Rễ thanh táo, miết giáp, địa cốt bì, sài bồ, mỗi vị 10g, đương quy, tri mẫu, mỗi vị 5g, thanh cao, ô mai, mỗi vị 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Chữa ho, sốt, mồ hôi trộm.
Chú thích:
Nguồn gốc vị tần cửu hiện nay chưa xác định chắc chắn.
Có nhiều tài liệu cho rằng tần cửu hay tần cửu vương, xuyên tần cửu (Radix Gentianae maerophyllae) là rễ khô của cây tần cửu (Gentiana macrophylla Pallas) thuộc họ Long đởm (Gentianacear), hoặc lại có vị gọi là tiểu tần cửu hay sơn tần cừu (Radix Gentianae dahuricae là rễ khô của cây tiểu tần cửu (Gentiana dakurica Fisch) cũng thuộc họ Long đởm. Có khi lại còn dùng rễ khô một số loài long đởm khác như Gentiana fetissowi, Geniiana tibetica, v.v… Trong các loại tần cửu này, người ta thấy có 5 ancalôit gọi là gentianin A C₁₀H₉O₂N, gentianin B C₉H₉O₂N và gentianin C có độ chảy 206-208°C (theo Dược học thông báo, 6 (4), tr 198, 1958). Công dụng và liều dùng như vị tần cửu nói ở trên.
Cần chú ý nghiên cứu xác định lại. Nếu đúng là những cây nói sau thì ở nước ta chưa có. Còn phải tiếp tục nhập.
Bình luận