Còn gọi là sơn đương tử, hải qua tử, da krapur (Cămpuchia).

Tên khoa học Cerbera odoỉỉam Gaertn, (Cerbera manghas L., Tanghinia odolỉam G. Don).

Thuộc họ Trúc đào Apocynaceae.

A. Mô tả cây

Mướp sát là một cây nhỡ hay to, cao chừng

4- 6m, cành thô, to, vỏ xù xì, dày, có gỗ mềm, toàn thân có nhựa mủ trắng. Lá mọc so le nhưng hay tập trung ở đầu cành, hình thuôn dài, nhọn ở đầu và ở phía cuống, mặt trên bóng, phiến lá dài chừng 10-15cm, rộng 2-4cm. Hoa trắng, rất thơm, mọc thành xim tận cùng với rất nhiều nhánh. Quả hạch, màu đỏ, to bằng quả trứng gà hay hơn. Khi quả còn tươi có thịt dày, xốp, màu xám nhạt, hoặc nâu nhạt hay hơi hồng. Trong hạch có hai hình bán cầu, mặt ngoài khum tròn, mặt trong phẳng và hơi lõm, vỏ hạt cứng, hai lá mẫm không đều, ôm vào nhau. Mùa hoa: Từ tháng 2 đến tháng 10 (Hình 456, Hm 27,1).

B. Phán bố, thu hái và chế biên

Thường mọc hoang tại những vùng ẩm thấp và nhất là tại vùng ven biển miển Trung, miềm Nam và Cămpuchia. ít gặp ở miền Bắc và Lào. Còn mọc ở Trung Quốc (Hải Nam, Đài Loan), Ân Độ, châu Úc. Người ta hái quả chín về, đãi bỏ thịt lấy hạt ép dầu và nhân dùng làm nguyên liệu chế thuốc chữa bệnh tim.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 456. Mướp sát - Cerbera odoỉlam

C. Thành phần hoá học

Toàn thân cây chứa một chất nhựa màu trắng, khi gặp axit sẽ cho màu xanh lục. trong nhựa có 22% cao su kết hợp với nhiểu chất khác nhưng không chứa xecberin (cerberin).

Hạt chứa 53-57% dầu, trong, không khô màu vàng tươi đẹp, đốt cháy sáng và có mùi gần như mùi hạt dẻ: Ngoài ra, trong hạt còn chứa một glucoát có tinh thể không màu gọi là xecberin. Theo E. Perrot, có tác giả đã xác định công thức thô là C^H^Og, nhưng lại là một thứ bột khỏng có tinh

thể, màu vàng, tan trong nước, độ chảy 191-192nC. Tỷ lệ xecberin là 0,08%-0,16%, xecberin đã được Vrij chiết xuất ra lần đẩu tiên và được Zotos và Plugge nghiên cứu. Theo các tác giả này, xecberin không giống tevetin (thevetin) có trong hạt thông thiên (Tkevetia neriiỷoìia). Khi thủy phân bằng axit loãng, ta sẽ được xecberetin (cerberetin), C]1)H2404 màu vàng (theo Hamon và Oudemans).

Ngoài xecberin, Schen và Steldt {1942), còn chiết xuất từ hạt ra một glucozit nữa gọi là xecberozit (ccrberosid).

Theo Preres Jacques (1948, Comp. Rend Acad. Sá., 226: 835-837), khi thủy phàn xecberin sẽ cho xecberigenin giống như tevegenin (thevegenin) và xecberoza (cerberose) giống như tevetoza (thevetose) là những chất do tevetín thủy phân ra. Vậy theo tác giả này thì xecberin với tevetin nhu nhau.

D. Tác dụng dược lý

Nhựa mủ. Có tác giả (Pierre) cho ràng nhựa mủ hơi độc, nhưng Greshoff lại cho là không độc, vì Altheer đã cho chó ãn tới 32g mà không chết. Theo

Dymock, Warden và Hooper thì nhựa mủ có tác dụng tẩy mạnh.

Hạt rất độc do chất glucozit xecberin. Xecberin vói liều vừa có tác dụng bổ tim, líểu quá độc sẽ gây suy tim.

Dầu hạt bản thán không độc, nhưng do những tạp chất kèm theo nên độc.

E/Còng dụng và liều dùng

Cây mướp sát ít được dùng làm thuốc ở Việt Nam. Thường người ta chỉ dùng để đầu độc. Nhưng ở các nước khác, người ta dùng nhiều bộ phận của cây mướp sát.

Tại Philipin và Tân Calêđôni, người ta dùng hạt để duốc cá.

Vò cầy mướp sát dùng làm thuoc tẩy. Có nơi đùng lá. Nhưng nên chú ý vì độc. Không nên dùng bừa bãi.

Theo Cooke, nhân dân Miến Điện dùng dầu mướp sát làm dầu tháp đèn, bôi lên da chữa ngứa hoặc bôi lên tóc trừ chấy.

Cây có chất độc. Cán chú ý cẩn thận.