Còn gọi là bạch liễm, đau xương, bạch phấn đàng.
Tên khoa học Cissus modeccoides Planch. [CứíHí vìriginea Lour. (non L.) c. triloba Merr., CaUicarpa triỉoba Lour.]
Thuộc họ Nho Vitaceae.
A. Mô tả cày
Dây chìa vôi là một loại cây nhỏ, mọc leo, dài chừng 2 đến 4 mét, toàn thân nhẵn, có tua cuốn đơn, nhỏ hình sợi. Lá đơn, xẻ thùy chân vịt, phía cuống hình tim, dài và rộng từ 6 đến 8cm, những lá phía gốc hảu như nguyên, hình mác, lá phía trên chia 5 đến 7 thùy, dài gần bằng nhau, mép hơi có răng cưa. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành ngù đối diện với lá, nhưng ngắn hơn, có cuống (Hình 388).
B. Phân bô, thu hái và chế biến
Dây chìa vôi mọc hoang ở khắp các tỉnh miền Bấc và miển Nam. Thường người ta đào lấy rễ củ, thái mỏng, phơi hay sấy khô làm thuốc với tên bạch liêm hay củ chìa vôi. Có thể đào quanh nãm nhưng tốt nhất vào thu đông.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Dây chìa või chỉ mới thấy dùng ưong phạm
vi nhân dân, chưa thấy được ghi vào tài liệu cỏ.
Nhân dân dùng làm thuốc chữa đau nhức xương, đau nhức đầu, tê thấp.
Ngày dùng 10 đến 30g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu uống. Có người đã dùng thân cây chìa vôi rửa sạch, sát trùng rổi dùng nong cổ tử cung, sau đó cho uóng một bài thuốc gồm các vị có tính chất kích thích sự co bóp tử cung để tống thai ra. Phương pháp đó có Rết quả nhưng vẫn phải nạo lại bằng dụng cụ, thời gian nạo có chóng hơn.
Bình luận