Còn ẹọi là cà quính, cà quánh, trap khar (Campuchia), Blou xít (Lào).

Tên khoa học Soỉamim procumbens Lour. (iSolanum hainanense Hance)

Thuộc họ Cà Soỉanaceae

A. Mô tả cây

Cà gai leo thuộc loại cây nhỡ leo, thân dài

0, 60-lm hay hơn, rất nhiều gai, cành xòa rộng, trên phủ lông hình sao. Lá hình trứng hay thuôn, phía gốc lá hình rìu hay hơi tròn, mép nguyên hay hơi lưcm và khía thùy, hai mặt, nhất là mạt dưởi phủ lông ưắng nhạt, phiến dài 3-4cm, rộng 12-20mm, £Ó gai, cuống dài 4-5mm. Hoa tím nhạt, nhị vàng, họp thành xim gồm 2-5 hoa. Quả hình cầu, khi chín có màu vàng, bóng, nhẵn, đường kính 5-7mm. Hạt màu vàng, hình thận, có mạng, dài 4mm, rộng 2mm. (Hình 427)

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Cây cà gai leo mọc hoang ở khắp nơi tại các tỉnh miển Bắc, tới Huế. Ở Lào và Cãmpuchia cũng có.

Thường người ta đào rễ quanh năm, rửa sạch thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc. Không phải chế biến gì khác.

C. Thành phần hoá học

Toàn cây và nhiểu nhất ở rễ có ancaloit. Trong

TODO: thêm hình ảnh

Hình 427. Cà gai leo - Solanum procumbens

rẻ còn có tinh bột, saponozit, flavonozit solasodin, solasodinon…

D. Công dụng và liều dùng

Rể cà gai leo được nhân dân dùng làm thuốc chữa phong thấp, đau nhức răng, sâu răng chảy máu chân răng.

Có nơi nhân dân coi nhu có tác dụng chữa say rượu. Người ta cho rằng trong khi uống rượu thỉnh thoảng sát răng bằng rễ cà gai leo thì tránh được say rượu. Nếu bị say uống nước sắc của rể. Ngoài ra còn dùng chữa bệnh lậu. Mỗi ngày uống từ 16-20g rễ khô. dưới dạng sắc.

Có nơi còn dùng chữa rắn cắn: Nhai rễ nuốt nước, bã đắp lên vết bị rắn cắn.