, người ta lấy những con tằm tự nhiên bị bệnh mà chết, cho vào vôi để sấy khô là được.
Bạch cương tàm hình con tằm, thường cong queo, dài chừng 3,5cm, đường kính ước 5mm, bề ngoài màu trắng bẩn, hay màu nâu bẩn hơi lốm đốm trắng; chất cứng nhưng dòn, khi bẻ đôi, vết bẻ có màu xanh nâu, mùi hơi khắm, vị hơi đắng (Hình 723).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 723. Bạch cương tàm - Bombyx cum Botryte
B. Thành phần hóa học
Chưa rõ hoạt chất của bạch cương tàm là gì. Chỉ mới biết trong bạch cương tàm có chừng 67,44% chất protit, 4,38% chất béo, 6,34 tro và 11,34% độ ẩm. Theo Nhật Bản nội khoa hội tạp chí, 46 (7), 801 (1957) chất protit của bạch cương tàm có tác dụng kích thích của hocmon vỏ thượng thận.
C. Công dụng và liều dùng
Bạch cương tàm là một vị thuốc chỉ thấy dùng trong phạm vi nhân dân để chữa những trường hợp kinh giản, co giật của trẻ em, trẻ em khóc đêm, bị cảm, mất tiếng, xuất huyết não, cổ họng sưng đau, con trai liệt dương, con gái băng huyết, khí hư trắng hay đỏ, đẻ xong đau bụng.
Còn dùng chữa những vết đen sạm trên mặt.
Ngày uống 4 đến 8g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Tính chất ghi theo tài liệu cổ về bạch cương tàm là: Vị mặn, cay, tính bình và không có độc, vào 4 kinh tâm, can, tỳ và phế. Có tác dụng khứ phong hóa đờm. Dùng chữa kinh giản, cổ họng sưng đau, trúng phong mất tiếng, đầu phong răng đau, đơn độc. Những người huyết hư không phải phong tà không dùng được.
Đơn thuốc có bạch cương tàm
-
Chữa mặt đen sạm: Bạch cương tàm tán nhỏ, hòa với nước bôi vào, vết sạm sẽ mất.
-
Chữa thiên đầu thống: Cương tàm tán nhỏ, hòa với nước chè uống, có khi uống cùng với nước hành.
-
Chữa viêm amiđan cấp tính: Bạch cương tàm 10g, phèn chua 5g, phèn đen 5g trộn đều, tán thật mịn, đổ vào lọ để dành. Khi dùng lấy lá bạc hà 5g, sinh khương 5g, sắc với ít nước hòa tan vào đó 5g bột nói trên, chùi vào cổ họng cho mửa ra thật nhiều đờm. Đây là bài khai quan tán ghi trong tập Thánh Huệ phương.
BỌ CẠP 全蠍
Còn gọi là toàn trùng, yết tử, yết vĩ, toàn yết.
Tên khoa học Buthus sp.
Nếu dùng cả con bọ cạp làm thuốc thì gọi là toàn yết. Nếu chỉ dùng đuôi không thôi thì gọi là yết vĩ.
A. Nguồn gốc và chế biến
Tuy trong nước ta có nhiều loài bọ cạp, nhưng cho đến nay ta vẫn phải nhập bọ cạp ở nước ngoài về làm thuốc.
Con bọ cạp ở nước ta đã được xác định thuộc chi Buthiurus hoặc chi Heteronetrus. Thực tế ta có thể dùng nhiều loài khác nhau.
Vì toàn yết hiện nay ta dùng làm thuốc thuộc loài Buthus martensii Karsch thuộc họ Bọ cạp Buthidae. Đây là một loài có đốt, thường sống ở dưới những hòn đá hoặc khe vách; đầu và ngực ngắn; bụng tương đối dài hơn, phía dưới của bụng thót lại và dài, cuối cùng có ngòi mang nọc độc (Hình 724).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 724. Bọ cạp - Buthus sp.
Thường bắt bọ cạp vào mùa xuân và mùa hạ; khi bắt được cho ngay vào chậu hay nồi nuớc trong hoặc nước có pha thêm muối ăn (mỗi kilogam bọ cạp cho thêm 300 đến 500g muối ăn). Đậy vung lại và đun từ 3 đến 4 giờ cho đến khi cạn nước; lấy bọ cạp ra phơi mát cho khô, không nên phơi nắng, vì nếu phơi nắng, muối có thể kết tinh. Khi dùng lại phải ngâm nước rửa cho sạch hết muối đi.
Gần đây do nhu cầu lấy nọc bọ cạp để điều trị những rối loạn của hệ thần kinh một số nước đã chú ý nuôi bọ cạp lấy nọc làm thuốc. Như ở thủ đô nước CHXV Kazacstan có một nông trường chuyên nuôi bọ cạp. Mỗi năm có thể sản xuất 30g nọc đủ cung cấp cho một số cơ sở y tế trong nước và xuất khẩu. Nông trường có 16.000 con bọ cạp, mỗi con được nuôi trong 1 lọ riêng vì chúng sống đơn độc. Muốn có 1g nọc cần lấy ở 8.000 con 1 lần. Có thể dùng những xung điện để bắt bọ cạp tiết nọc nhiều lần. Nọc bọ cạp đắt hơn nọc rắn: 1g trị giá 20.000rúp (Tuần tin tức số 34 ngày 24/8/85).
B. Thành phần hóa học
Trong bọ cạp có chất độc gọi là Katsutoxin (có tác giả gọi là buthotoxin), đây là một chất protit có cacbon, hydro, oxy, nitơ và sunfua. Độc tính của nó đối với thần kinh gần giống độc tính của nọc rắn hay nọc độc một số con vật khác. Pha loãng có tác dụng kích thích tim ếch và mèo nhưng nếu đặc quá thì lúc đầu có tác dụng kích thích sau tê liệt.
Ngoài katsutoxin ra, trong bọ cạp còn có trimetylamin, betain, taurin, axit panmitic, axit stearic, cholesterol, lecxitin và các muối amôn khác.
C. Công dụng và liều dùng
Toàn yết là một vị thuốc được dùng trong đông y làm thuốc trấn kinh, chữa trẻ em kinh phong, uốn ván; còn dùng làm thuốc kích thích thần kinh, bán thân bất toại, bị cảm mồm miệng méo xệch.
Theo tài liệu cổ, toàn yết có vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc, vào kinh can. Có tác dụng khu phong, trấn kinh. Dùng chữa kinh giản, phá thương phong, cảm mồm méo, mắt xếch, bán thân bất toại. Người huyết hư sinh phong không dùng được.
Nếu dùng thuốc sắc thì ngày dùng 3 đến 5g; nếu dùng thuốc bột hay thuốc viên thì chỉ dùng 2 đến 3g, chia làm 2 hay 3 lần uống.
Đơn thuốc có bọ cạp
Thuốc chữa trẻ em kinh phong, người lớn sau khi ngất bị bán thân bất loại, thiên đầu thống (kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền):
Toàn yết (bỏ đầu, chân) 3g, địa long (rửa sạch, sao vàng) 3g, cam thảo 2g, tất cả tán bột. Chia làm 5 hay 6 lần uống trong ngày. Dùng nước nóng mà chiêu thuốc.
NHỰA CÓC 蟾酥
Còn gọi là thiềm tô.
Tên khoa học Secretio Bufonis.
Thiềm tô (Secretio Bufonis) là nhựa tiết ở tuyến sau tai và tuyến trên da của con cóc (Bufo bufo thuộc họ Cóc-Bufonidae và những con cùng chi) chế biến mà thành. Loài cóc phổ biến ở nước ta là Bufo melanostictus.
Ngoài nhựa cóc (thiềm tô) con cóc còn cho ta thịt cóc dùng làm thuốc chữa bệnh cam còm của trẻ con (Hình 725, Hm 58,5).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 725. Con cóc và vị thiềm tô - Secretio Bufonis
Vị thuốc có độc. Nhựa cóc thuộc loại thuốc độc bảng A. Cần chú ý, dùng phải cẩn thận.
A. Chế biến thiềm tô
Có nhiều cách bắt cóc. Tùy theo từng nơi có khác nhau. Có thể đợi đến tối, thắp một cái đèn để ở giữa cánh đồng, cóc thấy sáng nhảy tới mà bắt lấy. Bắt được cho vào dọ tre, dội nước cho thật sạch đất cát, chờ cho da hơi khô, thì bắt từng con, lấy tay trái giữ chân, tay phải dùng nhíp đè lên lưng cóc, vào những chỗ có tuyến tiết, chủ yếu ở 2 tuyến trên mắt. Hứng lấy nhụy đựng vào dĩa bằng sành hay sứ hoặc thủy tinh, tránh dùng đồ sắt, nhựa sẽ bị đen. Sau khi lấy nhựa xong có thể lại thả cóc ra, hoặc nếu định lấy thịt thì sẽ đem mổ (xem ở dưới).
Sau khi lấy được nhựa cóc phơi khô trên kính hay cho vào khuôn. Khoảng 1 vạn con cóc cho 1kg nhựa cóc khô (Đỗ Tất Lợi, Đào Kim Long, Dược học 1973, 5: 15-19).
Khi lấy nhựa cóc cần chú ý kẻo nhựa cóc bắn vào mắt. Nếu bị nhựa cóc bắn vào mắt thì lập tức dùng nước ép của cây tử thảo mà rửa thì khỏi sưng.
Ta có thể kích thích vào những hạch tiết ở gần mắt của cóc. Hoặc cho cóc vào cái hộp hay bình thủy tinh, đậy nấp có lỗ, qua lỗ luồn vào một que tre mà kích thích con cóc cho chảy nhựa.
Nhựa tiết ra đem phơi như trên: Có nơi lại trộn nhựa với bột nặn thành bánh tròn nhỏ, dẹt, đường kính 2,5-6cm. Do cách chế biến khác nhau hình dáng và chất lượng có thể khác nhau. Ở Việt Nam, việc thu hoạch nhựa cóc chưa được chú trọng. Thường vẫn phải nhập. Lẻ tẻ có người lấy một ít để dùng riêng.
B. Chế thịt cóc và cóc khô
Ngoài hình thức dùng nhựa cóc nói trên, trong nhân dân còn dùng thịt cóc để chế thuốc cam chữa bệnh cho trẻ con như sau:
Chọn những con cóc to, cóc đen hay da vàng đều dùng được. Trong nhân dân hiện nay chỉ tránh dùng loại cóc mắt đỏ. Dùng dao, thật sắc chặt đầu ở phía dưới 2 u to trên đầu mà bỏ đi. Khía dọc xương sống và lột hết da, moi bỏ hết ruột gan, phổi và nhất là trứng cóc. Trong khi chế biến cần tránh không để cho mủ (nhựa) cóc dính vào thịt: Muốn vậy, sau khi thịt cóc xong cần rửa cho thật sạch, khỏa mạnh vào nước, cho vào chảo gang rang cho khô dòn (hoặc có thể sấy cho khô dòn) mà tán thành bột. Khi để lâu cần để hết sức khô ráo, tránh ẩm dễ thối hỏng. Có nơi để nguyên cả con, cả xương phơi khô.
Tại Trung Quốc người ta cũng dùng hình thức này gọi là cóc khô: Can thiền-Bufo Siccus, cũng mổ, bỏ ruột, bỏ gan trứng rồi phơi hay sấy khô. Cần chú ý bỏ hết gan ruột và toàn bộ trứng cũng như da vì có độc, ở ta đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc rất thương tâm do chế không đúng phương pháp.
Còn có nơi bắt được cóc, buộc chân cho không nhảy được, bọc đất cho kín, rồi đem nung cho đến khi cục đất đỏ như cục than hồng, lấy ra đập bỏ đất lấy than con cóc mà dùng làm thuốc. Cũng có khi người ta để nguyên cả con cóc sống kẹp giữa hai hòn gạch, đem nung đỏ, lấy than cóc còn lại mà dùng.
Dù sao, dùng nhựa cóc hay thịt cóc cần hết sức chú ý đến liều lượng không được dùng quá.
C. Thành phần hóa học
a) Trong nhựa cóc có những chất tác dụng không mạnh như cholesterol, axit ascocbic, các chất phá huyết, còn có những chất rất độc như: bufogin, bufotalin, bufotoxin, bufotenin, bufotenidin, bufotionin, và nhiều hoạt chất khác chưa biết rõ.
Các hợp chất này có thể chia làm 3 loại:
-
Hợp chất không có nitơ giống như chất scilaridin hay như những genin và glucoxit chữa tim có trong lá dương địa hoàng Digitalis.
-
Hợp chất dẫn xuất của nhóm steroit.
-
Hợp chất chứa nitơ dẫn xuất của hydroxyindol và tryptamin.
Chất căn bản trong các hợp chất đó có thể là chất bufotoxin C₄₀H₆₂O₁₁N₄ hay viết cho đúng hơn C₄₀H₆₀O₁₀N₄OH₂. Bufotoxin là một chất có tinh thể, không tan trong nước, trong ête, axeton, ít tan trong rượu, tan trong pyridin, rượu metylic. Độ chảy: 204-205°C. Đun sôi với HCl đặc, nó sẽ cho acginin, axit suberic và một chất mới gọi là bufotalin.
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0983.jpg]
Bufotalin hay bufotalol không phải là một glucozit vì khi thủy phân không cho phần đường. Công thức của nó là C₂₆H₃₆O₆. Đây là một chất có tinh thể, ít tan trong nước và trong ête, tan trong rượu và clorofoc. Độ chảy 148°C, có tác dụng giống như một chất glucozit chữa tim. Bufotalin là một hợp chất thuộc nhóm steroit, có nhân căn bản là nhân metyl-cyclo-penteno-phenanthren. Khi phân tích, nó cho một đồng phân của axit desoxycholic, do đó có liên quan tới axit mật.
[]
Bufotalin
Bufogin hình như là estemetylic của bufotalin.
Chất bufotenin C₁₂H₁₆ON₂ là một chất kiềm, tính chất như dầu, ít tan trong nước, tan trong rượu, ête, axeton, cho với axit các muối có tinh thể. Độ chảy 147°C.
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0984.jpg]
Nó là dẫn xuất của nhân indol và có công thức 5 hydroxy-N metyl tryptamin.
Chất bufotenidin có kiến trúc căn bản như bufotenin.
Chất bufothiodin C₁₂H₁₄O₄N₂S khi thủy phân sẽ cho axit sunfuric.
b) Trong thịt cóc, theo sự nghiên cứu của Viện vệ sinh Hà Nội, tháng 3-1962, thì có 53,31% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit, 23,56% tro và 4,18% độ ẩm.
Trong protit có rất nhiều axit amin có giá trị (Viện vệ sinh Hà Nội, tháng 7-1961) chủ yếu là asparagin, histidin, axit glutamic, glycocol, threonin, axit aminobutyric, tyrosin, methionin, leuxin, isoleuxin, phenylanin, tryprophan, xystein. Như vậy giá trị dinh dưỡng của thịt cóc rất cao.
Năm 1975 Trần Tích và cộng sự (Y học Việt Nam 1. 1975: 1-8) đã phân tích trong thịt cóc có hàm lượng mangan và kẽm khá cao hơn so với một số thịt khác như ếch, gà, bò và lợn:
Kẽm Mangan
(mg %) (mg %)
Cóc 2,45 2,89
Ếch 0,30 0,40
Gà 1,80 0,10
Bò 1,40 0,25
Lợn 0,60 -
D. Tác dụng dược lý
Nhựa cóc có một số tác dụng như sau:
Tác dụng gây tê cục bộ. Khi đắp nhựa cóc lên da hay niêm mạc thì lúc đầu thấy có hiện tượng kích thích, sau thấy tê cục bộ. Người ta chưa rõ tác dụng đó do chất gì trong nhựa cóc.
Tác dụng trên tim gần giống chất glucozit chữa tim trong dương địa hoàng (Digitalis). Năm 1933, Trần Khắc Khôi và cộng tác đã tiến hành nghiên cứu tác dụng của nhựa cóc lên tim động vật, kết quả chủ yếu như sau:
-
Khi tiêm dung dịch loãng nhựa cóc vào màng bụng của ếch thì thấy tim đập chậm lại, dần dần ngừng ở thể tâm thu.
-
Tiêm dung dịch nhựa cóc vào tĩnh mạch chó và mèo gây mê thì thấy tim đập chậm lại, không theo quy luật gì cả, đồng thời huyết áp tăng cao; nếu tiêm liều cao thì tim ngừng đập mà chết.
-
Nếu nhìn điện tâm đồ của mèo gây mê bằng ête rồi tiêm dung dịch nhựa cóc thì thấy P-R dài ra, tim đập chậm lại. Nếu như tnrớc khi tiêm nhựa cóc đem cắt hai bên dây vagus (thần kinh phế vị) hoặc tiêm atropin, thì không thấy ảnh hưởng. Trần Khắc Khôi cho rằng độc tính của nhựa cóc là do tác dụng trên thần kinh vagus hoặc trực tiếp trên cơ tim.
-
Khi uống nhựa cóc, có thể có tác dụng kích thích trên niêm mạc dạ dày và gây nôn như khi dùng dương địa hoàng (Digitalis).
Lấy riêng từng chất trong nhựa cóc thì:
Các hợp chất sterolic có tác dụng chủ yếu đối với tim.
Các hợp chất có nitơ, có tác dụng chủ yếu trên cơ trơn ở ruột và trung tâm thần kinh.
Bufotalin tác dụng vận mạch ở thân như digitalin, làm chậm hô hấp và tăng biên độ. Đối với người, nó làm tăng áp lực tim bóp mà không giảm áp suất tâm dãn (diastolic) do đó biên độ tim tăng lên.
Bufotenin sẽ gây tăng huyết áp với hiện tượng kéo dài co mạch ở thận. Bufotenidin có tác dụng tăng huyết áp mạnh.
Do đó chúng ta thấy tác dụng của nhựa cóc rất phức tạp.
E. Công dụng và liều dùng
Hiện nay tây y không dùng cóc và nhựa cóc chữa bệnh. Trái lại đông y rất hay dùng cóc trong một số bệnh hiểm nghèo. Nhựa cóc là một trong số 6 vị trong đơn thuốc lục thần hoàn. Trong nhân dân dùng cóc, nhựa cóc chữa các bệnh chó dại, trẻ em kém ăn gầy còm, chậm lớn, phát mụn nhọt, cam răng.
Theo tài liệu cổ, nhựa cóc có vị ngọt, cay, tính ôn, có độc, vào kinh vị. Có tác dụng giải độc, tán thũng, giảm đau. Dùng ngoài và uống trong đều được. Dùng chữa phát bối, đinh độc, yết hầu sưng đau, đau răng.
Liều dùng: Nhựa cóc dùng với liều rất thấp, cần chú ý có thể ngộ độc chết người; không phải thầy thuốc quen dùng không nên tự động.
Ngày uống 1mg đến 10 hay 20mg dưới dạng bột hay viên.
Thịt cóc khô dùng với liều 2-3g tán bột uống hay làm thành thuốc viên.
Đơn thuốc có thịt cóc và nhựa cóc dùng trong nhân dân
- Lục thần hoàn: Chữa sốt nặng trúng độc, mê man tim suy nhược.
Xạ hương 1g, thiềm tô (nhựa cóc) 1g, tây ngưu hoàng 1,50g, minh hùng hoàng 1g, châu phấn (trân châu) 1,50g, băng phiến 1g, thiềm tô để riêng, các vị khác đem tán nhỏ, thêm thiềm tô tẩm rượu vào, làm thành viên to bằng hạt cải (bằng đầu đinh ghim); dùng muội bếp (bách thảo sương) làm áo thuốc viên. Mỗi lần uống 5-10 viên, ngày uống 1-2 lần.
- Bài thuốc cam cóc chữa suy dinh dưỡng (do gia đình cụ Nguyễn Trọng Tấn cống hiến cho Viện nghiên cứu đông y và đã được hợp tác xã Vinh Ngãi sản xuất).
Bột cóc 10 phần, bột chuối 14 phần, lòng đỏ trứng 2 phần.
Cách làm như sau: Bột cóc chế như phần trên đã nói, trứng gà đập bỏ lòng trắng, lấy lòng đỏ hấp chín, sấy khô, tán thành bột. Chuối bỏ vỏ, bổ dọc sấy cho vừa dẻo nhuyễn. Cả ba thứ trộn đều làm thành viên, mỗi viên 4gam. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 viên. Chữa trẻ con bị suy dinh dưỡng, gầy còm, biếng ăn, ỉa chảy. Dùng luôn trong 2-3 tháng.
- Bài thuốc khác chữa cam tích trẻ em: (bụng to, người vàng, gầy).
Bắt cóc, lột bỏ da, bỏ cả đầu mình, ruột, gan và trứng. Chỉ lấy hai cái đùi, phết dầu vừng hay mỡ nướng ăn. Ăn luôn trong 5-6 ngày, mỗi ngày một lần.
- Bài thuốc chữa cam tẩu mã: Con cóc lấy đất bọc kín, đốt thành than. Cân lấy 12g, hoàng liên 10g, thanh đại 4g, xã hương 0,8g. Tất cả tán nhỏ, xỉa vào chỗ răng và lợi bị cam đã rửa sạch bằng nước muối.
Chú thích:
Là vị thuốc có độc, nên khi chế biến phải sạch và làm theo đúng sự hướng dẫn của thầy thuốc.
DẠ MINH SA 夜明砂
Còn gọi là phân con dơi, thiên thử phẩn, biên bức phần.
Tên khoa học Excrementum Vespertilii hay Faeces Vespertiliorum.
Vì phân con dơi ban đêm trông nhấp nhánh như cát cho nên gọi là dạ minh sa (dạ là đêm, minh là sáng, sa là cát).
A. Nguồn gốc và chế biến
Người ta dùng phân của nhiều loài dơi. Thường ở nước ta có những loài Vespertilio superans Thomas có lổ mũi bán nguyệt, chi Kerevoula có lỗ mũi tròn, loài dơi nhà Pachyotus kuhli thuộc họ Vespertilionidae, loài Rhinolophus ferrum equinum Schreber thuộc họ Dơi có lá mũi Rhinolophidae (Hình 726).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 726. Con dơi - Excrementum Vespertilii
Tại Trung Quốc người ta còn dùng phân của loài dơi tai to Plecotus auritus L. thuộc họ Dơi tai to Vespertilionidae (Rhinolophidae).
Việc khai thác dạ minh sa có thể tiến hành quanh năm: Thường người ta vác đuốc, mang bao tải và cào vào những hang có dơi ở, cào phân dơi vào bao, đem về loại bỏ tạp chất, phơi khô là được. Khi dùng người ta thường sao cho thơm. Trong dạ minh sa người ta thấy ngoài phân ra có những bộ phận, những sâu bọ con dơi ăn mà chưa tiêu hóa được như mắt muỗi, cánh, mảnh thân, mảnh chân, răng những sâu bọ v.v…
Tại những vùng không có hang dơi thiên nhiên, đặt biệt một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, không rõ từ bao giờ đã xuất hiện phong trào “nuôi dơi lấy phân”. Nói “nuôi dơi” không hoàn toàn đúng, vì người ta có cho dơi ăn uống gì đâu? Người ta chỉ làm một cái “dàn” cho dơi đến ở qua lúc mệt mỏi, và “trả công" cho người làm “dàn” bằng một đống phân dơi. “Dàn dơi” hay “chuồng dơi” thực tế chỉ là một số cọc tre chôn chặt xuống đất theo hai hàng, trên khép lại hình núi, cao 5-7m. Việc chôn những cọc tre phải thật sâu, thật chắc nếu không đến mùa nước lớn, “chuồng” hay “dàn” dễ bị sụp đổ, đè dơi chết. Trên đỉnh các cọc tre phải lợp và treo dầy lá cây thốt nốt. Những lá thốt nốt này phải xếp đủ dầy, nhưng phải đủ thoáng và hợp vê sinh để rắn lục và rệp khỏi hại dơi. Sau khi làm “chuồng dơi”, việc trước hết là kiếm cho được vài con “dơi chúa” bỏ vào lồng treo trong “chuồng”. Con dơi chúa sẽ gọi bầy đàn dơi đến cùng sinh sống như một đại gia đình. Để giữ vệ sinh, an toàn cho dơi, thường xuyên cần thay lá và phát quang xung quanh chuồng để dơi khỏi sợ rắn lục, rệp mà bỏ đi nơi khác. Đến tham quan chuống dơi ở xã Mỹ Đông huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp, chúng ta có thể thấy tại đây hầu như nhà nào cũng dựng 2-3 dàn dơi ở sau nhà, người ta đã tính mỗi chuồng dơi, mỗi ngày cho một giạ phân dơi, trị giá 18.000đ (5/1984), có người còn tính, mỗi năm, mỗi chuồng dơi, sau khi trừ mọi khoản chi phí còn được một cây vàng, tương đương trồng thu hoạch 4-5 công lúa.
Nhưng hiện nay những người nuôi dơi lấy phân ở đồng bằng sông Cửu Long đang băn khoăn trước phong trào thịt dơi thành một món ăn đặc sản. Hai nghề lại có quyền lợi trái ngược nhau.
B. Thành phần hóa học
Trong dạ minh sa người ta đã phân tích thấy các chất như urê, axit uric và một lượng nhỏ vitamin A.
C. Công dụng và liều dùng
Dạ minh sa là vị thuốc chỉ thấy dùng trong nhân dân để làm thuốc chữa những bệnh về mắt (thong manh, không trông thấy gì), quáng gà, ngoài ra còn dùng chữa trẻ con cam tích, kinh phong; có khi đốt lên cho uống để cho ra những thai chết trong bụng.
Tính chất ghi trong các sách cổ là dạ minh sa vị cay, hàn, không có độc, vào can kinh, có tác dụng hoạt huyết. Khi người ta đau mắt là do can (gan) có tính huyết xông lên mắt cho nên dùng dạ minh sa để chữa gan. Phàm những trường hợp hư hàn không dùng được.
Ngày dùng 3 đến 6g dưới hình thức thuốc sắc hay thuốc viên.
Đơn thuốc có dạ minh sa, dùng trong đông y
- Chữa thong manh, quáng gà, mát khô, mờ v.v… (đơn thuốc kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền).
Dạ minh sa 5g (bọc vào lụa hay vải), cốc tinh thảo 6g, quyết minh tử 10g, mật mông hoa 6g, cam thảo 3g, nước 600ml, sắc còn 200ml, lọc bỏ bã chia 3 lần uống trong ngày.
- Chữa trẻ con quáng gà:
Dạ minh sa sao vàng, nghiền nhỏ hòa với mật lợn, viên bằng hạt đậu xanh dùng cho trẻ con quáng gà uống, ngày uống 4 đến 6 viên, dùng nước cơm hay nước cháo để chiêu thuốc.
CON DẾ 螻蛄虫
Còn gọi là con dế dũi, thổ cẩu, lâu cô.
Tên khoa học**: Gryllotalpa unispinalpa Sauss- Gryllotalpa formosana thuộc họ Dế Gryllotalpidae.**
Ngoài con dế dũi nói trên, ta còn dùng cả con dế mèn hay tất suất hay súc chức Gryllodes berthellus Sauss, cùng họ. Đồng ruộng, bãi cỏ ở đâu cũng có.
Bắt về, ngắt bỏ chân và cánh sao khô để dành. Cần để trong hộp kín có vôi vì dễ mốc và mọt. (Hình 727).
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0988.jpg]
A. Thành phần hóa học
Chưa có tài liệu nghiên cứu.
B. Công dụng và liều dùng
Dế mèn và dế dũi là một vị thuốc chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Có ghi trong tài liệu cổ.
Theo đông y dế dũi có vị mặn, tính lạnh (hàn), có độc, dế mèn có vị cay, mặn, tính ôn có độc, vào 3 kinh bàng quang, đại trường và tiểu trường. Có tác dụng lợi tiểu tiện (trục thủy tà) chữa thủy thũng, còn có tác dụng thông đại tiện, chữa khó đẻ.
Ngày dùng 3 đến 5g dưới hình thức thuốc sắc hay sao vàng tán nhỏ mà dùng.
Đơn thuốc có con dế dùng trong nhân dân
- Chữa tiểu tiện khó khăn:
Dế dũi 20-30 con đã ngắt bỏ chân và cánh, tán nhỏ, dế mèn 20-30 con cũng ngắt bỏ cánh và chân, cam thảo 20g tất cả tán nhỏ trộn đều.
Mỗi lần uống 1g bột này, mỗi ngày uống 2 hay 3 lần, dùng nước uống nóng chiêu thuốc. Chữa tiểu tiện khó khăn.
- Đơn thuốc khác:
Chữa người già bị tiểu tiện khó khăn: Dế mèn 4 con, dế dũi 4 con, cam thảo 3g, nước 400ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Bình luận