Còn gọi là vỏ dãn, vỏ doãn.

Tẻn khoa học Strychnos waỉỉichiana Steud, ex DC., Sỉrychnos gauthierana Pierre (Strych- nos malơcensis Clarke).

Thuộc họ Mă tiền Loganiaceae.

Hoàng nàn (Cortex Strychnii gauthieranae) là vỏ thần phơi hay sấy khô của cây hoàng nàn.

A. Mô tả cây

Hoàng nàn là một loại cây mọc leo, cành gầy, nhẵn, có những móc mọc đối ở đầu những cành non, thân có vỏ xám với những đám màu vàng đỏ. Lá mọc đối, nhẵn, đai, hơi bẫu dục, phía cuống nhọn hay hơi tròn, đầu tù hay nhọn, dài 6-12cm, rộng 3-6cm, cuống ngắn. Hoa không cuống, mọc thành chùy ngù tận cùng, phủ lông màu hung nâu. Quả hình cẩu, đường kính 4- 5cm, vỏ ngoài cứng, dày 4mm, trong chứa nhiều hạt hình khuy áo, đường kính 22mm hay hơn, dày 18mm giống như hạt mã tiền, cho nên có

TODO: thêm hình ảnh

Hình 405. Hoảng nàn - Strychnos wallichiana

người cho hoàng nàn là vỏ cày mã tiền. Thu hái hạt thì gọi là mã tiền, thu hái vỏ thì gọi là hoàng nàn (Hình 405, Hm 42,1).

B. Phân bố, thu hái và chê biến

Theo các tác giả nghiên cứu trước, hoàng nàn chỉ thấy mọc ở một số nơi của miền Bắc Việt Nam: Hà Tây (Ba Vì), Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Tại Lào cũng khu trú trên cùng một vĩ tuyến. Nhưng như trên đã nói, có thể ở những vùng này chỉ khai thác vò cho nên cho đó là hoàng nàn, còn những vùng khác chỉ khai thác hạt cho nên cho đó là cây mã tìển. Vấn đề còn đang nghiên cứu xác minh thêm.

Thường người ta chặt cả cành, cắt thành từng khúc rồi mang về bóc vỏ. vỏ dài 4-5cm, cuốn vòng, đường kính l-3cm, dày 1,5-2mm, mặt ngoài có những nốt sần xám đen hay đỏ nâu, có nốt sần to, mặt trong xám nâu nhạt, có vết kẻ đọc, vết bẻ nhẵn, trông rõ hai lớp. Khi thêm một giọt axit nitric vào mặt trong thấy có màu đỏ máu, mặt ngoài có màu lục đen. VỊ rất đắng.

Trước đây vỏ hoàng nàn được bán tự đo khắp nơi, những hàng tạp hoá đều có bán để nhân dân mua về làm thuốc chữa hủi và những bệnh ngoài da khó chữa, chó dại cắn. Hiện nay việc bán phải theo chế độ của thuốc độc.

Khi đùng, thường người ta phải cạo hết lớp vỏ vàng bên ngoài cho đến lần vỏ đen bên trong. Muốn cho dễ cạo, hoặc ngâm vỏ với nước vo gạo đặc một ngày, một đêm hoặc ngâm nưóe thuờng hay đồ lên cho mểm. Sau lại ngâm nước vo gạo trong ba ngày đêm, rổi vớt ra phơi hay sấy khở, tán thành bột dùng dần. Có người trước khi tán bột lại tẩm dầu vừng sao qua rồi mới tán. vỏ vàng cạo ra cũng như nước ngâm hoàng nàn cần phải đổ bỏ đi cẩn thận tránh gây ngộ độc.

C. Thành phần hoá học

Trong hoàng nàn có strycnin, bruxin. Hàm lượng ancaloit toàn phần lên tới 5,23% trong đó strycnin chiếm 2,37-2,43% và bruxin chiếm 2,81%. Tuy nhiên việc chiết xuất những ancaloit bằng phương pháp thông thường gập trở ngại do chất nhựa kèm theo.

D. Công dụng và liều dùng

,Hoàng nàn là một vị thuốc rất độc. Tuy nhiên nhân dân nhiều tỉnh nước ta dùng hoàng nàn chữa chó dại cắn, chữa hủi, ghẻ và một số bênh ngoài da khó chữa. Chúng tỏi còn thu thập được một đơn thuốc dùng hoàng nàn chữa thấp khớp.

Để chữa ghẻ, hoàng nàn thường được dùng phối hợp với lá trầu khồng, thủy ngân. Hoàng nàn trước khi dùng phải chế biến như phẩn thu hái chế biến đã nói trên.

Một vài vùng miền Trung nước ta lại dùng hoàng nàn để làm thuốc cường dương, kích thích dục tính của phụ nữ.

Thuốc có độc, không có kinh nghiệm không đuợc dùng.

Đơn thuốc có hoàng nàn dùng trong nhân dãn

Đơn thuốc chữa tê thấp (theo kinh nghiệm của ông Phác, nguyên trưởng ty y tế Hoà Bình-ĐỖ Tất Lợi ghi lại)

Hoàng nàn chế sao vàng 600g, hương phụ tứ chế 160g, thảo quả không sao, bỏ vỏ lấy hạt 20g, đại hồi bỏ hạt, lấy vỏ 20g. Bổn vị tán nhỏ. Sau bữa ãn nửa giờ, uống 2~3g thuốc này, chiêu bằng nước hoặc bằng rượu. Uống xong đi nằm. Chữa nhức xương, sưng đầu gối, tê thấp, Một số người uống thuốc này vào thấy đau hơn, nhưng sau thì đỡ.

Chưa có dịp kiểm tra. Sơ bộ tính thấy liểu dùng quá cao. Mỗi lẩn uống lOOmg

HỔI

Còn gọi ìà đại hổi, bát giác hồi hương, đại hồi hương .

Tên khoa học ỉlỉicìum verum Hook.í.

Thuộc họ Hổi ỉlliciaceae.

Đại hồi hay bát giác hổi hương (Fructus Anisi Stellati hoạc Anisum stellatum hay Illicium) là quả chín phơi khô của cây hổi.

Hồi là về, hương là thơm, thịt thiu hay tương thối cho ít đại hổi vào nấu thì mùi thơm lại trở về do đó có tên.

A. Mô tả cây

Hồi là một cây nhỡ cao 2-6m, hình dáng toàn cày thon hình quả trám, xanh tốt quanh năm, thân mọc thẳng, cành dễ gẫy. Lá mọc gần thành chùm 3-4 lá ở đẩu cành, có cuống, phiến lá nguyên, dài 8-12cm, rộng 3-4cm, dòn, vò nát có mui thơm. Hoa khá to, mọc đơn độc ở kẽ tá, cánh hoa màu trắng ở phía ngoài, hổng thắm ở mật trong. Quả hồi (nhân dân vẫn gọi nhầm là hoa hồi) tiếng Thổ là mác hồi hay mác chác gồm 6-8 đại (cánh), có khi tới 12-13 đại xếp thành hình ngôi sao, đường kính trung bình 2,5-3cm, dày 6-10mm. Tươi có màu xanh, khi chín khô cứng thì có màu nâu hồng. Trên mỗi đại sẽ nứt làm hai, để lộ một hạt màu nâu nhạt, nhẵn bóng. Lá, cuống, hoa và quả đểu chứa tinh dầu. (Hình 406, Hm 34,4).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây hồi đặc biệt chi mọc trong một khu vực nhỏ chiếm khoảng 5.000km2 ờ tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, một số ít ở hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) giáp giới Việt Nam. Một số nơi khác cũng có trổng nhưng không đáng kể như Hà Giang, Tuyên Quang, Bấc Cạn, Thái Nguyên. Trước đây người ta thường lãn nó với cây hồi Nhật Bản lỉlicium anisatum Lour, có chất độc, hoặc cày hồi núi ỉlìicium griffìthii (xem cây này) cũng có chất độc.

Hồi hái vào hai vụ tháng 7-8 (hồi mùa) và 11- 12 (hồi chiêm). Ngoài hai vụ chính, còn một vụ

quả lép rụng sớm ‘vào tháng 3. Hồi hái về phơi nắng chõ khô hẳn. Dùng cất tinh dấu hay tiêu thụ nguyên quả làm thuổc.

Mỗi cây, hàng năm cho từ 80-100kg quả tươi và như vậy luôn trong 40-50 nãm. Thường một năm được mùa, một nãm kém. Trên thị trường người ta chia hồi thành ba loại.

Loại 1: có 8 cánh to đều nhau, màu nâu đỏ (hồi đại hồng).

Loại 2: có 1 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.

Loại 3: có 3 cánh trở lên bị lép, màu nâu đen.

Loại hồi xô gồm lẫn lộn cả 3 loại trên.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 406. Hồi - lllicium verum 1. Cành 2. Hoa 3. Quà

C. Thành phần hoá học

Trong quả hồi ngoài các chất như chất nhầy, đường, chủ yếu chứa tinh dầu từ 3-3,5% (tươi) hoặc 9-10% hay hơn (khô). Tinh dầu hồi !à một chất lỏng không màu, hay vàng nhạt, tỷ trọng ở + 15“C từ 0,980 đến 0,990, độ đông đặc từ 14- 18°c. Trong tinh dầu có 80-90% anethol, còn lại là tecpen, pinen, dipenten, limonen, estragola, safrola, tecpineola v.v…

Lá hồi cũng chứa tinh dầu với thành phần gần tương tự. Độ đông đặc hơi thấp hơn (13- 14°C), nhưng nếu trộn cả tinh dầu lá và tinh dầu quả thì ta được một tinh dầu có độ đông vào khoảng 10UC.

D. Cóng dụng và liều dùng

Hồi là một vị thuốc được dùng trong cà đông y và tây y.

Tây y dùng hồi làm thuốc trung tiộn {carminatìí), giúp tiêu hoá, lợi sữa. Tác dụng trên hệ thống thần kinh và cơ (dịu đau, dịu co bóp) được dùng trong đau dạ dày, đau ruột và trong những trường hợp dạ dày và ruột co bóp quá mạnh. Ngoài ra còn được dùng làm rượu khai vị, làm thơm thuổc đánh rãng. Tuy nhiên nếu dùng nhiều và với liều cao quá sẽ gây ngộ độc, với hiện tượng say, run chân tay, sung huyết não và phổi, trạng thái ngây có khi tới co giật nhu động kinh.

Theo tài liệu cổ đại hồi có vị cay, tính ôn, vào 4 kinh can, thận, tỳ và vị. Có tác dụng đuổi hàn, kiện tỳ, khai vị, dùng chữa nôn mửa, đau bụng, bụng đầy chướng, giải độc của thịt cá. Những người ám hư, hoả vượng không dùng được.

Thường dùng hiên nay làm thuốc giúp sự tièu hoá, ăn uống không tiêu, nôn mửa, đau nhức tê thấp. Mỗi ngày dùng 4 đến 8g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài ngâm ruợu xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp.

Ngoài ra hồi còn được đùng làm gia vị, chế húng liu nấu thịt bò, các thịt khác.

Những vị thuốc khác mang tên hồi

Ngoài cây đại hồi nói trên, hiên ta đang di thực- thêm cây tiểu hồi hay hồi hươní> có tên khoa học Foenicuỉum vulgare Miller (Foeniculum capillaceum Gilibert) thuộc họ Hoa tán (Umbelliỷerae). Đây là một loại cỏ nhỏ, phiến lá cẳt thành sợi nhỏ, thoáng trông giống lá cầy thìa là (Anethum graveoỉens L. cùng họ). Toàn cây vò có mùi thơm của hồi.

Quả nhỏ như hạt thóc được dùng làm thuốc với tên hồi hương hay tiểu hổi hương hoặc tiểu hồi-Poeniculum-ĩnictus Foeniculi. Trong quả có

3- 12% tinh dầu với thành phần chủ yếu là 50- .70% anethol, ngoài ra còn estragol, metyleugenol, andehyt và axeton anisic, camphen. Cùng một công dụng như đại hồi.

Tại các hiệu “thuốc tây” ở nước ta trước đây, cũng như Duợc điển các nước châu Âu thường đùng quả một cây khác: Dương hồi hương- Pỉmpinella anisum L. cũng thuộc họ Hoa tán (ƯmbeỉỉiỊerae). Quả nhỏ hình trứng, dưới đáy phình ra. Thành phần và công dụng tương tự như đại hồi và tiểu hồi.

KHOAI TÂY fgf£#

Tên khoa học Soỉanum ĩuberosum L.

Thuộc họ Cà Sỡỉanaceae.

Khoai tây chủ yếu là một cây lương thực; ở dày chúng tôi chỉ chú ý tới hiện tượng đau bụng, đi ngoài do ăn khoai tây mọc mẩm và dùng chất gây đau bụng đi ngoài ấy trong chữa bệnh.

A. Mó tả cây

Khoai tây là một cây sống lâu do củ với những chồi của thân ngầm. Thân thảng cao 30~80cm, mang lá kép xẻ lóng chim, với lá chét to nhỏ khác nhau. Hoa mọc thành xim, màu tím hay trắng. Quả mọng hình cầu, xanh nhạt hay tím nhạt, chứa rất nhiểu hạt nhỏ hình thận (Hình 407).

B. Phán bố, thu hái và chế biến

Khoai tây vốn nguồn gốc những vùng núi ở Nam Mỹ, từ lâu đời được trổng ở Chilê và Pêru trước khi người châu Au khám phá ra châu Mỹ. Vào cuối thế kỷ 16, khoai tây được di thực vể châu Âu rồi từ đó phát triển dẫn đi khắp thế giới. Hiện nay ở nước ta phát triển nhiều khoai tây, chủ yếu vụ đông.

C. Thành phần hoá học

Trong củ khoai tay có tới 78% nước, ĩ% muoi vô cơ. Gluxit (15-20%) chủ yếu gồm tinh bột kèm theo một ít đường khử, sacaroza và pectin. Protit thay đổi từ 1-2% (tuỳ theo giống) chủ yếu

gồm các anbumin, pepton axit amin và nucleoproteit. Dựa vào hiện tượng nứt khi nấu người ta phân biệt ra khoai tây tương đối giàu protit khi nấu không bị nứt và khoai tây ít protit khi nấu bị nứt. Trong loại khoai tây này tỷ lệ hợp chất nitơ/tinh bột dưới 0,12. Loại này được dùng để chế tinh bột khoai tây, Trong khoai tây còn chứa rất nhiều men: amylaza, sucraza, oxydaza…, vítamin B(, B2, c (]00g chứa 15mg vitamin c nằm chủ yếu trong lớp vò). Trong khoai tây chín và mới dỡ không có solanin. Nhưng trong CỈL khoai mà vỏ đã xanh (do đề ngoài ánh sáng mặt trời) hay đã nẩy mầm, tỷ lệ solanin có thể tới

0, 02% do đó có thể gây ra những trường hợp ngộ độc. Khi cát củ khoai tây để lâu ngoài trời, vết cắt bị đen nâu lại là do các vết của hợp chất polyphenol bị men polyphenoloxydaza trong cây tác động lên.

Trong toàn cây khoai tây chứa chất “solanin”,

một hỗn hợp glucoancaloit mà phần genin là chất solanidin, chất cc solanin là thành phần chính chiếm tới 95%. Thủy phân sẽ cho solanidin, ramnoza, glucoza và galactoza. Các p và Y solanin cũng như các a, p và Y chaconin đi kèm thường chỉ khác a solanin do số lượng và chất lượng các phân tử oza đính vào phấn genin.

Hàm lượng solanin trong cây tươi có lá rất thấp: 0,01 -0,05%, quả chưa chín chúa nhiều hơn (0,10%). Củ khoai tây chín và mới dỡ chỉ chứa rất ít solanin (chủ yếu tập ưung ở vỏ và mắt củ) nhưng những củ đã mọc mấm có thể chứa tới 0,02%.

Mầm khoai tây tươi chứa 0,04 đến 0,13% solanin. Ta có thể chiết solanin từ mẩm khoai tây bằng axit axetic 2%. Sau khi ly tâm và lọc, người ta kiềm hoá bằng ammoniac, chất glucoancaloit thô xẽ kết tủa. Rửa tủa và sấy khô. Tủa khô thu được dùng ête để loại hết solanin đi sau đó hoà tan trong cồn 80° nóng, khi cổn nguội solanin thô sẽ tủa. Tinh chế solanin thô bằng kết tình nhiều lẩn trong cổn.

D. Công dụng và liều dùng

Khoai tây chủ yếu được dùng làm lượng thực, chế tinh bột dùng ưong lương thực, công nghiệp chế cồn, hổ giấy, hổ vải, cồng nghiệp dược phẩm.

Khi ăn khoai tây mọc mầm hay vỏ củ đã xanh do để ngoài ánh sáng dễ bị ngộ độc thể hiện đau bụng vùng dạ dày và ruột, nôn mửa, đái ra máu, suy giảm hô hấp và thần kinh.

Solanin có thể dùng làm một vị thuốc giảm đau, trong những trường hợp đau bụng, đau vùng gan, đau nhức khórp xương. Dùng với liều 0,05 đến 0,20 g trong một ngày dưới hình thức thuốc viên, thuốc gói hay thuốc tiêm.