Còn gọi là sơn khương tử, hổng khấu.
Tên khoa học Alpinia gaỉanga Willd.
KHẤU ÍŨlaS
Thuộc họ gừng (Zingiberaceae).
Hồng đậu khấu-CPrMcíMS Alpìniae galangae)
là quả chín phơi hay sấy khô của cây riềng nếp (,Alpinia galanga Willd.).
A. Mô tả cây
Xem vị cao lương khương và hình 306, 307.
B. Thu hái và chế biến
Vào tháng 9-10 khi quả gần chín hái về phơi hay -Sấy khô. Khi dùng phải bóc bỏ vỏ. c. Thành phần hóa học
Trong hổng đậu khấu có tinh dầu, tinh bột và chất protit, các chất khác chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Chỉ mới thấy dùng trong đông y; tuy nhiên ở ta ít dùng. Tính vị theo đông y là vị cay, ôn, có tác dụng táo thấp, tán hàn, tiêu thực, giải tửu độc. Dùng chữa nôn mửa, đi tả, bụng lạnh đau.
Ngày đùng 5-6g.
ÍCH TRÍ NHÂN &1BÌZ
Còn gọi là ích trí, ích trí tử.
Tên khoa học Alpinia oxyphyỉla Miq.
Thuộc họ Gừng Zingiberaceae.
ích trí nhân (Fructus Alpinìae oxyphyỉỉae) là quả gần chín phơi hay sấy khô cùa cây ích trí (Alpỉnia oxyphylỉa Miq.).
Vì vị thuốc giúp ích tỳ vị cho nên có tên như thế.
A. Mô tả cây
ích trí là một loại cỏ sống lâu năm, cao 1,5- 2m, toàn cây có vị cay. Lá hình mác dài 17- 33cm, rộng 3-6cm. Cụm hoa hình chùm mọc ở đầu cành. Hoa màu trắng có đốm tím. Quả hình cầu, đường kính 1,5cm, khi chín có màu vàng xanh, hạt nhiều cạnh, màu nâu đen (Hình 308).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Chưa rõ ta có không. Hiện còn phải nhập. Tại Trung Quốc khai thác ở Quảng Đông, đảo Hải Nam. Vào tháng 7-8 hái quả vể khi màu quả từ xanh chuyển sang hồng, phơi hay sấy
Trong ích trí nhân có chừng 0,7% tinh dầu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là tecpen c,0H!6’ sesquitecpen C₁₀H₂₄ và sesquitecpenancola.
Năm 1958, hệ dược thuộc Viện y học Bắc Kinh đã thấy trong ích trí nhân có chừng 1,71% chất ‘saponin.
D. Công dụng và liều dùng
ích trí nhân mới thấy dùng trong phạm vi đông y. Tính vị của ích trí nhân theo đông y Là vị cay, ôn, có tác dụng làm ấm thận, vị, cầm đi ỉa lỏng. Dùng làm thuốc chữa đái dầm, di mông tinh, bổ dạ dày.
Đon thuốc có ích trí nhân dùng trong đồng
khô. Phơi khô chất lượng tốt hơn. Khi dùng loại bỏ vỏ quả.
C. Thành phần hóa học
Đêm đì tiểu nhiều lần:
20 hạt ích trí nhân, thêm vài hạt muối, sắc với 200ml nước, uống trước khi đi ngủ.
NHỤC ĐẬU KHẤU
Còn gọi ìà nhục quả, ngọc quả, muscade, noix đe muscade.
Tên khoa học Myristica ỷragrans Houtt.
Thuộc họ Nhục đậu khấu Myristicaceae,
Cây nhục đậu khấu cho ta các vị thuốc sau đây:
ỉ. Nhục đậu khấu (Semen Myristìcae) là nhân phơi hay sấy khò của cây nhục đậu khấu.
- Ngọc quả hoa còn gọi là nhục đậu khấu y (Arillus Myristicae hay Macis) là áo của hạt nhục đậu khấu phơi hay sấy khô.
A. Mô tả cây
Nhục đâu khấu là một cây to, cao 8-10m. Toàn thân nhẵn. Lá mọc so le, xanh tươi quanh năm, dai, phiến lá hình mác rộng, dài 5-15cm, rộng 3-7cm, mép nguyên, cuống lá dài 7-12mm. Hoa khác gốc mọc thành xim à kẽ lá, có dáng tán. Màu hoa vàng trắng. Quả hạch, hình cẩu hay quả lế, màu vàng, đường kính 5-8cm, khi chín nở theo chiều dọc thành
2 mảnh, trong có một hạt có vỏ dày cứng, bao bọc bời một áo hạt bị rách, màu hổng (Hình 309).
B. Phân bố, thu hái và chẻ biến
Cây nhục đậu khấu được trồng ở miền Nam Việt Nam và Cămpuchia. Còn mọc ở Inđônêxia, Malaixia, tây Ân Độ, đã di thực được vào tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc, giáp giới miền Bắc Việt Nam ta.
Trồng được 7 nãm thì bắt đầu thu hoạch. Mỗi nãm có thể thu hoạch 2 lần, một lẩn vào các tháng 11-12 và một lần vào các tháng 4-6. Khi đã bát đầu thu hoạch thì có thể thu hoạch luôn trong vòng 60-75 năm. Mức thu hoạch cao nhất vào năm thứ 25. Từ năm thứ 10 đến năm thứ 25 hàng năm mỗi cây cho từ 1.500 đến 2.000 quả, nghĩa là chừng 8-10kg. Sau khi hái quả, loại bỏ vỏ quả. Sau đó lấy riẽng áo hạt, ngâm muối rồi phơi hay sấy khô. Hạch đem sấy lửa nhẹ (60°) cho đến khi lắc lên thấy kêu lóc cóc (thường việc sấy này kéo dài tói 2 tháng) thì đem đập lấy nhàn, phân loại to nhỏ rồi ngâm nước vôi, sau đó phơi hay sấy lại. Việc ngâm nước vôi này có mục đích để tránh bị sâu bọ mổi mọt. Người ta phân loại nhục đậu kháu càn cứ vào to nhò, ví dụ 65, 80, 110 cho một bảng Anh (đơn vị trọng lượng). Càng ít nhân mà đã nặng bằng
1 bảng Anh là càng tốt.
C. Thành phần hóa học
Nhục dậu khấu có chứa tinh bột, chất protit, chừng 40% chất béo đặc gọi là bơ nhục đậu khấu (Beuưe de muscade), 8-15% tinh dán và
3- 4% chất nhựa.
Tinh dầu nhục đậu khấư là một chất lỏng không màu hay hơi vàng nhạt, mùi thơm, vị nóng, gồm một hỗn hợp các chất pinen và camphen quay phải (80%), dipenten (8%), cồn tecpenic (linalol, bocneol, tecpineol và geraniol) 6%, một ít eugenol và safrol, chất myristixin (4%) v.v…
Myristixin có công thức CllHJ203 có tinh thể màu vàng, có độc.
Tỷ trọng 0,870-0,925; năng suất quay cực phải (a)D+l6° đến +30°. Tan trong một thể tích cồn 90°; độ sôi 115"C đến 300°c. Nhục đậu khấu phải cho 25% cao ête, nhiều nhất 5% tro toàn bộ và nhiều nhất 0,50% tro không tan trong HCỈ.
o—CHa CHaO ..^Wr-0
CH₂—CH*CH₂
Myristixin
Nhục đậu khấu y hay ngọc quả hoa chứa 8% tinh dầu, chất nhựa và chất pectin. Tinh dầu không màu hay đỏ nhạt, rất lỏng, quay phải, mùi vị nồng giống như nhục đậu khấu, cất theo ở nhiệt độ 155"C đến 183°c.
Bơ nhục dậu khấu (beurre de muscade) chứa chừng 70-75% myrìstin. Ta có thể tách myristin ra dẽ dàng do myristin ít tan trong cổn lạnh. N^oài ra còn 10-20% olein, 1% butyrin, axit loric, 1-2% axit panmitic, 7-8% stearin và 1% axit linoleic. Trong bơ nhục đậu khấu còn có 2- 3% tinh dầu làm cho bơ có mùi thơm, nhựa, chất màu, chừng 18,7% chất không xà phòng hóa được.
Myristin xà phòng hóa sẽ cho axit myristic và glyxerin. Axit myristic là một chất béo trắng cứng, không mùi, màu trắng, có thể có tinh thể.
D. Tác dụng dược lý
Nhục đậu khấu và ngọc quả hoa đều là những vi thuốc thơm, có tác dụng kích thích. Được dùng trong cả đông y và tây y. Nhưng dùng với liều cao thì có thể gây độc: Dùng nguyên cả một hạt đã có hiện tượng độc. Sau một thời gian kích thích ngắn, có hiện tượng mệt mỏi trì độn và ngủ gà. Purkirýe đã cảm thấy một hiện tượng tê mê sau khi dùng nhục đậu khấu. Theo Leclerc đã có nhiều trường hợp ngộ độc xảy ra ờ Anh và Mỹ, trong đó có một trường hợp chết người với hiện tượng đãn đồng tử như khi bị ngộ độc do benladôn.
Dùng ít thì xúc tiến sự bài tiết dịch vị, giúp sự tiêu hóa, kích thích nhu động ruột, gây ăn ngon nhưng uống nhiều quá sẽ làm say tê, có khi tiểu tiện ra huyết rồi chết.
Đóng y ghi tính chất cùa nhục đậu khấu là vị cay, tính ôn, hơi độc, vào 3 kinh tỳ vị và đại trường có năng lực ôn tỳ, sáp tràng, chỉ nôn, chỉ tả lỵ, tiêu thực, chữa lạnh bụng, đau bụng, đầy chướng. Phàm nhiệt tả, nhiệt lỵ và bệnh mới phát chớ có dùng.
D. Công dụng và liều dùng
Nhục đậu khấu là một vị thuốc dùng để kích thích tiêu hóa, làm thuốc kích thích chung trong các trưcmg hợp kém ãn, sốt rét.
Dùng dưới dạng bột hay dạng thuốc viên. Ngày uống 0,25 đến 0,50g. Có khi có thể dùng
2 đến 4g. Nhưng dùng liều quá cao có thể gây độc.
Bơ đậu khấu dùng xoa bóp ngoài chữa tê thấp, đau người.
Ngọc quả hoa dùng như nhục đậu khấu.
Đơn thuốc có nhục đậu khấu
ỉ. Chữa bệnh kém ăn, ân uống khóng tiêu:
Nhục đậu khấu 0,50g; nhục quế 0,50g; đin hương 0,20g tất cả tán thành bột, trộn với đườn sữa lg. Chia làm 3 gói, ngày uống 3 lần, mc lần 1 gói.
- Thuốc giúp sự tiêu hóa, kém ăn, nôn mủc đaũ bụng:
Quế tán thành bột lOOg, nhục đậu khấu tá thành bột 80g, đình hương tán bột 40g, sa nhâ 30g tán bột, canxi cacbonat bột 250g, đườn 500g tán nhỏ. Tất cả trộn đều. Ngày dùng 0,50 đến 4g bột này.
Để thêm tác dụng có thể pha vào bột trên m< ít bột thuốc phiện theo tỷ lệ như sau: Bột ch như trên 975g, bột thuốc phiện 25g. Tất cả trộ đều. Dùng liều lượng như trên trong các trườn , hợp đau bụng, đi lỵ. Dùng cẩn thận vì có thuố phiện.
THÀNH NGẠNH
Còn gọi ỉà cây đỏ ngọn (Vĩnh Phú), lành ngạnh, ngành ngạnh, may tiên, ti u (Lai Châu).
Tên khoa học Cratoxyỉon prutiifoỉium Dyer (Craloxyỉon prunifỉùrum Kurtz).
Thuộc họ Ban Hypericaceae.
A. Mô tả cày
Cầy nhỏ có gai ở gốc (để tự nhiên cây có thể cao to, cho gỗ), cành non có lông tơ, dần dần trở nên nhẵn và có màu tro. Thân phía ngọn có màu dỏ do lông tơ màu đỏ (đỏ ngọn). Lá hình mác dài 12-13cm, rộng 35-40mm, mọc đối, cuống ngấn 3-5mm, mặt gân chính đỏ đến 1/3, lá non gân lá và lá có màu đỏ đến quá nửa. Hoa mọc trên những cành ngắn có lông màu tía. Quả nang, dài 15mm, rộng 7-8mm. Hạt hình trứng dài 6mm, rộng 3mm (Hình 310).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang tại các tỉnh miền Bắc, nhất là trên các đồi trọc của vùng trung du. Còn mọc ở Malaixia.
ỉỉình 310. Thành ngạnh - Cratoxylon prunifolium
Thường người ta hái lá để pha nước uống V làm thuốc. Dùng tươi hay ủ rồi phơi khô trú dùng.
C. Thành phần hóa học
Năm 1995, Nguyễn Liêm và cộng sự (Học viện quấn y) đã xác định sự có mặt cùa tanin và Aavonoid trong lá thành ngạnh.
D. Tác dụng dược lý
Nguyễn Liêm và cộng sự đã xác định dich nước chiết của lá đỏ ngọn (1/16) có tác dụng chống oxy hoá mạnh, hoạt tính chống oxy hoá (HTCO) đạt 69% so đối chứng với p<0,001. Nếu so sánh với một vài vị thuốc khác, ta sẽ thấy lá thành ngạnh đứng đầu, sau đến dịch chiết cồn 1/32 bụt mọc 69%, dịch chiết nước lá chè tươi 1/8 với HTCO 68,5%, dịch chiết cổn vỏ xoan trà 1/80 với HTCO 64,5%, sau đến dịch chiết cồn đậu đen (1/1) với HTCO 57,1%, tất cả đểu so đối chứng với p<0,001.
E. Công dụng và liều dùng
Chỉ mới tháy dùng trong phạm vi nhàn dân làm thuốc giúp sự tiêu hóa, ăn ngon cơm, hàng ngày hoặc khi yếu đau, sau khi đẻ.
Ngày uống chừng 15-30g lá khô dưới hình thức thuốc sắc hay thuốc pha như pha trà. Có khi phôi hợp với lá vối nấu nước uống cho tiêu cơm.
Bình luận