Cỏn có tên là mắc năm ngoa (Viêntían), con go, mang nam bo (Thổ).

Tên khoa học S/ixis elongaĩa Pierre.

Thuộc họ Màn màn Capparidaceae.

A. Mô tả cây

Trứng cuốc là một loại cây bụi có cành vươn dài, nhẵn. Lá mọc so le, hình mác dài, phía đáy lá tròn, phiến lá dài 10-20cm, rộng 5-8cm, mặt trên nhẫn bóng, cứng dai, cuống to, dài 15-20mm, mặt trên có rãnh rộng. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả hình trứng dài 36mm, đuòng kính 25- 27mm, trên có điểm những chắm trắng gần như trứng con chim cuốc, do đó có tên cây trứng cuốc. Trong quả có một hạt thuôn dài (Hình 400).

B. Phản bố, thu hái và chế biến

Trứng cuốc mọc hoang ở vùng rừng núi tại nhiều tỉnh nước ta. Thường thấy ở những nơi dãi nắng. Còn thấy mọc ở Malaìxia, Miến Điện và Ấn Độ.

Mùa hoa: tháng 3-5, mùa quả: tháng 6-8. Nhân dân thường dùng rễ, thu hái gần như quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa thu, đông. Rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô. Có nơi còn dùng cả lá.

c. Thành phán hoá học

Cnưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

D. Công dụng và liều dùng

Nhân dân một số vùng ỏ tỉnh Hà Giang, Tuyên

TODO: thêm hình ảnh

Hình 400. Trừng quốc - Stixis eìongata

Quang dùng rễ cây trứng cuốc chữa đau nhức gân xương, thấp khớp. Ngày dùng 20 đến 30g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Một số nơi dùng lá uống thay chè.

Chú thích:

Ngoài cây trứng cuốc nói trên, nhiều nơi người ta còn dùng các cây tổn nấm Síixis suaveolens Roxb. và cây Stừis flavescens Pierre thuộc cùng họ, có khi cùng với tên trứng cuốc, với cùng một công dụng. Lá của cây Stỉxis flavescens được dùng nấu nước uống thay chè. Lá cây Stixis suaveolens được dùng chữa bệnh mắt.

Còn gọi là lão quan thảo (Sìn hồ, Lai Châu).

Tên khoa học Gauỉíheria fragrantissima Wall. iGauỉtheria /‘rơgrans Don).

Thuộc họ ĐỖ quyên Ericaceae.

A. Mò tả cãy

Cây nhỏ cao 1,5-3m, mang rất nhìểu cành, cành nhỏ hình ba cạnh hay tròn, nhẩn, khô có màu nâu. Lá hình mác, hoặc thuôn dài, đầu nhọn, phía cuống hình nêm, mép có răng cưa, phiến lá dai, màu nâu nhạt ờ cả hai mặt, mặt trên nhẵn, mặt dưới có những đốm đen rải rác, dài 4-6cm, rộng l-2cm, gán nổi ở mặt dưới, chìm ở mặt trên. Hoa màu hổng hay trắng, mọc thành chùm ở kẽ lá, thường chùm dài hơn lá. Quả nang hình cầu, trên có vòi tồn tại, bao bọc bởi một đài mẫm. Nhiều hạt (Hình 401).

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Cây mọc phổ biến ở những vùng núi cao miền Bắc nước ta, như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Còn thấy mọc ở Ân Độ, Malaixia, miển nam Trung Quốc. Hoa rất thơm, toàn cây tỏa mùi salixylat metyl, vò lá hay vỏ thấy mùi rõ hơn, Để lâu mùi nhẹ mát hơn. Thường hái lá về phơi khô dùng pha nước uống. Có thể dùng lá và vỏ cây cất tinh dầu. Tuy nhiên ở nước ta chưa chú ý sử dụng.

C. Thành phần hoá học

Trong ỉá có tanin, acbutin và gauntherĩn. Acbutin (còn có tên acbutozit) C₁₂H)6070H, có tinh thể hình kim dài không màu, vị đắng, chảy ở l96nC, dễ tan trong nước sôi, trong cồn, ít tan trong ète, khi bị thủy phân bằng men emunsìn hay bằng axit sunfuric sẽ cho glucoza và hydroquinon:

Dung dịch trong nước thêm clorua sắt 3 sẽ cho màu xanh.

Gautherin (gaultherin) là một glucozit do sự

TODO: thêm hình ảnh

Hình 401. Chá ti (hụ - Gaulthería /ragraníissima

kết hợp giữa một phân tử salixylat metyl và một phản tử glucoza, với một phân tử nước bị loại đi. Khi tiếp xúc với men gaultheraza có trong lá, gaultherin sẽ thủy phân và cho salixylat metyl và glucoza, khi cất sẽ cho một tinh dầu gọi là tinh dầu winter-green.

Muốn cất tinh dẩu winter-green, người ta ngâm lá hay vỏ tươi cây châu thụ với nước 30UC, đổ yên một đêm cho men tác dụng, hôm sau cất kéo hơi nước. Tinh dầu nặng hơn nước. Hiệu suất chừng 0,6%. Tinh dẩu có tỷ trọng 1,180-1,187. Độ sỗi 218-221°c, gồm chủ yếu chất salyxylat metyl (99,8%) và rất ít gaultherilen hay tricontan là một cacbua no.

D. Tác dụng dược lý

Tỉnh dầu châu thụ gây co quắp và liệt hô hấp đốì với súc vật Người ta cũng thấy có một số người bị ngộ độc do tinh dầu với hiện tượng nôn mửa, ỉa

lỏng, viêm dạ dày, đi đái luôn, co quắp và chết.

Bôi lên da, tinh dầu thấm rất nhanh và bài tiết qua đường nước tiểu và ruột dưới dạng salixylat metyl, nhung dễ gây kích úng da mạnh. Nếu dùng salixylat metyl thì không thấy hiện tượng này.

E. Cóng dụng và liều dùng

ở nước ta chỉ mới thấy một số ít người dùng lá pha nước uống.

Tại Mỹ và Anh người ta xem lá cây Gaultheria procumbens L. như là một vị thuốc chữa bách bệnh (dùng với tên Winter-green, Thé de New-Jersey, Thé du Canada): Điều kinh, thuốc ra thai, sát trùng, đặc biệt chữa tê thấp, lá dùng dưới dạng thuốc pha lOg trong 1 lít nước.

Tinh dẩu được dùng dưới dạng thuốc mỡ, thuốe xoa bóp và trong công nghiệp nước hoa.

Theo Chopra và Badhwar (1950, Indian J. Agricult. Sci. 10:31) thì cây này Là một chất độc kích thích và đã gây ra một số vụ chết người do dùng với mục đích ra thai.