Còn gọi là rau thìa là, phãk si (Lào-Vientian), aneth (Pháp).
Tên khoa học Anethum graveoỉens L. (Peucedanum graveoỉens Benth. et Hook.).
Thuộc họ Hoa tán Apiaceae (Umbelliferae).
Thìa là cho quả dùng làm thuốc.
A. Mô tả cây
Cỏ nhỏ mọc hằng năm, ít phân nhánh, thân nhẵn, cao 0,3-1 m, lá xẻ ba thành những phiến nhỏ hình sợi, vò có mùi thơm dễ chịu, nhung có người cho là khó chịu. Hoa màu vàng nhạt, mọc thành tán to thường gồm 10 gọng không tổng bao và tiểu bao. Quả hình trứng, đài 3mm, rộng 1,5mm, dẹt ở lưng, phân liệt quả tách nhau dễ dàng, có 3 sống dọc nổi (Hình 323).
B. Phàn bố, thu hái và chê biến
Thìa là đuợc trồng khắp nơi ở nước ta nhưng chủ yếu chi để lấy lá ăn, thường nấu vói cá. Làm thuốc chỉ dùng quả. Nhưng thường nước ta không thu hái quả làm thuốc, gần đây đã dùng quả làm hương liệu cho chè uống. Tại các nước Trung Á, sau lan sang châu Âu người ta trồng và lấy quả làm thuốc. Trước đây Pháp mua về dùng và bán sang ta, trong khi cây mọc ở ta nhưng không dừng. Quả hái về phơi khô là được.
c. Thành phán hóa học
Trong quả thìa là có từ 3-4% tinh dầu. Tinh dầu không màu hay hơi vàng nhạt, tỷ trọng 0,900-0,915, quay phải +70“-+80°. Thành phần chù yếu trong tinh dầu là d.limonen, phellandren, 40-60%
d. cacvon, mổt ít paraffm. Trong tinh đầu thì là của Ấn Độ còn chứa dillapiol. Theo Schimmel, tinh dầu
TODO: thêm hình ảnh
Hình 323. Thìa là - Anethum graveolens Ị. Cành và lá 2. Hoa 3. Quà
thìa là của Tây Ban Nha cát từ toàn cây chỉ chứa có 20% cacvon, không có limonen, chỉ có phelandren.
D. Công dụng và liều dùng
Quả thìa là (nhân dân vẫn gọi nhầm là hạt thìa là) được đùng làm thuốc kích thích trung tiện, lợi sữa. Còn dùng chữa đau bụng của trè em.
Dùng duói hình thức nước cất quả thìa là: Mỗi ngày uống 50-100g để giúp sự tiêu hóa. Hoặc duới dạng thuốc pha: 4-8g trong 1 lít nước. Nếu dùng tinh dầu thì mỗi ngày 250mg đến lg, nhỏ vào đưòng hay nước đường mà uống.
Trong công nghiệp hương liệu, quả thìa là được dùng phối hợp với một số quả khác như mùi, để làm thơm chè.
Tên khoa học Cỉeistocaỉyx opercuỉatus (Roxb). Merr et Perry (Eugenia operculơta Roxb., Syiygium nervosum DC.).
Thuộc họ Sim Myrtaceae.
A. Mô tả cây
Cầy nhỡ cao 5-6m, có khi hơn, cành non tròn hay hơi hình 4 cạnh, nhẩn. Lá có cuống dài, dai, cúng, hình trứng rộng, dài 8-20cm, rộng 5-10cm hai mặt có những đốm nâu, cuống 1-1,5cm. Hoa gần như không cuống, nhỏ, mầu lục trắng nhạt, hợp thành cụm hoa hình tháp tỏa ra ở kẽ những lá đă rụng. Quả hình cầu, hay hơi hình trứng, đường kính 7-12mm, xù xì. Tòan lá, cành non vã nụ vò có mùi thơm dễ chịu đặc biệt của vối (Hình 324).
B. Phàn bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang và được trồng tại hầu khắp các tỉnh ở nước ta chủ yếu để lấy lá ủ nấu nước uống. Còn thấy ờ các nước nhiệt đới châu Á, Trung Quốc.
Hái lá tươi phơi khô, nhưng có người ủ rồi mới phơi như sau: Thái nhỏ, rửa sạch nhựa, cho vào thùng hay thúng ủ cho đến khi đen đều thì Lấy ra rửa sạch phơi khô. Lá vối ủ uống tham ngon hơn. Để làm thuốc nèn dùng lá tươi phơi khô là được. Nụ cũng được hái phơi khô để dùng pha nước và làm thuốc.
C. Thành phần hóa học
Trong lá vối có rất ít tanin, vết ancaloìt và 4% tinh dầu mùi thơm dễ chịu. Hoạt chất khác chưa rõ.
D. Tác dụng duợc lý
Năm 1968, Nguyễn Đức Minh, Phòng đông y thục nghiệm Viện nghiên cứu đông y, đã tiến hành nghiên cứu thăm dò tính chất kháng sinh của lá và nụ cây VỐI đối với một số vi trùng Gram+ và Gram- đã đi tới kết luân là ở tất cà các giai đoạn phát triển, lá và nụ cây đều có tác dụng kháng sinh, vào mùa
TODO: thêm hình ảnh
Hình 324. Cây vóí - Cleistocalyx opercuiatus
đông kháng sinh tâp trung nhiều nhát ờ lá.
Hoạt chât kháng sinh tan trong nước, các dung môi hữu cơ, vững bền với nhiệt độ và ờ các môi trường có pH từ 2 đến 9, mạnh nhất đối với Strep- tococcus (hemoỉytic và stamarì) sau đến vi trùng bạch hầu và Staphylococcus và Pneumcoccus.
Hoàn toàn không có độc đối với cơ thể.
E. Công dụng và liều dùng
Lá và nụ vối từ lâu đã được nhân dân ta nấu với nước để uống vừa thơm vừa tiêu cơm. Lá vối tươi hay khô sắc đặc đuọc xem có tính chất sát trùng để rửa nhũng mụn nhọt, lở loét, ghẻ.
Trên cơ sờ nghiên cứu mói đây, Viộn đông y đang thử áp dụng vối chữa một số bệnh đường ruột, viêm họng, bệnh ngoài da. Có thể dùng duới dạng thuốc sắc, thuốc cao hay thuốc viên, hoặc chế dưới dạng muôi natri.
Bình luận