Còn gọi là cây mối tròn, cây mối nám.
Tên khoa học Cissampelos pareira L. (Cissampelos convoìvuiacea Willd.).
Thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.
A. Mô tả cây
Tiết dê là một loại dây leo, thân và cành đều mang ít nhiều lông mịn. Lá hình tim, có khi mép hơi khía tai bèo, thường mềm; dài 2-5cm, rông 3-6cm, có 5 gân chính, hai mặt đều có lông mịn. Cụm hoa đực mọc thành ngù lưỡng phán, có cuông, mọc đơn độc hay từng đôi ở kẽ các lá bắc hình lá. Cụm hoa cái mọc thành xim lưỡng phân, gần như không cuống ở kẽ các lá bác hình thận hay hình tròn, nhò, mọc mau. Quả hạch hình cầu, dẹt, đường kính 5mm và có sẹo của vòi ở gốc, màu đỏ có lông. Hạch hình móng ngựa, giữa rỗng, có những mấu sần sùi, nhân có phôi nhũ và phôi cùng dạng (Hình 210).
B. Phãn bố, thu hái và chế biến
Cây tiết dê mọc hoang ò khấp nơi đồng bàng cũng như rừng núi trong toàn nước ta. Còn thấy mọc ở Ấn Độ, đảo Mactinic, phía đông châu Phi.
Nhân dân thường hay dùng lá tươi, hầu như quanh năm, giã nát hay vò nát, lọc lấy nước để đông đăc như thạch, uống cho mát, giải nhiệt.
Một số nơi còn dùng rể hái quanh năm vể phơi khô hay sao vàng sắc uống.
C. Thành phần hóa học
Trong lá tiết dê có một chất nhầy, chưa thấy được nghiên cứu.
Trong rễ, Fluckiger đã chiết được một ancaloit có yị đắng gọi là cisampelin hay pelosin với tỷ lệ
0, 5%. Chất này giống becberin, có công thức C(9H20N2Or Cisampelin tan trong dung dịch no axit clohyđric, bị kết tủa bởi muới amon, kali nitrat, kali iođua.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 210. Cây lá tiết dê - Cỉssampelos pareira
Ngoài ra Huckiger còn lấy ra được một chất nữa, trung tính, kết tinh thành hình phiến nhỏ gọi là deyamitin. Khi trộn tinh thể deyamitin với
axit sunfuric ta sẽ thấy màu xanh thẫm sau chuyển màu xanh lục, cuối cùng sang màu đỏ rồi mất dần.
Năm 1952, Bhattacharịi s., Sharma V. N. và Dhar M. D. ụ. Sci. Induslr. Res. Ịndia) đã báo cáo chiết được từ rễ cây tiết dê một chất ancaloit gọi là hayatín và một ancaloit nữa gọi là hayatinin; ngoài ra còn chiết được quexitol và mội sterol.
Cùng trong nãm 1952, các tác giả Ân Độ khác Rey p. K., Dutta A. T., Ray G. K. và Makerji (ỉndian J. Med.Res) đã nghiên cứu tác dụng dược ’lý của toàn bộ những ancaloit chiết được từ rễ cây tiết đê đối với chuột nhỏ thì thấy các ancaloit đó độc với liểu 50mg trên lkg thể trọng. Nó gây dãn các cơ trơn và kích thích các trung tâm của tủy sống.
Cưổi cùng các tác giả Pradhan s. N., Roy c. và Varadan K. s. (ỉnd. Curr. Sci. 21 (6): 172) đã nghiên cứu tính chất curarơ của muối clohydrat, muối methoclorua và muối methoiođua của hayatin.
D. Công dụng và liều dùng
Ở nước ta, lá tiết dê là một vị thuốc kinh nghiệm nhân dân rất phổ biến để chữa những trường hợp đi tiểu tiện khó khăn, sốt, lỵ. Nói chung người ta cho rằng lá tiết dê là một vị thuốc “mát” có tác dụng chữa những trường hợp “nóng” như sốt, nóng, táo bón, tiểu tiện khó khăn đau buốt, ra máu. Hiện nay tại Ân Độ người ta dùng chữa những trường hợp sỏi thận và sỏi bọng đái, viêm bọng đái cấp tính và trường diển, viêm thận.
Tại Ấn Độ rễ cầy tiết dê được coi Là một vị thuốc có tác dụng giúp sự tiêu hóa, thuôc bổ đắng, thông tiểu tiện, chữa sỏi mật.
Rễ hay lá còn được dùng giã nát đắp lên các vết loét.
Ngày dùng: Rễ 5-10g dưới dạng thuốc sắc.
Lá: Thường dùng tươi giã nát vắt lấy nước để đông lại mà uống, Ngày 40-1 OOg lá tươi.
Tại đông châu Phi người ta dùng rễ làm thuốc kích thích tình dục, chữa tê thấp, đau bụng (theo Bally p. R. o .-Native medicinal and poisonous Kew Bulỉ. 1967: 11). Tại đảo Mactinic, lá và quả dùng duốc cá.
Đơú thuốc có lá và rể tiết dê
Chữa tiểu tiện khó khăn, sốt, lỵ: Lá tiết dê
tươi 50g, vò nát hay giã nhỏ, thêm ít nưóc chín nguội, vát lấy nước, để một chốc cho đông lại,
có thể thêm đường cho dẻ uống.
Chữa chậm tiêu, đau bụng: Rễ tiết dê 4 phẩn, hạt tiêu 5 phẫn, gừng 6 phần. Tất cả trộn đều, thêm mật vào nhào thành bột nhão, viên thành viên. Ngày uống 0,20-0,30g thuốc này.
Bình luận