Còn có tên ỉã cây rau muối dại, cây cỏ hôi, cây thanh hao dại, thổ kinh giới.
Tên khoa học Chenopodium ambrosiữides L. {Chenopodium anthelminticum A. Gray.).
Thuộc họ Rau muối Chenopodiaceae.
Chú thích về tên: Tên cây dầu giun là tên mới đặt vào khoảng năm 1939-1940, vì cây này cho tinh dầu chữa giun. Có chữ dầu để phân biệt với cây sử quân tử có tên khác là cây giun.
Tên thổ kinh giới là tên Trung Quốc giới thiệu. Cần biết để tránh nhầm lẫn.
A. Mô tả cây
Cây dầu giun là một loại cỏ sống hằng năm, nhưng cũng có khi ở đất tốt và cao ráo mọc 2-3 năm. Cao chừng lm-1,5m hay hơn. vỏ lá, thân và hoa có mùi hăng đặc biệt. Lá có cuống, mọc cách dài thon, một đầu nhọn, màu lục nhại, phiến lá không phảng, chung quanh có răng cưa thưa và khỏng rõ rệt, dài chừng 35-75mm, rộng 13- 25mm. Trên lá có lông, thưcmg ở các gân lá, nhất là ở mặt dưới. Hoa mọc tập trung thành xim đơm (glomerule) ở kẽ lá. Giữa chùm là hoa đực hay hoa lưỡng tính, xung quanh có hoa cái nhỏ và không có cuống. Đường kính hoa độ lmm, bao hoa có cánh hình bầu dục, hoa có 5 nhị, nhưng có khi chỉ có 3 hoặc 2, bầu hình bầu dục. Quả là những bế quả màu lục nhạt hay nâu nhạt, hình cầu, đường kính chừng 1,5mm, cùi mỏng, có lá đài không rụng, trong chứa một hạt nhò đen và bóng. VỊ hắc đặc biệt.
Thân cây non, lá, bầu hoa có lông thuộc 3 loại: lông che chở đa tế bào, lông che chờ đa tế bào nhưng tế bào sau cùng lớn hơn, thành góc với các tế bào khác và lông bài tiết, chân ngắn gồm 1 hay 2 tế bào, tận cùng bằng một tế bào phồng to lên. Hái toàn cây và hạt để cất tinh dầu
Hình ỉII. Cây dầu giun Chenopodium ambrositìidcs
làm thuốc chữa giun (Hinh 111, Hm 7,4).
B. Phản bố, thu hái và chế biến
Cây mọc tự nhiên ờ nhiều nước vùng nhiệt đói, có mọc ở Châu Âu (vùng Địa Trung Hải). Tại Việt Nam mọc khắp Bắc Bộ, Trung Bộ, nhưng hình như tại Bắc Bộ mọc khỏe và dẻ hơn các nơi.
Cây đầu giun ưa đất phù sa bồi. Ở Bấc Bộ, mọc tự nhiên ở hai bên bờ sông Hồng, từ VTnh Phúc tới Nam Hà, ven biển tỉnh Thái bình, Hải Phòng (Đồ Sơn). Mọc vào các tháng 6, tháng 7 thành từng bãi rất rộng. Ở ven sông vùng Hà Nội có rất nhiều. Những nơi cao mát như Sapa,
Đà lạt cũng có cây dầu giun mọc hoang.
Cây mọc dại từ đầu mùa xuân đến giữa mùa hè thì ra hoa kết quả. Đến tháng 8 tháng 9, quả chín hạt rụng xuống đắt. Rồi cây bị đất phù sa tràn ngập, thối chết, những hạt bị vùi xuống đất đến mùa xuân lại mọc lên.
Trước đại chiến thứ hai (1939-1945) không ai khai thác ở Việt Nam. Nhưng từ năm 1939 được khai thác và được nhiều nơi thí nghiệm trồng tỉa, Sơn Cốt, Phổ Yên (Bắc Thái), Xuân Mai, Hoài Đức (Hà Tây), bãi Phúc Xá (Hà Nội). Hiện nay việc ưồng đang được phát triển rất mạnh. Qua việc trồng tỉa đã có những kinh nghiệm sau đây:
Đất trồng: Cẩn thật tốt, ưa đất cát, đãt phù sa. So sánh hiệu suất của ba nơi đều hái vào tháng 7 irên một diện tích bằng nhau là 360m2.
Như vậy một hecta có thể thu hoạch một năm từ 2.700kg tới ]8.000kg cây tươi và từ 90 tới 240kg hoa quả tươi có thể dùng để cất tinh dầu. Đất tốt có thể tới 21.600kg.
Cách cấy: Hoặc gieo hạt rổi đánh cây con. Lối gieo hạt thẳng tốt hơn, cây mọc khỏe, nhiều cành lá, cao tốt hơn. Nếu cấy thì cây thấp, chóng ra hoa và kết quả.
Mùa gieo hạt tốt nhất vào tháng 12 hoặc tháng
1 năm sau, gieo xong gặp mưa phùn mọc rất khỏe. Có thể gieo sớm hơn (tháng 10) hoặc muộn hơn một ít (2-3). Gieo hạt chừng 8 đến
15 hôm thì mọc. Vì hạt nhỏ nên khi gieo cần trộn với 5 phần đất. Nếu gieo như gieo mạ thì một sào .(360mJ) cần 2,5kg hạt, nếu trồng hớ cách nhau 50cm thì 1 sào cần lkg hạt.
Mùa hái: Từ lúc gieo hạt đến lúc quả chín phải 6 tháng. Nhưng sau 4 tháng đã có thể cắt cây để cất tinh dầu. Hoặc cắt cả cây (đới vói những nơi phải tranh thủ trước khi ngập nước) hoặc cắt ngọn có hoa: gổc và cành còn lại sẽ mọc lá mới, thu hoạch lần thứ hai.
Nên cắt vào lúc khô ráo, trước khi quả chín.
Cầy hái về phải cất ngay, vì để lâu tinh dầu bốc hơi và cây có thể bị thối. Nếu khổng cất tinh dầu kịp cần phơi trong mát, tránh chất thành đống.
Hiệu suất cao nhất vào tháng 5 tháng 6. Đây là hiệu suất của một hecta qua các tháng.
Trọng lượng cây tươi trung bình một hecta cất được 3.400kg cây cất được từ nửa lít tới 30 lít tinh dầu.
C. Thành phần hóa học
Hoạt chất của cây dầu giun là tinh dầu giun. Tinh dầu giun cất từ cả cây hoặc từ hạt. Hiệu suất của hạt từ 0,Ố5%-1%, hiệu suất của cây, chỉ chừng 0,35%.
Vì tinh dầu rất hay hỏng, cho nén cần cất mau, từng mẻ nhỏ một. Nếu đun nóng quá, tinh dầu bị phá hủy trước khi bốc lên.
Tinh dầu giun mùi hăng, vị nóng, đắng, màu vàng nhạt. Tỷ trọng ở 15° từ 0,965 đến 0,990, tan trong 3 đến 10 phần rượu 70°, rất tan trong ête và cloroíoc, hơi tả tuyển (OtD từ -4° đến 8°5)
]g=L giọt. Thành phần chủ yếu của tinh dầu giun là atcaridol (ít nhất phải có 65%). Tinh dầu của hoa và hạt có chứa nhiều hơn (trong các tháng 5, 6, 7, 8 tỷ lệ có thể lên tới 75-85%).
Ngoài ra, còn chất ximen (22-35%) cacbua khác, ít campho, đimetyl etylen, oxyt, axú butylic và glycol. Chất atcaridol là một peroxyt có nhân para-xímen, rất đễ bị phá hủy khi cất tinh dầu.
Giá trị của tinh dầu giun do tỷ lệ atcaridol quyết định.
Công thức atcaridol:
CHa CHS
CHa CHo HaC CHa
Theo v/allach Theo Thomas
Định lượng atcaridoỉ: Muốn định lượng atcaridol, ta dựa trên tính chất oxy hóa của nó. Trong tinh dầu hòa tan vào axit axêtic ở mồi trường axit clohydric, chất atcarídol giải phóng iốt của kali iođua theo tỷ lệ thuận. Định lượng iốt giải phóng ta có thể tính được lượng atcaridol.
Cách tiến hành: Loại hết nước trong tinh dầu bằng cách ngâm với Na₂S₀₄ khan, lấy một trọng lượng Pg chừng 2,5g tinh dầu cân thật đúng, hòa lan vào ưong một lượng axit axêtic kết tình được để có thể đủ một thể tích tổng số là 50ml.
Trộn 3ml dung dịch KI (có 83g KI trong lOOml) với 5ml HO đặc (TO và lOml axìt axêtic kết tinh được (Tt).
Cho hỗn hợp này vào trong tủ lạnh hay một hồn hợp sinh hàn ở nhiệt độ 0° đến 3°. Khi hỗn hợp này đã thật lạnh rồi, cho thật nhanh 5ml dung dịch tinh dầu trong axit axêtic chuẩn bị trên kia và đã chưa sẩn trong ống nhỏ giọt Mohr. Nút kỹ và để hồn hợp trong tù lạnh 5 phút.
Thêm vào 5ml cacbon têtraclorua. Định lượng iôt giải phóng bằng dung dịch N/10 natri hyposunfit.
Làm một dung dịch đối chứng khác (không có tinh dầu) để so sánh. Chỉ trộn 3ml dung dịch KI, 5ml HCL đặc, 15ml axit axêtic kết tinh được và 20m] nước cất. cho hỗn hợp này vào tủ lạnh cùng với hỗn hợp để định lượng.
Thêm 5ml cacbon têtraclorua và đung dịch N/10 natri hyposunfit cho tợi khi hết màu. Ví dụ N và n mỉ đung dịch N/10 natri hyposunfit đã dùng để dinh lượng đung dịch so sánh và dung dịch để định lượng.
Tỷ lệ atcaridol trong lOOg tinh dầu là:
6,65
(N’- n) —
p
Tinh đầu giun dùng làm thuốc phải chứa ít nhất 60% và nhiều nhất 80% atcaridol.
D. Tác dụng sinh lý
Tinh dầu độc ở liều tương đới thấp do tác dụng suy yếu đối với tim, nó còn có tác dụng hạ huyết áp và hại đến nhịp thở.
Liều mạnh, nó làm ống tiêu hóa bị xót hay buồn nôn, nôn mửa, chóng mặt, ù tai, hoa mắt, lạnh đầu ngón chân ngón tay.
Cổ trường hợp chết với hiện tượng trung khu hô hấp bị tẽ liệt.
Nó rất độc đối với giun: 1 dung dịch nước có 1/5.000 trong lượng tinh dầu giun cũng đủ làm tê liệt giun đũa.
Đối với giun của ngựa rất khó chữa mà cũng chỉ cần một liều 16 đến 20ml để tiêu diệt hết.
Chất atcaridol tác dụng mạnh gấp hai lần tinh dầu. Liều độc của atcaridol là 300mg cho 1 kg thân thể của thỏ, 600mg đối với chuột bạch và 500mg đối với ếch. Cá chết sau 12 giờ trong một dung dịch 1/8.000.
Tinh dầu giun có tác dụng đổi với giun đũa, giun mỏ nhung không tác dụng đối với sán và giun kim.
Tóm lại tinh dẫu giun và atcarídol có tác dụng đối với giun đũa nhưng độc và nguy hiểm cho nên không nên dùng đối với người già, đàn bà có thai, người yếu.
E. Liều dùng
Ngày uống 30 đến 50 giọt chia làm hai hay ba lần uống (nhỏ trên miếng đường) hai giờ sau khi uống hết tinh dầu, uống một liều thuốc tẩy muối magiẽ sunfat hoặc uống cả 30 hay 50 giọt ngay một lần hòa tan trong 30ml dầu thầu dầu.
Trẻ em tùy theo tuổi, uống 10 đến 20 giọt một ngày.
Thuốc cố độc, dùng phải cẩn thận.
Còn gọi là cây quả giun, quả nấc, sứ quân tử.
Tên khoa học Quisquaiis indỉcơ L.
Thuộc họ Bàng Combretaceae.
Ta dùng quả chín (Fructus Quisqualis) hay nhân chín (Semen Quisqualis) phơi hay sấy khô của cây sư quân tử.
Tên đúng là sử quân tử (hạt của ông sứ quân) vì trước đây có một vị sứ quân, (người đứng đầu một vùng ngày xưa) chuyên dùng hạt này chữa bệnh cho trẻ em. về sau đọc chệch thành sử quân.
A. Mô tả cây
Sử quân tử là một loại dây leo hay nói cho đúng loại cầy mọc tựa vào cây khác, hoặc hàng rào. Lá mọc đối, đơn, nguyên, hình trứng đầu nhọn, phía cuống hơi tròn hình tím, dài 7-9cm, rộng 4-5cm, cuống ngắn. Hoa hình ống, lúc đầu màu tráng, sau chuyển hồng và đỏ, mọc thành chùm ở kẽ lá hoảc đầu cành, đài 4-10cm. Quả khô, hình trứng nhọn, dài 35nim, dầy 20mm, có
5 cạnh dọc hình 3 cạnh, có chứa một hạt dài phía dưới hơi rộng, phía đẩu hơi mỏng, có 5 đường sống chạy dọc (Hĩnh 112, Hm 7,3).
B. Phân bôi, thu hái và chế biến
Cây sử quân mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miềm Trung nước ta. Tại các tỉnh, nhất là thành phố, một sô’ gia đình trổng làm cảnh vì cây xanh tốt quanh năm, hoa đỏ đẹp. Nhưng người ta nhận thấy cây trồng ở thành phố thựờng không có hay ít có quả. Cũng chưa có ai đi sâu nghiên cứu nguyên nhân. Hoa nở từ tháng
4- 7, tháng 8 quả chín, hái về phơi hay sấy khô là được. Thường quả nguyên dễ bảo quản hơn. Khi dùng người ta đập lấy nhân, có khi ngay từ nơi thu hái người ta đập lấy nhần phơi khô.
Một só nơi người ta hái hoa hoặc đào rể về làm thuốc. Trồng cây sử quân tử không yêu cầu diện tích rộng lớn, chỉ cần có chỗ dựa là phất triển được. Sau 2-3 năm, thu hoạch. Một khóm sử quân tử hằng năm cho từ 5-15kg quả trị giá
5- 20kg gạo.
Trồng bằng hạt: Chọn các quả đẫy và chắc, gieo vào mùa xuân (tháng 2-3) hoặc mùa thu, sau khi thu hoạch quả. Trước khi gieo, ngầm qua vào nước nóng 45° trong một ngày. Mỗi hốc
Hình ỉ 12. Sừ quán tử - Quisqualis indica
gieo hai ba quả. Sau 35-40 ngày quả nẩy mầm. Cây con cao độ 15-20cm, đem đánh trồng vào nơi cố định.
Trồng một lần sẽ thu hoạch mãi. Càng những nãm sau, thu hoạch càng lớn.
Có thể trồng bằng cành: Chọn những cành to khỏe, cắt chành từng khúc dài 25-30cm. cắm nghiêng, đầu ngọn nhô khỏi mặt đất độ 3-5cm. Sau độ 10 ngày mầm đã mọc dài. Nên trổng vào mùa xuân.
Trồng bằng cành, sau 2 năm đã thu hoạch được.
C. Thành phần hóa học
Trong nhân sử quân tử có chứa từ 21-22% chất dầu béo màu xanh lục nhạt, sền sệt, mùi nhựa, vị nhạt không có tác dụng tẩy giun.
Ngoài ra còn chất gòm, các chất hữu cơ, chất đường 19-20% axit hữu cơ (axit xitric), kali sunfat. Hoạt chất hiện nay chưa xác định.
Năm 1952, Trần Tử Nghĩa và Lý Chính Hoa (1952. Trung hoa y học tạp chí, 38. 4. 319- 321) đã báo cáo chiết từ nhân sử quân tử muôi
kali cùa axit quisqualic CJ₀H O₁₀N K3 có tác dụng diệt giun. Axit quisqualic có phản ứng axit mạnh, nhưng muối natri của axit quisqualic (dùng cacbonat axit để trung hòa) thì không có tác dụng mạnh trên giun.
Năm 1958, Hoàng Trung Nghi (Giang lây Trung y dược, 2: 52-56) đã báo cáo dựa trên độ kiểm của tro sử quân tử để định lượng tác dụng mạnh yếu trừ giun của sử quân tử, đã đi tới kết luận là dung môi tốt nhất để chiết hoạt chất của sử quân tử là nước, cổn 45n kém hơn, cồn 95° hầu như không chiết được chút nào.
N-CH₂—CH—COOH ọ^co
l
oc NH
Axit qưisqualic
D. Tác dụng dược lý
Sử quân lử đã được nhiều người nghiên cứu. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết.
Tác dụng diệt giun: Nãm 1935, Perrier thí nghiệm nuớc sắc sử quân tử ở Việt Nam trên giun đất nặng 20centigam nhận thấy so với dối chóng, giun bị tác dụng của nước sắc sử quân tử , dẫy dụa, sau tê liệt bộ phận, da bong ra, màu nhợt nhạt, mê rõ rệt.
Năm 1947 Chu Đình Xung và Trương Xuơng Thiêu (Khoa học 20, I: 143, Trung văn) đă thí nghiệm so sánh dung dịch của nước sử quân tử 10% và dung dịch 0,5% kalicloraa trên giun đất đểu thấy tác dụng như nhau cho nên các tác giả này đã kết luận hoạt chất của sử quân tử Iằ muối cali chứa trong sử quân tử.
Năm 1948, Ngô Vân Thùy và cộng sự (Trung Hoa y học tạp chí 34: 437-441) báo cáo đã nghiên cứu so sánh tác dụng diệt giun của nhiêu vị thuốc đông y (quán chúng, lôi hoàn, ô dược, xuyên luyện tử, bách bộ(hắc sửu, bạch sửu v.v…) đã kết luân sử quân tử có tác đụng diệt giun mạnh.
Năm 1950, Hồ Mộng Gia (Trung Hùa y học tạp chí 36:619 -622) báo cáo đã dùng cỡn 95°, cồn 50° dể chiết sử quân tử, bã sau khí chiết bằng cồn 90° được chiết bằng nước rổi thí nghiệm tác dụng trên giun đất thấy dịch chiết bằng cồn 95° không có tác dụng, dịch chiết bằng cồn 50° và nước hơi có tác’ dụng; ức chế và gây mê.
Tác giả còn dùng nhiều dung môi khác nhau để chiết, thì thấy hoạt chất tan trong nước, trong cồn mêtylic, nhưng không tan trong ête dầu hỏa, cloroĩoc,. cồn 95". Sau khi cho lên men để loại bỏ phần đường .trong sủ quân tử vẫn thây còn công hiệu.
Năm 1958, căn cứ vào kinh nghiệm nhân dân nói sử quân tử cẳt bỏ đầu và cắt hết màng vỏ lụa đi thì không gây nấc, chúng tôi và một sô’ anh em trong bộ môn dược liệu Trường đại học y dược khoa Hà Nội đã tiến hành cắt bỏ đầu và bóc màng đi rồi cho ăn sống hoặc sác uống, đểu vẫn thấy có trường hợp gây nấc, khi mới uống không thấy nấc. Thường sau khi àn cơm (nếu không uống vào sáng, đến trưa sau khi ăn cơm) thì thấy bắt đầu nấc; uống quá nhiều thì thấy mệt, ngoài ra không thấy hiện tuợng nguy hiểm nào khác.
Năm 1960, chúng tôi đã dùng cả lá, hoa, vỏ quả, nhân quà giun sắc với nước rổí thí nghiệm trên giun đất đều thấy có tác dụng Làm cho giun tê liệt. Trên cữ sở thí nghiệm này, chúng tôi đã dùng nước sắc toàn quả giun không bóc vỏ đc chữa giun vẫn có kết quả. Giảm được động tác bóc vỏ là một công việc phức tạp, tuy nhiên vẫn có trường hợp bị nấc (Đỗ Tất Lợi).
Theo Trung Hoa y học tạp chí 1952 thì hoạt chất trong sử quân tử là axit quisqualic; muối kali của axit quísqualic trên lâm sàng có tác dụng tương tự santonin.
Độc tính: Năm 1924, một nhà nghiên cứu Nhật Bản tTrường kỳ y học hội tạp chí, 2: 471- 485) đã dùng dung địch nước sắc sử quân tử tiêm dưới da chuột bạch; sau vài phút xuất hiện hiện tượng mỏi mệt, hô hấp chậm lại, không đều, sau 1,2 giờ, toàn thân co quắp, hô hấp đình lại mà chết, tuy nhiên tim còn hơi co bóp. Liều tối thiểu gây chết là 0,02g/kg thể trọng.
Tiêm mạch máu, huyết áp hạ xuống.
Ưống vào nhiêu, dạ dày và ruột sẽ sưng, đi tả và nấc.
Nãm 1926, K. M. Wu (Chemical anaỉysỉs and animal experimentation of Quisqualis indica Mat. Med J. China 12 (2): 161-170) đã báo cáo
độc tính của sử quân tử không cao. Với liều 26,6g/kg cho chó uống thì ngoài hiện tượng nôn và nấc không thấy triệu chứng ngộ độc nào khác. Và sau 10 giờ, trạng thái hoàn toàn trở lại bình thường. Cho chó uống dầu sử quân tử với liều
0, 75g/kg thì không thấy nôn mửa, nấc và hơi có tác dụng tẩy.
Nàm 1956, Ngô Vân Thùy (Luận văn trích yếu của Hội khoa học sinh lý Trung Quốc: 27- 28) báo cáo cho chuột nhắt và thỏ uống với liều 50-]00mg/10g đều thấy chịu thuốc, không thấy hiện tượng ngộ độc.
Thi nghiệm trên lảm sàng năm 1955, Vương Vĩnh Tường và Trương Lập (Trung Hoa y học tạp chí 5: 456-459) đã báo cáo dùng sử quân tử để chữa bộnh cho 116 học sinh và giáo viên kết quả đạt 68,9%. Các tác giả dùng liều lũg đối với trẻ em dưới 12 tuổi, 20g đối với trẻ em trên 13 tuổi, uống một lần vào buổi sáng. Sau khi uống sử quân tử 3 giờ, uống một liều thuốc tẩy (sunfat natrì hay sunfat magiê 15g). Một sô’ thấy hiện tượng nấc, buồn nôn, nhức đầu, táo bón. Những hiện tượng này chóng hết.
Năm 1957 Đoạn Ngọc Thanh, Lý Chính Hoa (Dược học học báo 5 (2): 87-91) báo cáo dùng sử quàn tử và muối kali của axit quisqualic điều trị được 240 người: 19 người uống muối kali của axit quisqualic với liều 0,025, 0,075, 0,10 và 0,125g, không uống thuốc tẩy; 69 người uống sử quân tử với liều 10 nhân đối với trẻ trên 13 tuổi, cũng không uống thuốc tẩy. Đã chứng minh muối kali của axit quisqualic với liều
0, 125g có tác dụng ra giun với tỷ lệ cao, đạt 82%. Tuy nhiên vẫn thấy hiện tượng phụ là gây nấc.
E. Công dụng và liều dùng
Sử quân tử là một vị thuốc được dùng từ lâu đời. Sách địa chi (cổ) chép: Quách sứ quân ở Phiên Châu chữa trẻ em phẩn nhiều chỉ dùng một vị này, từ đó về sau các nhà làm thuốc mới gọi là sử quân tử.
Tính chất của nó theo các sách cổ như sau: Vị ngọt, tính ôn, không có độc vào hai kinh tỷ và vị chữa 5 chứng cam của trẻ em tiểu tiện đục, sát trùng và chữa khỏi chứng tả lỵ, còn làm khỏe tỳ vị chữa hết thảy các bệnh lờ, ngứa của trẻ em (Lý Thời Trân -Bán tháo cương mục).
Trên thực tế, sử quân tử thường được dùng chữa giun đũa với liều 3-5 nhân cho trẻ em, 10 nhân cho người lớn, tối đa 20g. 3 giờ sau khi uống hết, nên uống một liều thuốc tẩy, có thể dùng riêng hay phối hợp với những vị thuốc giun khác như binh lang (hạt cau) và thuốc tẩy (đại hoàng).
Còn dùng được dưới dạng thuổc sắc ngậm chữa đau nhức rảng, ngày ngậm nhiều lần không kể liều lượng.
Đơn thuốc có sử quán tử
Thuốc cam giun giúp sự tiêu hóa (Kinh nghiệm Đỗ Tất Lợi): Nhân sử quân tử sao cho vàng thơm và giòn, tán nhỏ 2 phđn, thóc ngâm cho nảy mám sao vàng nửa phần. Tất cả tún nhò, trộn đều. Sấy khô. Có thể thêm đường vào đóng thành bánh. Dùng cho trẻ em bị giun, gầy còm, kém ăn, ăn không tiêu, da vàng, miệng hay chảy nước giãi. Ngày uống 1 đến 2 thìa cà phê bột này, hòa vào nưóc cháo hay mật ong. Trẻ em thích ăn bột này vì thơm ngon. Ăn nhiéu quá mới có hiện tượng nấc, nhưng chóng hết.
Chữa đau nhức răng (Kinh nghiệm cổ, Đỗ Tất Lợi đã xác minh lại): Sử quân tử (cả quả) đập nát 10 quả, thêm nước vào (I bát) đun sôi và giữ sôi 15 phút. Ngậm trong ngày. Sau khi ngậm có thể nuốt nước này. Nhiều khi vừa khỏi đau răng, vừa ra giun.
Chữa trẻ em hư thũng, mặt chân sưng phù (Giản tiện phương-tài liệu cổ): Sử quân tử 40g đập bỏ vỏ quả,lấy nhận tẩm với mật nướng hay sao cho khô, tán bột mỗi ngày uống 4g hòa với nước cơm hay nước cháo.
Thuốc cam Thác nghè: Sử quân tử 3 phần, bạch chỉ 5 phần, hoàng cấm 2 phần, sử quân tử sao vàng, bạch chì và hoàng cẩm không sao. Tất cả tán nhỏ. Ngày uống 1-5 thìa cà phê chia 3 lần uống (Thanh Hóa).
.Ta dùng hạt keo còn gọi là hạt muồng, hạt quả bồ kết đại, hạt quả táo nhân - Semen Leucaenae Glaucae.
A. Mô tả cây
Cây keo hay bồ kết dại là một cây nhỡ không có gai, cao độ 2-4 m, hoặc hơn, lá 2 lần kép lông chim, có cuống chung dài 12-20cm, ở phía dưới phình lên và có một hạch ờ dưới đuôi cuổng phụ đầu tiên. Trên cuống có lông ngắn nằm rạp xuống. Lá chét từ 11-18 đôi, gần như không cuống, hình liềm, nhỏ ở đầu, dài 10-15mm, rộng 3-4mm. Hoa trắng nhiều, hợp thành hình cầu có cuống. Quả giáp dài 13-14cm, rộng 15mm, màu nâu, đầu có một mỏ nhọn cứng. Hạt có khoảng 15-20, hạt dẹt chỉ hơi phổng lên thôi, sắp nghiêng trong quả, dài 7mm rộng 4mm phẳng nhẵn, màu nâu nhạt, hình bầu dục, hơi lẹm ở phía dưới (Hình 113, Hm 7,2).
Hình Ỉ13. Cây keo giậu - Leucơena glauca
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây keo dâu mọc hoang và được trổng khắp nơi trong nước ta để làm hàng rào, làm phân xanh bóng mất. Trâu bò rất thích ãn lá cây này. Khi quả chín lấy về đập lấy hạt phơi hay sấy khô. Ngoài công dụng làm thuốc, hạt còn đang được nghiên cứu làm thức ăn cho súc vật.
C. Thành phần hóa học
Được nhiẻu người nghiên cứu, sau đây là một số kết quả chính:
- Hạt không chứa tinh bột. Chứa 12-14% chầt nhầy, chất đường, 4,45% tro, 21% prôtit, 5,5% chất béo và chất leuxenola (còn gọi là leuxenin hay mimosin) một chất đã tổng hợp được, có tính chất amino phenolic (Mascré, 1937 và RogerJohnson J. L., 1949).
Chất leuxenola còn gọi là leuxenin CgH 0O4N2 chứa trong lá và hạt với tỷ lệ 3% (trong lá khô) và 5% (chứa trong cây xấu hổ Mimosa pudica) giống nhau và hai chất như một (Vibau J. p., 1946). Chất leuxenin tan trong nước, trong cồn etylic và metylic, gần như không tan trong các dung môi hữu cơ khác, có tính chất độc.
Leuxenola hydrat có độ chảy 291°, dạng khô kiệt có đô chảy 227-228°.
Cho muối clohydrat với độ chảy 179ữ5, muổi iohydrat có độ chảy 183-183°5.
Năng suất quay cực aD = -21° (H20).
2, Theo Tôminaca (Nhật Bản 1949) trong lá còn chứa một chất glucozit.
O
ÓT
N—CH*–C!H—COOH NH₂
Leuxenin = leuxenola — mimosin
D. Tác dụng sinh lý
Trẻ con thường ăn hạt keo xanh, không kể liểu lượng, thấy có ra giun, không có hiện tượng độc.
-
Thời thuộc Pháp, hạt keo có được thí nghiệm dùng ưị giun đũa ở bệnh viện đồn Thủy (cơ sỏ của bệnh viện 108 hiện nay) kết quả thấy có tác dụng trị giun với liều lượng 50g một ngày.
-
Nãm 1961, bệnh viện Ninh Giang có dùng trị giun cho 98 ca cũng đạt được kết quả tốt, không thấy có triệu chứng ngộ độc nào. Cách và liều dùng như sau:
Rang hạt cho đến khi nở, tán bột.
-
Trẻ em 3-5 tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.
-
Trẻ em 6-10 tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.
-
Trẻ em 11-15 tuổi uống 5g một ngày uống luôn 3 ngày.
Màc dầu thực tế, thấy ăn vào giun ra, nhưng thí nghiệm trên giun đất, nước sắc hạt keo không thấy có tác dụng (Bộ môn dược liệu 1960).
-
Nhiểu nơi người ta dùng hạt keo này rang lên uống thay cà phê.
-
Trong thú ỵ, do tỷ lệ prôtit cao trong hạt keo, cho nên nhiều người thử cho súc vật ăn, nhưng kết luân vể giá trị thức àn đối với súc vât chưa thống nhất:
-
Đối với gà con, tỷ lộ chết của gà con tãng lên, gà thường không thích ăn hạt keo.
-
Đối với thỏ: Độ độc có thể chết (lá và hạt).
-
Đối với lợn có thể gầy mất đẻ một thời gian.
-
Loài ăn cò mà không nhai lại như lừa, ngựa, hay lợn ăn hạt keo sẽ rụng lông, bờm rụng, lông đuôi rụng. Trái lại trâu bò là loài ăn cỏ nhưng nhai lại, ãn hạt keo không thấy hiện tượng đó.
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân thường dùng hạt keo làm thuốc chữa giun với liéu 10-15g cho trẻ con, có thể uống tới 25-50g đối với người lớn. Uống liền 3 sáng vào lúc đói.
Bình luận