Còn gọi là quảng hoắc hương, thổ hoắc hương.
Tên khoa học Pogostemon cablin (Blanco) Benth.
Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).
Hoắc hương còn gọi là quảng hoắc hương (Herba Pogostemi hay Herba Patchouli) là cành và lá phơi hay sấy khô hoặc toàn cây (trừ rễ) phơi hay sấy khô của cây hoắc hương Pogostemon cablin (Blanco) Benth.
Thổ hoắc hương hay xuyên hoắc hương (Herba Agastachis rugosae) là toàn cây (trừ rễ) phơi khô của cây hoắc hương hay thổ hoắc hương- Agastache rugosa (Fisch. et Mey) O. Kuntze cùng họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).
Chú thích về tên: Lá đậu tiếng Trung Quốc có nơi gọi là hoắc. Vì lá cây này giống lá cây đậu lại có mùi thơm cho lên gọi là hoắc hương.
A. Mô tả cây
Hoắc hương là một cây cỏ sống lâu năm, thân có phân nhánh, cao chừng 30cm đến 60cm. Trên thân có lông. Lá vò có mùi thơm. Lá có cuống ngắn, phiến lá hình trứng hay hình thuỗn, dài chừng 5-10cm, rộng 2,5-7cm, mép có răng cưa to, mặt dưới nhiều lông hơn. Hoa màu hồng tím nhạt mọc thành bông ở kẽ lá hay đầu cành. Tuy nhiên cây trồng ở Việt Nam hầu như không thấy có hoa và kết quả (Hình 280, Hm 36,3).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 280. Hoắc hương - Pogostemon cablin
Ngoài loài hoắc hương kể trên, người ta còn dùng loài hoắc hương Agastache rugosa (Fisch. et Mey.) O. Kuntze, cùng họ. Đó là một loại cỏ sống hàng năm, cao chừng 40-100cm. Lá hình trứng dài 2-8cm, rộng l-5cm, đầu lá nhọn phía cuổng hơi hình tim, cuống dài l-4cm, mép có răng cưa thô, to. Hoa mọc thành vòng quanh thân ở đầu cành hay kẽ lá. Canh hoa màu tím hay màu trắng. Mùa hoa tháng 6-7; mùa quả tháng 10-11. Cây này cũng có mọc ở nước ta nhưng ít phổ biến hơn loài trên.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây hoắc hương được trồng nhiều nơi ở miền Bắc nước ta, chủ yếu lấy lá và cành làm thuốc. Nhiều nhất tại vùng Kim Sơn (Hà Nam), Hưng Yên. Tại Hà Nội, vườn thuốc Văn Điển có trồng thử. Thường trồng bằng giâm cành, vì cây không có hoa quả. Hiện việc nghiên cứu trồng chưa có kinh nghiệm chắc chắn.
Tại các nước khác tại vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi, hoắc hương được trồng rất qui mô để lấy lá cất tinh dầu. Những nước sản xuất hoắc hương nhiều nhất hiện nay là Ân Độ, Malaixia, Philippin, Mangat, Inđônêxya.
Hàng năm tại Malaixia thu hoạch chừng 500 tấn lá khô hoắc hương để cất tinh dầu, chưa kể còn sản xuất chừng 700 đến 1.000 tấn lá để xuất cảng nữa. Tại Mangat, vào năm 1925 đã sản xuất chừng hơn 5 tấn lá khô để cất tinh dầu, chưa kể số lá dùng để cất tinh dầu tiêu thụ trong nội địa.
Hiệu xuất thu hoạch mỗi hecta hàng năm chừng 500kg lá khô.
C. Thành phần hoá học
Trong lá hoắc hương khô có chứa 0,5-0,6% tinh dầu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu hoắc hương là cồn patchouli C₁₅H₂₆O, còn gọi là long não patchouli, chất andehyt xinamic, andehyt benzoic, eugenola, cađinen C₁₅H₂₄, sesquitecpen và azulen.
Long não patchouli là một rượu bậc 3, kết tinh dưới dạng tinh thể hình lục lăng, có khi kết tinh ngay trong tinh dầu.
Trong tinh dầu cất từ lá cây mọc ở Hà Nội (Nguyễn Xuân Dũng và cộng sự, J. Ess. Oil Res. 2,99-100, March-April, 1989) đã thấy cồn patchouli chiếm 32-38%. Ngoài ra còn 10 thành phần khác được phát hiện trong đó có α-bunesine và α-guaiene.
Có thể cất tinh dầu hoắc hương bằng lá tươi, nhưng tỷ lệ thấp, thường tinh dầu chỉ xuất hiện trong lá khô hoặc lá đổ thành đống cho hơi lên men và khô dần.
Hoạt chất khác chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Hiện nay hoắc hương có nhiều công dụng.
- Trong y học nhân dân, hoắc hương là một vị thuốc làm mạnh dạ dày, giúp sự tiêu hoá và ruột, dùng trong những trường hợp ăn không ngon, sôi bụng đau bụng đi ngoài, hôi miệng.
Còn dùng làm thuốc chữa cảm mạo, nhức đầu, mình mẩy đau đớn, triệu chứng cảm cúm.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, dùng riêng hay phối hợp với vị thuốc khác.
- Trong kỹ nghệ nước hoa, hoắc hương là một nguyên liệu quí vì tinh dầu hoắc hương (oil of patchouli) là một tinh dầu thơm và định hương cao cấp.
Đơn thuốc có hoắc hương
- Hoắc hương chính khí hay kiện tì chi tả tán:
Hoắc hương 15g, tô diệp (lá tía tô)10g, thương truật 8g, cam thảo 3g, trần bì 5g, đại táo 4 quả, hậu phác 3g, phục linh 6g. Tất cả tán thành bột chia thành gói 8-10g. Chữa ăn uống không tiêu, đau bụng đi ngoài. Người lớn ngày uống 2-5 gói (tối đa), cách một giờ uống một gói. Trẻ con dưới một tuổi không nên uống. Trẻ con từ 2-3 tuổi mỗi lần dùng 1/3 gói, 8-10 tuổi mỗi lần l/2gói.
- Đơn thuốc chữa ăn uống không tiêu, hay sôi bụng:
Hoắc hương 12g, thạch xương bồ 12g, hoa cây đại 12g, vỏ bưởi đào đốt cháy 6g. Tất cả tán nhỏ. Trước bữa ăn 20 phút uống với nước nóng, mỗi lần 2g. Ngày uống 3 lần.
LONG ĐỞM THẢO 龍 胆 草
Tên khoa học Gentiana scabra Bunge.
Thuộc họ Long đởm Gentianaceae.
Long đởm thảo (Gentiana hay Radix Gentianae) là thân rễ và rễ phơi hay sấy khô của cây long đởm Gentiana scabra Bunge hay những loài khác cùng họ.
Long là rồng, đởm là mật, vì vị thuốc này trông giống râu rồng, có vị đắng như mật.
A. Mô tả cây
Cây long đởm là một loại cỏ sống lâu năm, cao 35-60cm. Thân rễ ngắn, rễ nhiều, đường kính 2- 3mm, vỏ ngoài màu vàng nhạt. Thân mọc đứng, đơn độc hay 2-3 cành, đốt thường ngắn so với chiều dài của lá. Lá mọc đối, không cuống, lá phía dưới thân nhỏ, phía trên to rộng hơn, dài từ 3- 8cm, rộng từ 0,4-3cm. Hoa hình chuông màu lam nhạt hay sẫm, mọc thành chùm không cuống ở đầu cành hoặc ở kẽ những lá phía trên.
Mùa hoa tháng 9-10, mùa quả tháng 10 (Hình 281)
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 281. Long đởm thảo - Gentiana scabra
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc. Tại Trung Quốc cây này mọc ở Hắc Long Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông. Qua sự phân bố ở Trung Quốc ta có thể chú ý tìm ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh.
Thu hái vào mùa thu và mùa xuân, mùa thu tốt nhất. Hái về rửa sạch đất cát phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Trong long đởm có một glucozit đắng chừng 2% gọi là gentiopicrin C₁₆H₂₀O₉ và một chất đường gọi là gentianoza C₁₈H₃₂O₁₆ chừng 4%.
Thủy phân gentiopicrin ta sẽ được gentiogenin C₁₀H₁₀O₄ và glucoza.
Gentianoza gồm hai phân tử glucoza và một phân tử fructoza.
D. Tác dụng dược lý
Theo Ebeling, long đởm thảo có tác dụng phòng sự lên men, uống ít (nửa giờ trước bữa ăn) có tác dụng kích thích sự bài tiết dịch tiêu hoá, làm khoẻ dạ dày; ngược lại, uống sau khi ăn cơm hay uống quá nhiều, lại làm cho tiêu hoá kém sút, nhức đầu, hoa mắt, mặt đỏ.
Theo Nội điền trang thái lang (Nhật Bản, 1938), nghiên cứu tác dụng chất đắng của long đởm thảo trên dạ dày nhỏ của chó thì thấy cho chó uống long đởm thảo sự bài tiết dịch vị tăng tiến và lượng axit tự do cũng tăng hơn.
E. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ, long đởm vị đắng, tính hàn, vào 3 kinh can, đởm và bàng quang. Có tác dụng tả can đảm thực hoả, thanh hạ tiêu thấp nhiệt, có tính chất thu sáp. Những người tì vị hư nhược, đi tả và không thấp nhiệt, không thực hoả thì không dùng được.
Long đởm thảo được dùng làm thuốc giúp sự tiêu hoá, thuốc bổ đắng; làm cho đại tiện dễ dàng mà không gây ỉa lỏng.
Liều dùng hàng ngày 2-3g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc rượu.
Ngoài công dụng giúp sự tiêu hoá, long đởm thảo còn tác dụng chữa sốt, đau mắt đỏ nhức, an thần kinh.
Đơn thuốc có long đởm thảo
-
Long đởm thảo 2g, đại hoàng 1g, hoàng bá 1g, nước 200ml, sắc lấy 100ml. Chia 3 lần uống trong ngày, 15 phút trước bữa ăn để làm thuốc giúp sự tiêu hoá, ăn uống không tiêu.
-
Long đởm thảo 0,5g; hoàng bá 0,5g; sinh khương sấy khô 0,3g; quế chi 0,3g; hồi hương 0,3g; kê nội kim 0,6g, sơn tra sao cháy 1g. Tất cả tán bột, trộn đều. Chia 3 lần uống trong ngày, chữa đau dạ dày, ăn uống không tiêu, đầy bụng (theo Hoà hán dược dụng nghiệm phương).
Chú thích:
Ngoài vị long đởm kể trên, trong đông y còn dùng nhiều loại long đởm khác, những vị thuốc gần giống và gồm những rễ nhỏ. Nhưng trong tây y lại dùng một loại khác (Gentiana lutea L.) có hoa màu vàng, rễ to hơn, thái thành từng miếng mỏng, có người dịch nhầm là khổ sâm vì là vị thuốc bổ mà lại đắng.
Tất cả những cây này đều chưa thấy ở nước ta.
NGA TRUẬT 莪术
Còn gọi là ngải tím, tam nại, bổng truật, nghệ đen.
Tên khoa học Curcuma zedoaria. Rosc. (Curcuma zerumbet Roxb).
Thuộc họ gừng Zinglberaceae.
Nga truật (Rhizma Zedoariae) là thân rễ phơi khô của cây ngải tím Curcuma zedoaria Rosc.
A. Mô tả cây
Ngải tím là một loại cỏ cao chừng 1-1,5m, có thân rễ hình nón, có khía chạy dọc, củ toả ra theo hình chân vịt, cây mẫm và chắc, vỏ củ màu vàng nhạt, ngoài những củ chính ra, còn có những củ phụ, có cuống hình trứng hay hình quả lê, màu trắng. Lá có bẹ ôm vào thân cây ở phía dưới, dài 30-60cm, rộng 7-8cm dọc theo gân chính giữa có những đốm màu đỏ, cuống lá ngắn hay hầu như không có. Cụm hoa mọc ngang, dài 15-20cm, thường xuất hiện trước khi ra lá, bao gồm một cuống dài 15-20cm. Lá bắc phía dưới hình trứng hay hình mác tù, màu xanh lục nhạt, mép đỏ, lá bắc phía trên màu vàng nhạt, đầu lá màu đỏ, không mang hoa. Hoa màu vàng. Đài có thùy hình mác tù, dài 15mm, thuỳ giữa nhọn, cánh môi hẹp ở phía dưới, hơi mở rộng ở phía trên. (Hình 282, Hml4,4).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 282. Nga truật - Curcuma zedoaria
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây ngải tím mọc hoang và được trồng ở Việt Nam để làm thuốc. Còn mọc ở Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Đài Loan, Vân Nam tức là những vùng gần Việt Nam), Xrilanca và những nước nhiệt đới khác.
Trồng bằng thân rễ. Thu hoạch vào mùa đông. Khi thu hái, cắt bỏ rễ con, đồ chín rồi phơi khô. Có khi thái mỏng rồi mới phơi khô, lại có khi trước lúc thái mỏng, đem củ ngâm dấm (600g nga truật ngâm trong 160g dấm, 160g nước), đun cho đến cạn, đem ra thái mỏng, rồi phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Trong nga truật có chừng l-1,5%tinh dầu; 3,5% chất nhựa và chất nhầy. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu gồm có 48% secquitecpen; 35% zingiberen; 9,65 xineol và một chất có tinh thể. Tinh dầu có màu vàng xanh nhạt, sánh, tỷ trọng 0,982 mùi vị gần như mùi long não.
D. Công dụng và liều dùng
Nga truật là một vị thuốc được dùng cả trong đông y và tây y. Theo tài liệu cổ nga truật vị đắng, cay, tính ôn, vào can kinh. Có tác dụng hành khí, phá huyết, tiêu tích hoá thực. Chữa ngực bụng đau, ăn uống không tiêu. Nga truật giúp sự tiêu hoá, chữa đau bụng, kích thích, bổ.
Còn có tác dụng chữa ho, kinh nguyệt bế không đều.
Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hay thuốc viên.
Đơn thuốc có nga truật
Tây y dùng nga truật trong đơn thuốc bổ Elixir de longue vie (rượu thuốc bổ giúp sống lâu) gồm các vị thuốc sau đây: Lô hội 25g, long đởm thảo 5g, đại hoàng 2,5g, nga truật 2,5g, phan hồng hoa (Crocus sativus) 2,5g, Polyporus oficinalis 2,5g. Các vị trên thái nhỏ ngâm trong 2.000ml cồn 60°, trong vòng 10 ngày. Lọc lấy rượu mà uống. Ngày uống từ 2-5ml rượu này, nếu uống nhiều quá sẽ có tác dụng nhuận tràng.
Đơn thuốc đông y chữa trẻ con bú sữa bị nôn ra: Nga truật 4g, muối ăn 3 hạt (rất ít), sắc với sữa cho sôi chừng 5 phút, thêm một ít ngưu hoàng (rất ít, không có cũng có thể được), hoà tan cho trẻ sơ sinh uống. Chú ý nếu cho ngưu hoàng chỉ dùng rất ít (bằng hạt gạo).
NGÔ THÙ DU 吴茱萸
Còn gọi là thù du, ngô vu.
Tên khoa học Evodia rutaecarpa (Juss) Benth.
Thuộc họ Cam Rutaceae.
Ngô thù du (Fructus Evodiae) là quả chín phơi khô của cây thù du. Thù du ở nhiều nơi đều có, nhưng chỉ có loại thù du ở đất Ngô là tốt hơn cả, do đó có tên ngô thù du.
A. Mô tả cây
Ngô thù du là một cây nhỏ cao chừng 2,5-5m. Cành màu nâu hay tím nâu, khi còn non có mang lông mềm dài, khi già lông rụng đi, trên mặt cành có nhiều bì khổng. Lá mọc đối, kép lông chim, rìa lẻ. Cả cuống và lá dài độ 15-35cm, 2 đến 5 đôi lá chét, có cuống ngắn. Trên lá và cuống lá chét có mang lông mềm. Lá chét dài 5-15cm, rộng 2,5-5cm, đầu lá chét nhọn dài, mép nguyên, hai mặt đểu có lông màu nâu mịn, mặt dưới nhiều hơn, soi lên ánh sáng sẽ thấy những điểm tinh dầu. Hoa đơn tính, đực cái khác gốc. Đa số những hoa nhỏ tụ thành tán hay đặc biệt thành chùm. Cuống hoa trông to thô, có nhiều lông màu nâu mềm. Hoa màu vàng trắng. Hoa cái lớn hơn hoa đực. Quả hình cầu dẹt, dài 3mm, đưởng kính 6mm, thường gồm 5 lá noãn. Khi chưa chín có màu xanh, khi chín có màu tím đỏ, trên mặt có những điểm tinh dầu, mỗi ô quả có một hạt hình trứng dài 5-6mm, đường kính 4mm màu đen bóng. Mùa hoa tháng 6-8. Mùa quả tháng 9-10. (Hình 283).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Trước đây chưa thấy ở Việt Nam. Năm 1963, cửa hàng dược phẩm Phó Bảng (Hà Giang) đã phát hiện tại vùng đó nhân dân có dùng nó với tên xà lạp hay ngô thù để trị nóng sốt, đau bụng. Triển vọng có thể thu mua được nhiều. Theo địa lý phân bố cây này tại Trung Quốc, ta thấy có nhiều tại Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam là những tỉnh giáp giới ta. Do đó có thể tìm thêm tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn vv…
Vào tháng 9-10 quả còn đang màu xanh hay hơi vàng xanh, chưa tách ra thì hái lấy, đem phơi nắng cho tới khô. Nếu gặp trời âm u thì có thể đem sấy cho khô.
C. Thành phần hoá học
Trong ngô thù có trên 0,4% tinh dầu. Trong tinh dầu có evoden C₁₁H₁₆, evodin hoặc obakulacton C₂₆H₃₀O₈, oximen C₁₀H₁₀ và ba ancaloit: evođiamin C₁₉H₁₇N₃O, rutaecacpin C₁₈H₁₈N₃O và wuchuyin C₁₅H₁₃N₃O (1933, J. Amer. Pharm. Ass., 22: 716).
Chất rutaecacpin phân giải sẽ cho rutamin có cấu tạo hoá học là indol etylamin có nhân indoxyl.
D. Tác dụng dược lý
Ngô thù du có những tác dụng dược lý sau đây:
- Chống nởn: Uống ngô thù du vào có tác dụng chống nôn mửa. Nếu dùng phối hợp với gừng thì tác dụng lại càng mạnh hơn. (Nhật Bàn dược lý học tạp chí, 49 (3): 73, 1953).
Còn có tác dụng giúp sự tiêu hoá, bổ dạ dày.
-
Co bóp tử cung: Theo báo cáo của Tăng Quảng Phương (Trung Hoa y học tạp chí, 22 (6): 397-413, 1936), rutamin có tác dụng co bóp tử cung.
-
Năm 1948 (Trung Hoa y học tạp chí, 34; 435), Ngô Vân Thuỵ có thí nghiệm tác dụng của 20 vị trung dược đối với giun lợn, giun đất và đỉa thấy trong ống nghiệm, ngô thù du có tác dụng diệt giun rõ rệt, tuy nhiên tác giả cũng cho rằng thí nghiệm đối với giun đất và đỉa thì chưa thể tin được.
-
Tác dụng chống khuẩn: Năm 1952 (Trung hoa y học tạp chí, 38 (4): 315-318) Trịnh Vũ Phi có báo cáo thấy ngô thù du có tác dụng ức chế sinh trưởng một loại vi khuẩn ngoài da.
E. Công dụng và liều dùng
Trong đông y coi ngô thù du là một vị thuốc cay, đắng, tính ôn, hơi có độc, vào 4 kinh can, thận, tỳ và vị, dùng trong những trường hợp ăn uống không tiêu, nôn mửa, đau bụng, đi ỉa, cước khí đau đầu.
Còn dùng trong những trường hợp mình tê đau, lưng chân mềm yếu, cảm lạnh, đau răng, lở ngứa.
Ngày dùng 1-3g dưới dạng bột hoặc 4-6g dưới dạng thuốc sắc, chia 3-4 lần uống trong ngày.
Sách cổ nói: Phàm không phải hàn thấp không dùng được.
Đơn thuốc có ngô thù du
(Dùng trong nhân dân)
- Đơn thuốc chữa nôn mửa, không ỉa:
Ngô thù du 5g, can khương 2g, nước 300ml, sắc còn 100ml, chia 3 lần uống trong ngày.
- Đơn thuốc giúp sự tiêu hóa:
Ngô thù du 2g, mộc hương 2g, hoàng liên 1g. Tất cả tán thành bột, trộn đều. Chia 3 lần uống trong ngày.
- Hạ bộ chảy nước ngứa ngáy:
Ngô thù du không kể liều lượng, sắc nước mà rửa.
- Chữa nhức răng:
Ngô thù du ngâm rượu, ngậm vào một lúc lâu rồi nhổ đi.
NGŨ GIA BÌ 五加皮
Còn gọi là xuyên gia bì, thích gia bì (ngũ gia bì gai).
Tên khoa học Acanthopanax aculeatus Seem. Acanthopanax aculeatum Hook. Acanthopanax trifoliatus (L). Merr.
Thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae.
Ngũ gia bì (Cortex Acanthopanacis), là vỏ rễ phơi khô của cây ngũ gia bì. Vì lá có 5 lá chét to chụm vào với nhau và chỉ dùng vỏ rễ làm thuốc do đó có tên như vậy. Ngoài vị trên ra, tên ngũ gia bì còn chỉ nhiều vị khác nhau. Cần chú ý tránh nhầm lẫn.
A. Mô tả cây
Ngũ gia bì là một cây nhỏ, rất nhiều gai, cao chừng 2-3m. Lá mọc so le, kép chân vịt có từ 3-5 lá chét, phiến lá chét có hình bầu dục hay hơi thuôn dài, phía cuống hơi thót lại, đầu nhọn, mỏng, mép có răng cưa to, cuống lá dài từ 4-7cm. Hoa mọc khác gốc, thành hình tán ở đầu cành. Đầu mùa hạ ra hoa nhỏ màu vàng xanh. Quả mọng, hình cầu, đường kính chừng 2,5mm, khi chín có màu đen (Hình 284, Hm 33,4).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 284. Ngũ gia bì - Acanthopanax aculealus
- Cành và lá 2. Quả
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Ngũ gia bì mọc hoang ở nhiều tỉnh miền Bắc nước ta, hay gặp nhất là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Sapa (Lào Cai), Vĩnh Phúc, Phú thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Tuyên Quang. Có mọc ở Trung Quốc (Quảng Châu, Tứ Xuyên).
Thường đào cây vào mùa hạ hay mùa thu, lấy rễ, bỏ gỗ, lấy vỏ, phơi khô là được. Khi dùng để sống hoặc sao vàng sắc uống.
Vị thuốc thường là những cuộn ống nhỏ, dài ngắn không đều, dày chừng 1mm, vỏ ngoài màu vàng nâu nhạt, hơi bóng có những nếp nhăn, bì khổng dài, mặt trong màu xám trắng, dai, mặt phẳng, có những điểm vàng nâu. Mùi không rõ.
C. Thành phần hoá học
Loại ngũ gia bì của ta chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
Loại ngũ gia bì của Trung Quốc hái ở cây nam ngũ gia bì hay thích ngũ gia bì, hoặc xuyên gia bì- Ancanthopanax gracistylus W. W. Smith, cùng họ, có chứa một chất thơm là 4 métoxysalixylandehyt và một số axit hữu cơ.
Trong rễ và thân cây Eleutherococcus senticosus Maxim., Acanthopanax senlicosus (Rupr. et Maxim.) Harms có chứa nhiều heterozit: Rễ chứa 0,6-0,9%, thân chứa 0,6-1,5%. Trong những heterozit có eleutherozit α hay β sitosterol glucozit C₃₅H₆₀O₆, eleutherozit B hay syringin C₁₇H₂₄O₉.H₂O, eleutherozit B₁ C₁₇H₂₀O_(10,) eleutherozit C C₈H₁₆O₆, ngoài ra còn eleutherozit D và E, cả hai đều là glucozit của syringaresinol hay dilirioresinol B C₂₃H₂₆O₈ với vị trí sắp xếp khác nhau, eleutherozit F và G (C. A., 1965, 62, 16630a và C. A., 1969, 71, 1693n). Tỷ lệ những heterozit có trong rễ đã xác định được như sau: A, B, C, D, E, F và G là 8: 30: 10: 12: 4: 2: 1 (C. A., 1965, 62, 16630a). Trong vỏ rễ và thân eleutherozit B có nhiều hơn, trong vỏ thân và thịt quả thì heterozit A, C, E và B nhiều hơn (C. A. , 1971, 74, 1080r). Tác dụng của những heterozit ấy so với một số heterozit trong nhân sâm có những điểm giống nhau.
Rễ còn chứa 1-sesamin C₂₀H₁₈O₆ (C. A., 1972,76, 32224m) và các đa đường.
Lá chứa eleutherozit I, K, L và M (C. A., 1972, 76, 59965r và Index Chemicus, 1972, 45, 190217) cùng với senticozit A, B, C, D, E và F có genin là axit oleanic (C. A., 1970, 73 127741e, C. A.,1972, 76, 70053n).
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0395.jpg]
Trong rễ loài ngũ gia bì Acanthopanax sessiliflorus (Rupr. et Macxim.) Seem. Người ta thấy có những lignan glucozit như: Acanthozit A (độ chảy 100°C, (α)²⁰*(D)-42°, acanthozit B C₂₈H₃₆O₁₃ acanthozit C độ chảy 125-128°C, (α)²⁰*(D)-51°5, acanthozit D C₃₄H₄₆O₁₆ (C. A., 1965, 63, 843g và C. A. 1966, 64; 8290a).
Ngoài ra còn daucocosterin (hay β sitoterolglucozit) C₃₅H₆₀O₆ (C. A., 1966, 65, 2626h), 1-sesamin C₂₀H₁₈O₆, 1-savinin C₁₀H₁₆O₆ (C. A., 1966, 65, 15790d) glucozit tim, tinh dầu, (C. A., 1955, 49, 5603b).
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0396.jpg]
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0396.jpg]
Acanthozit B R=+D glucoza
Bình luận