Còn gọi ìà lấu, bời lời, bồ chát, cây men sứa.

Tên khoa học Psychoiria reevesii Wall.

Thuộc họ Cà Phê Rubiaceae.

()(*)()Cây nhỏ hay nhỡ có thể cao từ 1 đến 9m. Thân nhẵn. Lá thuôn dài, mọc đối, phía cuổng hẹp và nhọn lại, phiến là dài 8-20cm, rộng 2- 7,5cm, mặt trên xanh hay xanh sảm, mặt dưới màu nhạt hơn. Hoa trắng nhạt, mọc thành xim ỏ đầu cành, Quả hình cầu với đài tồn tại, đường kính 5-7mm, chín có màu đò, vói hai hạch, mặt hai hạch tiếp giáp nhau phẳng, 5 sống và rãnh trên lưng hạch. Mỗi hạch chứa một hạt màu đen. Mùa hoa quả: Tháng 5-7 (Hình 147).

()(*)()Cây mọc hoang dại ở dưới những tán rừng thưa vùng trung du, vùng núi.

Người ta dùng rễ và lá thu hái quanh năm. Rẽ đào về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sắy khô. Lá dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.

()(*)()Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy rễ và lá đều cho những phản ứng của ancaloit.

()(*)()Rề được dùng làm thuốc chữa đau răng, đau viêm tai. Còn dùng làm thuốc chữa băng huyết, đái ra máu, đắp vết thưcmg, vết loét, chữa lỵ, rắn

TODO: thêm hình ảnh

Hình 147. Hé mọ - Psychotriơ sp

cắn.

Ngày dùng l0-20g rễ dưới dạng thuốc sắc hay giã nát, đắp. Lá cũng cùng một công dụng. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chú thích:

Một loại lắu Psychotria sp. được dùng ở Sơn La để chữa lỵ có kết quả với tên địa phương là hé mọ. Nên chú ý nghiên cứu tìm nguồn emetin ờ những loại Psychoíria sẵn mọc ờ nước ta.

Còn gọi là nán tai mèo.

Tên khoa học Auricularia pohtricha Sacc.

Thuộc họ Mộc nhĩ Auriculariaceae.

()(*)()Loại nấm mọc trông giống tai người (mộc: gỗ, nhĩ: tai) mạt ngoài màu nâu nhạt, có lông mịn, mặt trong nhãn màu nâu sẫm. Thể quả chất keo, thời kỳ đầu hình chén, dần dần biến thành hình cái tai, hoặc hình lá, đại bộ phận phẳng, nhẩn, rất ít khí có nếp nhãn. Bô phận gốc thường có nếp gấp màu xám đỏ, nhiều khi màu tím. Đường kính có thể tới I5cm (Hình 148).

()(*)()Mọc hoang trên những cây, cành gỗ mục, ở trong rừng hay ờ vùng đồng bằng trên một số cây như cây sung, cây duối, cây sắn, hòe, dâu tầm. Hiện được sản xuất công nghiệp. Hái vể phơi hoặc sấy khô. Khí đùng làm thuốc thì sao cháy.

()(*)()Hoạt chất chưa rõ. Chỉ mới biết trong mộc nhĩ có 10% nước, 9-10% protit, 0,2% lipit, 58,5% gluxit, 6,3% xenluloza, 5,2% tro. Mỗi lOOg mộc nhĩ có 321,3mg canxi, 180,9mg p, 0,03mg caroten, 0,14mg vitamin Bị, 0,50mg vitamin B^, 2,4mg vitamin pp

TODO: thêm hình ảnh

Hình 148. Mộc nhĩ - Auricularia polytricha

C. Công dụng và liều dùng

Ngoài công dụng làm thức ăn, mộc nhĩ được dùng làm thuốc giải độc, chữa lỵ, táo bón và rong huyết. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc bột (sao cháy, tán bột), chia làm nhiều lần trong ngày.

()(*)()

()(*)()Cây mọc hoang dại phổ biến ở những vùng núi cao tỉnh Lào Cai, đặc biệt quanh vùng Sapa. Còn mọc ở Trung Quốc. Người ta còn di thực cây này sang một số nước châu Âu dùng làm cảy bóng mất đường phố vì câv mọc nhanh, đòi hỏi ít đất.

Thường người ta dùng gổ làm đồ dùng ()(*)()gỗ đẹp, ít bị mọt có lẽ do mùi gỗ và hoa.

Làm thuốc người ta dùng vỏ cây, quả và chất nhựa của vỏ.

c. ()(*)()Trong vỏ cây có chất nhựa dầu, mởt tinh dầu hắc và một tinh dấu thơm, chất nhựa dầu, một tinh dầu hắc và một tinh dẩu thơm, chất nhựa resin và chất nhẩy. Chất nhầy nhiều đến mức nước sắc nhầy đặc lại gần như thạch. Ngoài ra năm 1933, Wazicky còn thấy trong vỏ một glucozit và một saponoãt.

Tròng lá có chất độc, có ()(*)()là chất nhựa gây viêm ống tiêu hóa có thể làm chết súc vật ăn phải lá cây này. Những’người ngả (đẵn) cây thường bị viêm tấy và nôi phổng lên da. Mùi khó chịu của cây còn gây ngủ cho người.

()(*)()Vỏ cây được dùng chữa ỉa chảy và chữa lỵ dưới dậng thuốc sắc hoậc thuốc hãm: Ngày dùng 50g vỏ cây khô, thêm lOOg nước nóng, đun sôi rồi để nguội từ từ cho đến khi còn vừa nóng uống được. Người uống có thể buồn nón hay nôn thì giảm liều xuống. Sau 2 hay 3 ngày thấy kết quả.

Heret còn dùng trị sán: vỏ khô tán bột, ngày uống lg bột, uống liên tục trong 7-8 ngày. Ngày cuối cùng uống một liều dầu tẩy để tống sán.

Quả dùng chữa ho, điều kinh. Ngày dùng 5- lOg dưới dạng thuốc sắc.

l>á cây dùng nấu tắm ghè hay rùa chớc đầu.

()(*)()Còn cỏ tên lờ tam thạch cô, thanh ngưu đởm, cửu ngưu đởm, kim chư đòm, sơn từ cô, củ gió.

Tên khoa học Tinospora sagittata (Oliv.) Gagnep.

Thuộc họ Tiết dẻ Menỉspermaceae.

()(*)()San sư cô là tên đồng bào Mèo vùng chợ Mường Khương (Lào Cai) thường gọi cây này. Đày là một loại dây leo, sống nhiều năm, luốn xanh tươi, thân dài từ l-4m. Thần rỄ dưới đất có thể mọc dài tới 1,5m, thỉnh thoảng phình to lên từng đốt hình củ tròn to bằng ngón tay cái, có khi thành một *đãy gồm 5 đến 9 củ, màu vàng nhạt, khi cất có màu hơi trắng, vị đắng. Thân ưên mặt đất màu xanh lục nhạt, khi non có lông ngắn. Lá đơn, mọc cách, cuống lá dài 2-5cm, phiến lá hình mác nhọn, gốc lá hình chữ V, phiến lá dài 5-15cm, rộng 2-5cm. Hoa đực, cái khác gốc, hoa đực mọc thành chùm nhiều hoa có cuống dài 2-5cm, hoa cái cũng mọc thành chùm gồm 4 đến 10 hoa. Quả ưòn, cuống quả có đầu phình ra, quả chín có màu hồng đỏ. Mùa hoa: Tháng 3 đến tháng 5, mùa quả vào tháng 11-12 (Hmh 150).

Mình ỉ50. San sư cô - Tinospora sagittata

()(*)()Mọc hoang ờ một số tỉnh miến núi cao mát như Lào Cai (Mường Khương), Hoà Bình (Ba

()(*)()Thường thu hái quanh năm, đào lấy củ về rửa sạch, phơi sấy khô. Khi dùng thái mỏng sấc uống hay dã nát đấp bên ngoài.

c. ()(*)()Trong củ san sư cô có chất columbin C-„H,,0,. Hoat chất khác chưa rõ.

italic121) 22 r>

()(*)()Theo italic1tái liệu cổ\ San sư cô có vị đắng, tính lạnh, vào 3 kinh tâm, phế và vị. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chủ ưị yết hầu sưng đau,

()(*)()Còn gọi là phượng vĩ thảo, theo gà, phượng

vĩ.

Tên khoa học Pterìs multi/ida Poir. (P. Serrulata L.f.)-

Thuộc họ Dương xỉ Poỉypodìaceae.

Tên seo gà vì lá có một cái seo giống như seo ở đuôi con gà.

()(*)()Seo gà Jà một loại cây nhỏ, thân cồ, cao trung bình 15-25cm, có cây cao hơn. Lá bắt thụ có cuống mang dìa, dài 6-12cm, phiến lá dài 8- 25cm chia thành nhiẻu phiến nhỏ dài, mép có răng cưa, phiến nhỏ ờ đầu lá dài hơn cả, thoạt nhìn trông giống như những cành của cây. Lá hữu thụ có cuống dài 10-50cm, phiến lá dài 10- 40cm, cũng chia thành nhiều phiến lá nhỏ. Giữa các phiến lá nổi rõ gân chính, từ gân này tỏa ra nhiều gân phụ hình lông chim, xếp song song với nhau. Hai bên mép phiến lá hữu thụ mang cơ quan sình sản gọi là ổ tử nang xếp thành một đuờng thẳng liên tục (Hình 151).

()(*)()Seo gà mọc phổ biến ở miền Bắc và miền Trung nước ta, thường gặp nhất ở trên những vách đá, vách đất, xung quanh thành giếng, ven đường đi, những nơi thoáng ẩm và mát. Còn thấy mọc cả ờ Trung Quốc, Nhật Bản. Bộ phận dùng làm thuốc cùa cây là thân rể và lá. Thân rễ nằm ngang dưới mặt đất, chừng 3-4cm, hình cong queo, sần sùi, nhiều .mấu, hơi cứng, vị hơi ngọt, đắng và tê, mùi thơm hắc. Đào về thái mỏng, phơi hoặc sấy khô.

ho nhiệt mất tiếng. Dùng ngoài đắp những mụn nhọt sưng đau.

Nhân dân thường dùng chữa lỵ, ỉa chảy dưới dạng thuốc sắc, với liều 3 đến 6g (2 đến 3 củ) trong một ngày. Còn dùng chữa trâu bò đầy trướng, viêm ruột, tả lỵ.

Dùng ngoài dã nát đắp lên nơi sưng đau.

Chủ thích:

Tên sơn từ cô chính ra chỉ dùng để gọi tôn một vị thuốc họ Lan (Orchidaceae). Xem vị này.

Hình Ì5Ỉ. Seo gà - Pteris muỉtifida

c. ()(*)()Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

()(*)()Rễ và lá được dùng làm thuốc chữa đi ỉa chảy, ỉa ra máu, lỵ dưới dạng thuốc sắc hay thuớc ngâm rượu, nước sắc đôi khi còn thấy ra giun.

Rễ, lá sao vàng, tán nhỏ đun với dầu vừng thành thuốc dầu bởi chữa một số bệnh ngoài da của trẻ em.

Ngày uông từ 12 đến 24g rẽ hoặc lá khô. Dùng ngoài không kc liểu ỉượng.

()(*)()Chừa kiết lỵitalic2 (trực ưùng); Rề và lá seo gà sao cho thơm 24g, nước lOOml, đun sôi, giữ sôi trong

vòng 30 phút. Chia 2 hay 3 lần uống trong ngày chữa lỵ trực trùng.

Đưn thứ hai : Chè tươi lOOg, seo gà khỏ 24g, nước I50ml, đun sôi giữ trong 30 phút. Chia hai hay ba lần uống trong ngày chữa lỵ trực trùng.

()(*)()

Cùn gọi là bọng cách, cách.

Tên khoa học Premna integriýolia L. (Gumirơ littorea Rumph.).

Thuộc họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae.

()(*)()Vọng cách là một cây nhỏ có nhiểu cành, đôi khi mọc leo, có khí có gai. Lá mỏng, hình dáng thay đổi, khi thì hình trứng, khi thì hình hơi bầu dục, đầu lá tù hay hơi nhọn, phía cuống hơi hình tròn, dài từ 10-16em, rộng 5-6cm, có khi tới lOcm hay hơn; mép lá nguyên hay hơi khía tai bèo. Hoa nhiều, nhò, màu xanh lục nhạt, mọc thành ngù ở đẩu cành. Quả hình trứng, màu đen nhạt, to bằng hại đậu, xù xì, ở đâu hơi hõm, có 4 ngân, mỗi ngăn chứa một hạt.

Toàn thím cây có mùi thơm dễ chịu, lá cũng có mùi thơm hơi hắc, rễ có vị hãng đắng, mùi

TODO: thêm hình ảnh

Hình 152. Vọng cách - Premna integriỷoỉia

thơm (Hình 152 , Hm 23,4).

()(*)()Cây vọng cách mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam và các nuớc Lào, Cămpuchia. Còn thấy mọc ở Mangát, An Độ, Inđónêxia, Philipin và châu Úc.

Thường người ta hái lá quanh năm, có nơi dùng cả vò thân, rễ. Hái về rửa sạch, phơi hay sấy’khô hoặc SÍIO vàng mà dùng.

()(*)()Lá chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Basu N. K và Dandìya p. c (1947) đã chiết được từ vỏ thân hai ancaloit gọi là premnin và ganìarin.

Trong rễ có tinh dầu thơm và một chất màu vàng.

()(*)()Theo kết quả nghiên cứu của Basu N. K và Dandiya p. c thì Premnin thí nghiêm trên ếch có tác dụng giống giaocảm (sympathomimetique), nỏ làm giảm sức cơ của tim và làm dãn nở, dãn đồng tử.

()(*)()Vọng cách chi mới thấy được dùng trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân. Ngoài công dụng làm thuốc, lá vọng cách được nhân dán dùng ăn gỏi cá.

Làm thuốc, lá vọng cách dùng chữa lỵ, thông tiểu tiện, giúp sự tiêu hóa. Rê vọng cách chữa đau bụng, ãn uống không tiêu, chữa sốt.

Tại An Độ, Inđônêxia lá vọng cách được dùng dưới dạng sắc uống chữa tê thấp, thấp khớp. Lợi sữa cho phụ nữ mới sinh con. Mỗi ngày dùng 30-40g lá tươi hoặc 15-20g rễ.

()(*)()Chữa kiết lỵ:italic2 Lá vọng cách tươi (30-40g), rửa sạch, vò nát thêm ít nước lã đun sồi để nguội.

Cồn í>ọi là đậu kiếm, đậu mèo leo, đao đậu

tử.

Tcn khoa học Canavalia ịịladiata (Jacq) D. c.

Thuộc họ Cánh bướm Pabaceae (PapHioìiaceae).

A. Mò tả cây

Cây thảo, leo cao tới lOm, sống hằng năm. Thân tròn có khía dọc. Lá kép 7 lá chét có cuống chung, xẻ rãnh ở trên, lá chét màu lục nhạt, hình trứng rộng, mềm và nhẩn. Lá kèm sớm rụng. Cụm hoa hình chùm ỏ nách lá, dựng đứng, có cuống 10, mang hoa ở một nửa trên. Hoa to màu trắng hay tím nhat. Đài hình ống chia 2 môi. Cánh hoa có móng, nhị dính thành 1 bó mang 10 bao phân màu vàng. Quả lớn, dẹt, hai mép song song, cong hình chữ s. Hạt 10-14, hình bầu đục dài dẹt màu đỏ. Cây ríi hoa nhiéu lứa từ tháng 6 đến 9, có quả già từ iháng 10-12 (Hình 153).

()(*)()Nguồn sốc ở Ấn Độ. Hiện được trồníỉ ở hầu hết các nước nhiệt đới.

Người tíi dùng hạt làm thuốc: Quả chín thu hái về. phơi khỏ lẩy hạt, phơi hạt cho thật khô. Hat dài 2,5-3cm. rộng 1,5-2cm, đày lcm. Mặt ngoài bỏng có những vết nhãn, mép có tễ mÌLU xám đen. dìii 1,5-2mm, rộns 2mm.

()(*)()Hạt chứa khoảng 20% canavalin, một ít canavanin C-HpO^ (axit), men ureaza. Hạt chưa chín chứa giberellin A21 và A,, (Quảng Châu ihực vật đại từ điển, 1963, 255 và c. A.

1968, 68, 29.885g, c. A. 1969. 71, 69500w).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 153. Đậu rựa - Catiavơỉia gỉadiata

Trong hạt còn chứa chất gây vón hồng cầu với nống độ 1:100.000.

()(*)()Hạt đậu rựa lẩn đáu tiên thấy shi trong “Bản thảo cưưng mục ” làm thuốc với tên đao đậu. “Bản thào cương mục thập di" ghi rể dùng làm thuốc với tên dao đậu cãn.

Theo tài liệu cổ đậu rựa có vị ngọt, tính ôn, vào hai kinh vị và thận, có tác dụng ôn trung, hạ khí.

Thường dùng chữa chứng hư hàn mà sinh nấc (nấc cụt). Ngày dùng 9-15g dưới dạng (huốc

sắc. Có khi sao vàng tán bột. Ngày dùng 5-6g bột, dùng nước chiêu uống.

Nhân dân còn hay dùng hạt non nấu ăn vì nếu đợi hạt già thì mặc dầu nấu lâu cũng khổng mềm dừ, lại hay đau bụng mạc dầu irong hạt khõng thấy có axit xyanhydric.

Còn được trổng làm phân xanh.

Vỏ quả cũng được dùng làm thuốc (đạo đậu xác). Trong tài liệu cổ có ghi vỏ đậu rựa có vị đắng, chát tính bình có tác đụng giáng khí, chỉ tả. Dùna chữa nấc cụt, lỵ mãn tính. Ngày dùng 10-15ẹ dưới dạng thuốc sắc.

Chú thích:

Ngoài hạc đậu kiềm nói trên, nhân dân còn dùng hạt đậu tăc, còn gọi là đậu rựa, đại dao đậu có tẽn khoa học Canavalia ensiỷormis (Linn.) DC. Hạt màu trắng, tc chiếm nửa chiều dài của hạt. Trong hạt có concanavalin A và B (C. A. 1962, 56, 9175C, 1967, 66, 101856d), protit, canavanin, canalin C₄H₁₀O₃N,. (Dược học tạp chí 1962, 82, 1671, c. A. 1967, 67, 8703k, 1964, 60, ll052d) ureaza và một sô men khác (C. A.

1969, 71, 56958b), hạt còn chứa canavanin giberellin I CiyH2ĩ07 và canavalia gibereỉlin II C„H2206 (Kaỉo et al. Teỉrahedron Letters 1967", 4861).

()(*)()

Cồn gọi ìù Zơrơng (Bình Định).

Tôn khoa học Zingiber cassumunar Roxb.

Thuộc họ Gừng Zingibcraceae.

A. Mô ()(*)()cây

Cay thảo, cao 2m, có thân rễ lớn hơn củ gừng, màu lục vàng, mùi nồng tựa hạt tiêu. Lá khòng cuống, hình thuỗn mũi mác, gốc lá tròn, đầu thóp nhọn, mặt trên nhẩn, mặt dưới hơi có lông như bột. Phiến lá dài tới 40cm, rộng 3,5cm,

TODO: thêm hình ảnh

Hình 154. Gừng dại - Zingiger cassumunar

lưỡi bẹ đạng vẩy mỏng, bẹ lá có khía, có lông.

Cán hoa có lông, dài trung bình 15-25cm vẩy có lông ở gốc, hình mũi mác, không lợp lẻn nhau, cụm hoa hình thoi, nhiều hoa, dài khoảng

11 cm, rộng 4-6cm, lá bắc lợp lên nhau, mép màu tía, Hoa mau tàn, tràng có ống khỏng vượt quá các lá bắc, thùy hẹp dài. Bao phấn ngắn hơn cánh môi, trung đới dài và mềm yếu. Cánh môi hình tròn chẻ sâu, màu vàng nhạt, có thùy hên do nhị lép tạo thành. Bầu có lổng.

Mùa hoa: tháng 7-8, quả: tháng 7-9. (Hình 154)

()(*)()Cây mọc hoang dại ở vùng núi Ba Vì (thuộc Hà Tây). Có nhiều ở Cắc tỉnh micn Nam, được khai thác và sử dụng với tên zơrơng (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).

Còn thấy ở Thái Lan (mang tên Phlai), Ấn Độ, Malaixia.

Nhân dân thu hái thân rễ, đem về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc.

()(*)()Năm 1979, Trạm nghiên cứu dược liệu Nghĩa Bình đã cất từ thân rễ tươi của gừng dại được

0, 5-0,8% tinh dầu. Từ thân rễ quy ra khổ kiệt được 4-5% tinh dầu. Tinh dầu màu vàng nhạt, sánh, mùi thơm. Để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, sau 5 ngày tinh dầu có khoảng 50-70% tinh thể, nếu để tinh dầu ngay vào tủ lạnh thì chỉ 2 giờ sau kết tinh. Tinh thể màu tráng đục, mùi

nồng, vị nhạt, không tan trong nước lạnh, tan trong nước ấm rồi nổi lỗn mặt nước, đổ iạnh sẽ kết tinh trở lại, tan hoàn toàn trong dung môi hữu CƯ.

Theo M.Lawrcnce, J. w . Hogg và St. J. Terhune (Riechstoffe, Aromcn, Korper- /legemittel 20, 261. I910-Mi!íilzer Beiichte, 1971, 48) tinh dầu cất từ thân rễ gừng dại ở Thái Lan có tỷ trọng D₂U 0,894, CCD₂U 33"36’, r|D30 1,489. Bằng sắc ký khí và phổ hồng ngoại đã xác định dược 2,5% ocpinen, 0,1% camphen, 2,1% Ppinen, 33,4% sabinen, 1,6% mỵrxen, 4,8% CCtecpincn, 0,7% limonen, 1,1% 1-8 xineol, 9% Ỵtecpinen, 2,1% p-cymol, 2,1% tecpinolcn,

0, 6% trans -sabinenhydrat, 0,5% cis- sabinenhydrat, 0,7% cis-p-menthen-2-ol (1), 33,3% tepinenol (4), 0,5% trans-p-menthen-2- ol(l)+tecpinenl-yl-4-axetat, 0,4% atecpineol + atecinylaxetat, 0,2% cis-piperĩtol, 4,3% rnột thành phần chưa xác định được.

Năm 1971, T. E. Casey, J . Dougan, w. s.

Matthews và J. Nabney (Tropical Sc. 13, 199- Milti!zer Berichte 1972, 60) nghiên cứu tinh dầu cất từ thân rễ gừng dại Thái Lan thu được 0,55 tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm hơi cay, với tỷ trọng d:u 0,895, aD20 33"2, T|D20 1,489, tan trong 4,6 phẩn cồn 80°, với 36,5% ancol toàn phần, (Cl₀H)SO) trong đó có khoảng 35% tecpirienol-(4). Ngoài ra còn xác định một sô thành phần khác như ocpinen, ppinen, sabinen, myrxen, cctecpinen, ìimonen, tecpinen, P-cymol và tecpinolen và một số thành phẩn chưa x.ác định khác.

Năm 1975, (Íníerna!. Fỉavours 6, 136 1936- Miltiier Berichte 1975, 70) D. M. Baker và J . Nabney đã tách được từ linh dầu gừng dai Thái Lan chất l-(3,4-dimetoxyphenyl) butadicn (2,4). Chánàyđã &ọ:TEGjsey,J.Dougm,W.S. Matthews và J. Nabney xác định một số năm nhưng vãn chưa tách ra được (Vạ!. Tropical Sc. 13, 199. ] 97 1).

()(*)()Cây này hầu như chưa thấy sử dụng ở miền Bác nước ta. Dân tộc Bana huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định rất hay dùng thân rễ gừng dại với tcn “ngải”, zơt’ơng” để chữa lỵ mãn tính, toi gà.

Nhân dân Mataixia dùng thân rể cho trẻ ân đổ tẩy giun và cho phụ nữ sắc uống sau khi đỏ. Thân rễ ngâm rượu dùng xoa bóp bụng cho pliụ nữ sau khi đẻ. Người ta còn dùng chữa thấp khớp; đau nhức và những trường hợp vicm tấy.

()(*)()

Còn gọi là bâng lang, bằng lãng (miển Nam), kwer (dân tộc Ma, Tây Nguyên), thao lao, ưuol (Rađê, Tây Nguyên).

Tên khoa học Lugerstroemia caỉyculơta Kurz (syn. Lagersíroemia angustifoỉia Pierre ex.Lan.).

Thuộc họ Tử vi Lythraceae.

Tên săng lẻ cũng như bằng lăng dùng chỉ nhiều cây thuộc cùng chi khác loài và thường thêm đuôi để chỉ nơi mọc hay giống một cây nào khác hoặc công dụng nhu bằng lảng nước (chì nơi mọc ở nước), bằng lăng ổi, bằng lăng chèo (vì gỗ để làm bơi chèo), bàng lãng tía (hoa màu tía), bằng lãng trắng (hoa màu trắng)…

Tên Lagerstroemia do Carl von Linné đặt cho từ năm 1759 đê nhớ tới người bạn thân của mình, một công chức người Thụy Điển có tên Magnus Lagerstroem sinh năm 1691 ở Stettin và chết năm 1759 ở Gotterburg.

()(*)()Cây gỗ cao 30-35m, thản gỗ có đường kính 40-8 Ocm, cành mảnh khảnh, có lông mềm màu hung, lông hlnh sao, có ở ngọn, sau nhấn và hình trụ. Lá mũi mác, thuôn dài, hẹp dán, tù ở gốc, dài 7-I4cm, rộng 20-50mm dai, lúc đấu có lông hình sao, sau không lông ở phía trên, có nhiều lông mềm hơn ở mặt dưới, gân phụ 10-13 đôi. Cụm hoa mọc ở đỉnh với 6-8 hoa, nụ hình nón ngược hay trái xoan, đài hình chuông, rất nhiều lông mềm, 6 thùy hình ba cạnh, cánh hoa

6, hình mắt chim, nhị có nhiều gần bằng nhau, nhị bầu xù xì có 5-6 ô, quả nang hình trứng dài 12mm, tụt vào trong dài tới 1/3 {Hình 155).

()(*)()Mọc hoang dại hầu như ở khắc nước ta nhưng nhiều lìhất ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quàng Trị, Thừa Thiên, Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc.

Còn thấy mọc ở Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Miến Điện, Ân Độ.

Chủ yếu là lấy gỗ loại gỗ hồng sắc, Nhân dân miền Nam thường dùng vò thân và lá dừng làm Ihuổc chữa bỏng, lỵ.

()(*)()Hoàng Như Mai (1983) đã phân tích thấv:

Trrtng vỏ íhán có ancaloit, Aavonoit, axit hữu cơ, tanin, saponin, cumarin và sterol. Trong đó tanin catechie và gallic chiếm 30,5% chủ yếu là tanin catechic 23%, lanĩn gallic 7%. Axit hữu cơ biểu thị bàng axit malic 4,22%, tổng sổ đường 14,2% trong đó đường khử 13,2%, saccaroza

0, 95%, chất nhầy 2,76%, gôm 3%, pectin 2,81%.

Trong ìá và hoa cũng có những chất như trong vò thân nhưng với tỷ lệ thẩp hơn: tanin catechic và gallic 5,42% trong đó tanin catechic chiếm 76%, tanin gallic 24%, axit hữu cơ 2,83% (lá), dường 5,8% troniỊ đó đường khử 5,2%, saccaroza

0, 57%, chỉ số bọt duới ỉ 00, nhưng gôm chất nhầy ưong lá cao hơn trong vỏ thân: Chất nhầy 3,25%, gôm 3,7%, pectin 6,51%.

()(*)()Cũng Hoàng Như Mai đã theo dõi thí nghiệm tác dụng kháng khuẩn của nước sắc vỏ thân 3:1, lá và hoa 2:1 in vitro đối với nhiều nòi vi. khuẩn hay gặp trên vết thương và gây bệnh đường ruột (iStaphylococcus aureus 209P, Proìeus vuỉgaris , Proteus. aeruginosa, Shiỵeỉla shiụae, sonnci, Ịìexneru E. coli 086, Saltnoneỉỉa typhi , B.subt.ilis) đều thấy có tác dụng kháng khuẩn với mức độ khác nhau. Thí nghiêm còn cho thấy tan in trong săng lẻ là một trong các thành phần có tác (lụng kháng khuẩn của cây.

Tác dụng thể hiện trên nhìểu nòi vi khuẩn đã kháng các kháng sinh thông thường (penixilin, sreptomyxin, tetracyclin) trong đó có Staphvlìococcus ơureus. So với một vài dược liệu khác (muổng trâu, chút chíi, bạch hạc, nhựa chuối tiêu, trầu không) săng lẻ có tác dụng kháng khuẩn tương đối mạnh, nồng độ tối thiểu ức chế vi sinh vật phát triển tương đối thấp.

Sãng lẻ còn có (ác dụng đối với một sô’ nấm gây bệnh ngoài da hay gập (Candida aỉbìcans, Trichophyton rubrum, Trichuphvton íỊỵpseum, Epidermophyton inguinaỉe) so sánh vứi một vài dược liệu thường được dùng trong nhân dân đc chữa hắc lào, săng lẻ có tác dụng mạnh hơn.

Những thí nghiệm còn cho kết luận rằng những hoạt chất kháng khuẩn của săng lẻ hòa tan trong nước và chịu được nhiệt đun sôi trong 2-3 giờ.

Cao ỉỏng sãng lẻ 2:1 có tác dụng ức chế phản ứng viêm do kaolin trên chan chuột, LD₅₀ của vỏ sãng lẻ là 60g/kg.

Thí nghiệm thử độc tính bán cấp và trường diễn không thấy cỏ ảnh hưởng gì đặc biệt.

Thử tác dụng điều trị bỏng thực nghiêm của sáng lẻ cho thấy cao lỏng vỏ sãng lẻ 3:1 tạo thành một màng mỏng chóng khô ở chỗ bôi, bản thân săng lẻ lai có tác dụng kháng khuẩn nên hạn chế được rõ so với lô đối chứng nhưng cao săng lẻ giúp cho quá trinh liền sẹo nhanh và tốt hơn, không có trường hợp nào phát hiện thấy có sẹo xấu, lôi hoặc co.

()(*)()Theo kính nghiệm của nhân dân, săng tẻ được áp dụng chữa bênh nấm ngoài da (dùng cồn sãng lẻ 30%) bôi lên nơi tổn thương, ngày 2 lần, kết quả thu được rõ hơn là dùng cổn chút chít và bạch hạc.

Điều trị lỵ trực khuẩn: Ngày uống từ 10-15 viên, mỗi viên tương đương với 1,5g dược ỉiệu khó. Thời gian hết khuẩn Shigcỉỉa ngắn hơn so với đùnỉ’ cloroxit hay ganidan. Thời gian đícu trị 10-15 ngày. Đối với trò em dưới 5 tuổi dùng với liều 3-6 viẽn/ngày. Dùng liển 5-7 ngày.

Điều trị bỏng: Dùng cao lỏng săng lẻ hâm nóng thì tạo màng tốt dai bóng bám chắc vcì thương nhưnsỊ vẫn gảy xót. Nếu dùng bột sáng lẻ thì dễ nút nẻ, bột bám không chắc bằna cao.