Còn gọi là tả hoàng đồ (Lào Cai), Dê sua tùa.
Tên khoa học Elsholtzia blanda Benth., E. penduliflora W. Smith.
Thuộc họ Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).
A. Mô tả cây
Chùa dù (Sìn Hồ, Lai Châu) còn có tên dê sua tùa (xã Huổi Dạng, Mường Lộng, Kỳ Sơn, Nghệ An) hay tả hoàng đồ (Mường Khương, Bắc Hà, Lào Cai) là một cây nhỏ cao 1-3m, mọc hằng năm. Thân vuông nhẵn, rễ cọc cứng, cành mọc từ lá, lá mọc đối chéo chữ thập. Phiến lá hình mác nhọn dài 5-15cm, rộng 1-5cm, cuống lá dài 3-8mm, có lông ngắn, mép lá khía răng cưa không đều, màu hơi tím, mặt trên lục sẫm, mặt dưới nhạt hơn.
Hoa mọc ở đầu cành và nách lá, cụm hoa hình bông dài 10-15cm, các hoa mọc vòng quanh trục của bông, các vòng xít nhau, riêng ở phía đầu cuống có 1-2 vòng cách xa nhau. Toàn bông 10 đến 30 vòng, mỗi vòng 6-30 hoa. Quả hình bầu dục dẹt, dài 0,5 -1mm, và xám đen hơi cứng, có rốn trắng ở gần đầu quả (Hình 584).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại tại những vùng núi cao lạnh như Mường Khương, Bắc Hà, Sapa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Huổi Dạng, Mường Lộng (Kỳ Sơn, Nghệ An). Năm 1974, chúng tôi đã đưa thử một số cây về đồng bằng nóng thấp, thấy cây mọc tốt từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau thì cây chết. Tại những vùng núi cao lạnh cây phát triển vào đầu tháng 3 đến tháng 12 thì cây chết. Mùa thu hái vào các tháng 7-8 cho đến lúc cây tàn lụi (tháng 11-12) nhưng chủ yếu là 7-8.
Hái toàn cây về phơi khô dùng làm thuốc hoặc cất tinh dầu. Không phải chế biến gì đặc biệt.
C. Thanh phần hoá học
Trong chùa dù thành phần chủ yếu hiện nay là tinh dầu (4-6 phần nghìn). Hàm lượng cao nhất vào các tháng 8-9 trong lá, sau đến hoa và cành. Tinh dầu cất ra rất lỏng, màu vàng cam để lâu chuyển vàng đỏ. mùi thơm như tinh dầu khuynh diệp. Cất lại có màu vàng chanh. Tỷ trọng d_(20°) =0,953, n_(D)^(22°)=1,462; α_(D) +2°3. Chỉ số axit 0,27, chỉ số este 3,81, chỉ số xà phòng 0,08, chỉ số axetyl hoá 34,4 , chỉ số xà của phần axetyl hoá 38,77, chỉ số iôt 34,09. Thành phần chủ yếu là xineola chiếm 75-80% (bằng sắc ký khí) hoặc 56-60% (bằng resorxin) (Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Hải Ban và Chu Bá Nam, 1974).
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân, chùa dù được dùng làm thuốc chữa cảm cúm, sốt, ho sốt tiểu tiện ra máu, dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm, cho người và cho ngựa. Ngày dùng 10 đến 16g. Có thế dùng làm nguyên liệu cất tinh dầu dùng uống hay xoa bóp thay tinh dầu khuynh diệp.
CHÓC GAI 刺芋
Còn có tên là ráy gai, sơn thục gai, cây cừa, cây móp (Nam Bộ).
Tên khoa học Lasia spinosa Thwaites.
Thuộc họ Ráỵ Araceae.
A. Mô tả cây
Cây loại nhỏ, thân rễ nằm ngang, có nhiều gai. Lá mọc thẳng từ thân rễ, cuống lá dài, có gai. Lá non hình mũi tên, lá già xe lông chim, mép nguyên. Cụm hoa là một bông mo mang hoa cái ở gốc, hoa đực ở trên. Quả mọng.
Mùa hoa quả: tháng 3-4 (Hình 585).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở khắp nơi ẩm ướt trên có tàn che: Ruộng nước, bờ ao, bãi lầy, ven suối.
Người ta thường dùng thân rễ thu hái vào mùa thu đông. Đào rễ về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô. Có khi người ta ngâm với nước gừng, nước phèn trước khi phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy thân rễ chứa những chất cho những vết tương tự với rất nhiều loại axit amin trên sắc ký lớp móng.
D. Công dụng và liều dùng
Vị thuốc nhân dân dùng chữa ho, đau họng, phù thũng, tê thấp, suy gan, di chứng do sốt rét.
Ngày dùng 4 đến 16g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Dùng riêng hay phối hợp với một số vị thuốc khác như nghệ.
HỔ VĨ 金边虎尾蘭
Còn có tên hổ vĩ mép lá vàng, đuôi hổ.
Tên khoa học Sansevieria trifasciata Prain var. laurentii N. E. Br
Thuộc họ Hành Alliaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, cao 30-50cm, có thân rễ mọc bò ngang. Lá hình lưỡi lê dài 30-50cm, rộng 3-4cm, dày cứng có vằn đen ngang trên mặt lá giống như vằn trên đuôi hổ (do đó có tên), mép lá có viền hai dải màu vàng. Hoa trắng, mọc thành chùm dài ở ngọn. Quả hình cầu, màu vàng da cam. Mùa hoa: tháng 5, mùa quả: tháng 9 (Hình 586).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 586. Hổ vĩ – Sansevieria trifasciata
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây chủ yếu được trồng làm cảnh, vì xanh tốt quanh năm, màu lá xanh, vàng, đen xen kẽ trông rất đẹp. Đến mùa hoa màu trắng điểm thêm vào lại càng tăng thêm vẻ đẹp của cây.
Người ta dùng lá tươi làm thuốc, thu hái quanh năm.
Không có chế biến gì khác.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân dùng lá tươi cây hổ vĩ làm thuốc chữa ho, viêm họng, ho, khản tiếng: Lá hổ vĩ giã nát, thêm vài hạt muối, ngậm trong miệng, nuốt nước dần dần. Ngày dùng 6 đến 12g lá tươi.
Chữa viêm tai chảy mủ: Lá hổ vĩ giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào tai. Ngày nhỏ nhiều lần.
Chú thích:
Ngoài cây hổ vĩ lá có mép vàng nói trên, còn có một cây nữa cũng mang tên hổ vĩ hay đuôi hổ, có tên khoa học Sanseviera guineenses Willd. thuộc cùng họ. Mặt lá có vằn đen ngang trông như đuôi hổ, lá gẫy rơi xuống đất có thể bén rễ và mọc thành cây mới. Cây này không thấy được dùng làm thuốc, chỉ được trồng làm cảnh, có thể là một nguồn cung cấp sợi.
RAU KHÚC 狹葉鼠麴草
Còn gọi là khúc nếp, thử cúc thảo.
Tên khoa học Gnaphalium indicum L.
Thuộc họ Cúc Asteracea (Compositae).
A. Mô tả cây
Cây thảo sống hằng năm, thân mảnh, cao 10- 20cm, có lông trắng mềm. Lá thuôn hình dỉa, có mũi nhọn, có lông mịn, trắng ở hầu khắp mặt dưới. Cụm hoa hình bông hay hình chuỳ mọc ở ngọn. Lá bắc thuôn hình trái xoan, hoa cái và hoa lưỡng tính rất nhiều. Tràng hoa các mảnh có ba răng nhỏ, tràng hoa lưỡng tính phình to từ gốc đến đỉnh, 5 thuỳ. Nhị 5, bao phấn có đinh cụt, tai có râu. Quả bế thuôn dài (Hình 587).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 587. Rau khúc - Gnaphalium indicuni
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở những ruộng khô khắp nước ta, nhiều nhất ở miền Bắc. Còn thấy ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ân Độ và Philipin.
Nhân dân thường hái lá non giã nát trộn và đồ lẫn với gạo nếp và đậu xanh làm thành bánh khúc. Còn dùng lá tươi hay phơi khô để làm thuốc.
C. Thành phần hoá học
Trong lá khúc nếp có ít tinh dầu.
D. Công dụng và liều dùng
Ngoài công dụng làm bánh khúc để ăn, nhân dân còn dùng lá khúc để chữa ho, viêm chi phế quản.
Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm. Có thể thái nhỏ cho vào một ít đường, hấp trên nồi cơm cho uống.
Chú thích:
Ngoài cây khúc nếp người ta còn dùng lẫn một ít lá cây khúc tẻ-Gnaphalium multiceps Wall. (Gnaphalium luteo-alhum L.var. multiceps Hook. cùng họ) cây cao hơn cây khúc nếp, hoa hình đầu màu vàng. Cũng làm thuốc được.
MƯỚP TÂY 草咖啡
Còn gọi là bông vàng, bắp chà, thảo cà phê (T.Q.).
Tên khoa học Hibiscus esculentus L. (Albelmoschus esculentus Wight et Arn.).
Thuộc họ Bông Malvaceae.
A. Mô tả cây
Cây thuộc thảo, sống hằng năm, thân có lông dài và cứng. Lá hình tim, răng cưa to thô nhưng không vượt quá nửa giữa của phiến lá. Lông trên lá dài và nằm rạp, 5 gân chính nổi rõ, cuống lá dài 15-18cm. Hoa màu vàng, ở giữa có màu đỏ tía, mọc ở kẽ lá, cuống hoa to. Tiểu đài 8-10. tràng 5. Nhị nhiều đính nhau thành ống. Quả hình thoi, dài 10cm hay hơn, phía cuống cụt, hình 5 cạnh, với 10 rãnh dọc trên mặt quả. Hạt hình cầu màu xam nhạt, mặt nhẵn (Hình 588).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 588. Mướp tây - Hibiscus esculentus
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Trồng khắp nơi ở Viêt Nam nhưng phổ biến nhất ở miền Nam. Còn thấy ở nhiều nước vùng nhiệt đới.
Người ta dùng quả non hoặc quả già, hạt và rễ tươi hay phơi khô làm thuốc.
C. Thành phần hoá học
Quả non chứa 4 đến 16% chất hyđrat cacbon gồm chủ yếu tinh bột và đường, ngoài ra còn rất nhiều chất nhầy.
Hạt chứa 15 đến 22% chất dầu béo lỏng, màu vàng xanh lục, mùi thơm, thành phần chủ yếu của dầu là panmitin và stearin. Khô dầu rất nhiêu protein dùng làm thức ăn cho gia súc.
Rễ và lá chứa chất nhầy.
D. Công dụng và liều dùng
Quả non dùng nấu ăn, khi nấu thái mỏng, nấu sẽ cho một chắt nhầy và có vị hơi chua ăn mát, thường dùng trong trường hợp viêm đường tiểu tiện, tiểu tiện khó khăn.
Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng. Ngày uống 10-16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Còn dùng súc miệng .
Ngoài công dụng làm thuốc, hạt và rễ còn được dùng làm chất dính trong nghề làm giấy; hạt chín phơi khô rang lên pha uống như cà phê.
CÂY NHÓT 胡頽子
Còn gọi là cây lót, hồ đồi tử (Trung Quốc).
Tên khoa học Elaeagnus latifolia L.
Thuộc họ Nhót Elaeagnaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỡ cành dài mềm có khi có gai. Lá hình bầu dục mọc so le nguyên, mặt trên màu xanh có lấm chấm những lóng nhỏ hình sao trông mắt thường giống như hạt bụi, mặt dưới trắng bạc bóng đầy lông mịn hình sao. Hoa không tràng, chỉ có 4 lá đài, nhị 4. Quả nhót hình bầu dục, khi chín có màu đỏ tươi, trên phủ rất nhiều lông trắng hình sao, vị chua (Hình 589).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 589. Cây nhót – Elaeagnus latifolia
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Nhót thường được nhân dân trồng lấy quả để ăn và nấu canh. Các tỉnh miền Bắc đâu cũng có.
Làm thuốc người ta dùng lá, rễ và quả. Dùng tươi hay phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Trong quả nhót có axit hữu cơ, lá nhót có tanin, saponozit, polyphenol.
Mới đây từ một loại nhót Elaeganus angustifolia, Nikolaeva A. F. đã chiết được hai chất ancaloit một là dihydroharman C₁₂H₁₂N₂ và 2-metyl 1,2,3,4 tetrahydro β cacbolin C₁₂H₁₄N₂, (theo Khimia prirod. soed., 1970, 5: 638).
D. Công dụng và liều dùng
Ngoài công dụng của quả nhót để ăn, người ta dùng các bộ phân khác của cây nhót như sau:
Lá nhót dùng tươi hay phơi khô chữa lỵ, cảm sốt, hen xuyễn, nhiều đờm với liều 6 đến 10g mỗi ngày, dưới dạng bột hay thuốc sắc.
Quá nhót: Chữa lỵ, ỉa chảy, nhân có tác dụng sát trùng, trị giun sán.
Rễ nhót: Nấu nước tắm chữa mụn nhọt, không kể liều lượng.
RUỘT GÀ 假馬齒莧
Còn gọi là rau đắng, rau sam trắng, rau sam đáng, ba kích.
Tên khoa học Bacopa monnieri (L.) Pennell, Herpestis monniera (L.) H. B. K (Gratiola monniera L. , Septas repens Lour., Bramia indica Lamk).
Thuộc họ Hoa mõm chó Scrofulariaceae.
A. Mô tả cây
Ruột gà là một loại cỏ sống dai, thân nhẵn mọc bò, mang rễ, dài 10-40cm, mang những cành mềm mọc đứng. Lá mọc đôi không cuống, thuôn, tù, dài 8-12mm, rộng 3-5mm. Hoa mọc riêng lẻ màu trắng. Quả nang hình trứng, nhẵn, có đài còn lại, hạt nhỏ, có góc cạnh. Mùa hoa tháng 4-6 (Hình 590).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 590. Ruột gà - Bacopa monnieri
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại phổ biến ở nhiều vùng trong nước ta, thường ven bờ ruộng, bãi cỏ hoang hơi ẩm. Còn thấy mọc ở Ân Độ, Trung Quốc.
Qua những tài liệu cũ (A. Petelot- Cây thuốc ở Cămpuchia, Lào, Việt Nam, 1953) thì cây này được khai thác ở những tỉnh Phú Thọ, Hoà Bình, Lào Cai với tên ba kích để xuất sang Trung Quốc. Nhưng qua điều tra của chúng tôi thì cây này không thấy được khai thác lớn, mà chỉ được dùng trong phạm vi địa phương theo kinh nghiệm của một số ít người.
Những người dùng hái toàn cây dùng tươi hay phơi khô. Không thấy chế biến gì đặc biệt.
C. Thành phần hoá học
Từ ruột gà, nảm 1931, Bose chiết được ancaloit dạng tinh thể (brahmin). Nảm 1947, Basu chiết được herpestin.
D. Công dụng và liều dùng
Một số địa phương dùng cây ruột gà làm rau ăn sống hay nấu ăn.
Một số người dùng cây này sắc uống chữa ho, làm thuốc lợi tiểu và bổ thận. Ngày dùng 6 đến 12g cây khô dưới dạng thuốc sắc.
Tại Ấn Độ người ta dùng toàn cây làm thuốc giúp cho ăn ngon và thuốc lợi tiểu. Cây tươi hay khô giã nát trộn với dầu hoả dùng đắp lên những nơi đau nhức do tê thấp.
Đơn thuốc chữa rán cắn có ruột gà: Cây ruột gà 30g, dây mơ lông 30g, lá mướp đáng 30g, đọt cây cậy 20g, rau cần tươi 20g, rau má 20g. Tất cả giã nát vắt lấy nước uống, bã đắp lên nơi rắn cắn (kinh nghiệm nhân dân Minh Hải).
Chú thích:
Tên ruột gà còn dùng để chỉ vị ba kích hay ba kích thiên (xem vị này).
SẤU 人面子
Còn gọi là sấu tráng, sấu tía.
Tên khoa học Dracontomelum duperreanum Pierre.
Thuộc họ Đào lộn hột (Amacardiaceae).
A. Mô tả cây
Cây to có thể cao tới 30m hay hơn nữa. Lá kép lông chim lẻ, mọc cách. Hoa mọc thành xim. Hoa đều, lưỡng tính có 5 lá đài, 5 cánh, 10 nhị, 5 lá noãn làm thành một bầu 5 ô với 5 vòi nhuỵ. Quả hạch, vị chua. Mùa quả: tháng 7-9 (Hình 591).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 591. Sấu – Dracontomelum duperreanum
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang và hay được trồng lấy bóng mát, lấy quả và gỗ.
Quả thu hái vào các tháng 7-9. Để nguyên quả nấu canh hay làm tương sấu, mứt sấu. Sau khi thu hoạch quả về, bóc lấy thịt, bỏ hạt phơi hay sấy khô rồi dùng chế thành tương hay mứt.
C. Thành phần hoá học
Trong quả sấu chín có 86% nước, 1% axit hữu cơ, 1,3% protit, 8,2% gluxit, 2,7% xenluloza, 0, 8% tro, 100mg% canxi, 44mg% P, vết sắt và 3mg% vitamin C.
D. Công dụng và liều dùng
Hoa và quả sấu được dùng làm thuốc chữa ho: Ngậm quả sấu với ít muối, hay sắc quả sấu với nước, thêm đường cho đủ ngọt mà uống.
Ngày uống từ 4 đến 6g phần thịt quả.
Ngoài ra, sấu còn được dùng nấu canh, làm tương, mứt và ô mai sấu (sấu tẩm nước gừng, muối và cam thảo).
CÂY SI 垂榕
Còn gọi là cây xi, chrey pren, chrey krem, andak neak (Cămpuchia), bo nu xe (Phan Rang).
Tên khoa học Ficus benjamina L.
Thuộc họ Dâu tằm Moraceae.
A. Mô tả cây
Si là một cây to cao, có thể đạt tới 30m, nhưng có thể rất nhỏ và thấp tuỳ theo điều kiện trồng và nơi mọc. Ví dụ trong những núi non bộ, cây si rất nhỏ bé. Cành mọc ngay từ gốc với rất nhiều rễ phụ giống như những sợi dây rủ xuống. Toàn thân có nhựa mủ. Lá rất nhẵn ở cả hai mặt, hình bầu dục dài 5-9cm, rộng 3-5,5cm, cuống lá gầy nhẵn, dài 12-20mm, trên có lòng máng. “Quả” mọc trên cành non, không cuống, hình cầu hay hình trứng, đôi khi mọc đối, đường kính 10-12mm, khi chín có màu đỏ máu. Quả thật là một quả bế, gần hình thận, dài 1,5mm (Hình 592).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 592. Cây si - Ficus benjamina
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây si mọc hoang và được trồng tại nhiều nơi khắp nước ta để làm cảnh, bóng mát, hay trồng nhất tại các đình chùa. Thường người ta dùng nhựa và rễ phụ của cây si. Nhựa chích ở toàn thân, thường cho vào rượu mà uống ngay. Rễ phụ cây si hái về rửa sạch, sao cho hơi vàng, thơm sắc uống hay ngâm rượu mà uống hoặc xoa bóp.
C. Thành phần hoá học
Cây si chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Trong nhựa một loài cây si khác (Ficus altissima Blume hay Ficus laccifera Roxb.) còn gọi là cây đa tía hay đa tròn hoặc Chrey bunu (Cămpuchia) người ta phân tích thấy có tới 65% nhựa resin và gần 30% cao su (theo Hooper-Ann. Rep. Inđ. Mus. Industrie Sect, for. 1910-1911). Cây si này lá to và rộng hơn cũng mọc ở nước ta nhưng ít dùng làm thuốc hơn.
D. Công dụng và liều dùng
Nhựa si là một vị thuốc rất phổ biến và rất được tín nhiệm trong nhân dân để chữa những trường hợp ứ huyết do ngã hay bị đánh, bị thương, nhức mỏi chân tay. Còn dùng chữa ho hay cắt cơn hen. Mỗi ngày uống 10-20ml nhựa si hoà vào 10-20ml rượu mà uống. Có thể pha thêm rượu để xoa bóp nơi đau nhức.
Nếu không có nhựa si, có thể lấy rễ phụ cây si, rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, thêm nước vào sắc cho uống hoặc ngâm vào rượu cho uống. Mỗi ngày uống 25-40g rễ si.
Đơn thuốc có nhựa si dùng trong nhân dân
Cắt cơn hen:
Nhựa si 10ml, rượu uống 10ml, khuấy đều uống mỗi ngày.
Chữa đau nhức do ngã, bị thương ứ huyết:
Rễ si 100g, giã nát, thêm ít nước xào cho nóng, đắp lên nơi bị thương, có thể uống nước, bã đắp lên nơi sưng đau.
LƯỜI ƯƠI 大海
Còn gọi là đười ươi, bàng đại hải, đại hải tử, sam rang, sam rang si phlè, som vang, som rong sva (Cămpuchia), crap chi ling leak, mak chong (Pakse-Lào), đại hải, an nam tử, đại đồng quả, đại phát (Trung Quốc), tam bayang, noix de Malva, graine gonflante. (Pháp)
Tên khoa học Sterculia lychnophora Hance.
Thuộc họ Trôm Sterculiaceae.
A. Mô tả cây
Lười ươi là một cây to, cao 30-40m, thân có thể cao 10-20m mà chưa phân nhánh, đường kính thân 0,8-1m. Lá đơn, nguyên hay xẻ thuỳ, mặt trên màu lục, mặt dưới nâu hay ánh bạc, dài 18-45cm, rộng 18-24cm, cuống dài. Hoa nhỏ, không cuống, họp từng 3-5 thành chuỳ ở đầu cành. Mỗi hoa cho 1-2 quả đại, dạng lá, hình trứng hay giống như đèn treo, do đó có tên lychnophora (do chữ lychnus là đèn), dài 12- 16cm, rộng 4-5cm ở phần rộng nhất của phía dưới quả. Màu đỏ hay đỏ nhạt, mặt trong ánh bạc, với 4-5 đường gân nổi rõ. Một hạt dài 2,5cm, rộng 14-16mm, dày 5-7mm. Thịt quả gồm 3 lớp: Lớp ngoài mỏng, lớp giữa dày mẫm, gồm những tế bào họp thành chuỗi chứa chất nhầy, lớp trong nhẵn và màu trắng nhạt. Lá xuất hiện vào tháng 3-4 và rụng vào tháng 1, hoa xuất hiện vào tháng 3-4, trước khi lá phát triển. Quả xuất hiện vào cuối tháng 4 đầu tháng 5 và mở ra trước khi hạt chín. Khi chín quả đại tách ra, hạt còn lại thường nhầm là quả, có hai cánh, thực tế chỉ là hai thuỳ dạng lá của quả đại (Hình 593).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 593. Lười ươi - Sterculia lychnophora
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Lười ươi chỉ mới thấy phân bố và được sử dụng, khai thác ở miền Nam nước ta tại những vùng Biên Hoà, Bà Rịa, Bình Định, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Trị cũng có một ít. Ngoài ra còn thấy ở Cămpuchia (khu vực Kampot, dãy núi Kamchay, Srenhiot), Thái Lan, các đảo thuộc Malaixia.
Vào tháng 4-5, người ta thu hoạch hạt, phơi hay sấy khô: Hạt hình trứng dài 2,5-3,5cm, rộng 1,2-2,5cnn, màu nâu đỏ nhạt, trên mặt nhăn nheo, nổi trên nước, nhưng khi ngâm với nước thì sau một thời gian nở rất to, gấp 8-10 lần thể tích của hạt, thành một chất nhầy màu nâu nhạt, trong, vị hơi chát, mát, do đó châu Âu gọi là “hạt nở” (graine gonflante).
Hạt được khai thác rất nhiều ở miền Nam để dùng tại chỗ và xuất khẩu.
C. Thành phần hoá học
Hạt lười ươi gồm hai phần: Phần nhân chiếm khoảng 35% và phần vỏ chiếm khoảng 65%. Trong nhân có chất béo (2,98%), tinh bột và chất đắng. Trong vỏ có khoảng 1% chất béo, 59% bassorin, chất nhầy và tanin.
Phần đường trong hạt gồm chủ yếu galactoza. pentoza và arabinoza.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ (ghi trong Bản tháo thập di của Triệu Học Mẫn-thế kỷ 18) lười ươi có vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, lợi cổ họng, giải độc, thường dùng chữa ho khan, cổ họng sưng đau, nôn ra máu, chảy máu cam.
Hiện nay công dụng chủ yếu của vị lười ươi là mát và nhuận: Chỉ cần 4-5 hạt vào một lít nước là đủ có một thứ nước sền sệt như thạch, thêm đường vào mà uống trong trường hợp ho khan không đờm, cổ họng sưng đau, viêm đường tiết niệu. Ngày dùng từ 2 đến 5 hạt, cho vào cốc nước nóng, chờ một lúc cho hạt nở ra, thêm đường vào cho đủ ngọt chia nhiều lần uống trong ngày.
Chú thích:
Theo những tài liệu nước ngoài thì lười ươi là hạt cây trái xuồng Sterculia scaphigera Wall. cùng họ. Đây là một cây cao 30-40m. Lá dai, nguyên, không chia thuỳ, dài 6-20cm, rộng 4- 10cm. Hoa mọc thành chuỳ tận cùng ở đầu cành. Quả đại dài 18-24cm, phía dưới rộng 5-6cm, một hạt hình trứng hay hình cầu, dài 18-25mm, rộng 16-22mm. Theo A. Petelot (1952) cây này ít thấy ở miền Nam (chỉ có vài cây ở vườn thú Sài Gòn) mọc ở cao nguyên Atôpơ (Lào), Ấn Độ, Miến Điện. Nhiều tác giả nước ngoài vẫn nhầm cho rằng hạt cây này là hạt lười ươi. Nhưng theo các nhà thực vật đã khảo sát tại các cửa hàng bán hạt lười ươi ở miền Nam nước ta thì chính là hạt của cây lười ươi nói trên. Còn hạt cây trái xuồng thì hầu như không thấy được khai thác và sử dụng ở miền Nam và xuất đi nước ngoài. Mặc dầu vậy, hạt cây trái xuồng ngâm vào nước cũng nở ra và cho chất nhầy như hạt lười ươi. Theo nhiều tác giả khác thì hạt cây này được dung ở Malaixia và Ấn Độ như hạt lười ươi và cùng công dụng.
CÂY BÃ THUỐC 紅麻菠蘿
Còn gọi là sang dinh (Mèo).
Tên khoa học Lobelia pyramidalis Wall.
Thuộc họ Lôbêli Lobeliaceae.
A. Mô tả cây
Cỏ khoẻ, sống dai, cao 1-2m, thân nhẵn, phân nhánh ở ngọn. Lá nhẵn, hình mác, mép có răng cưa nhỏ dài 10-20cm, rộng 1-3cm. Bấm lá có nhựa mủ. Hoa trắng, rất nhẵn và rất nhiều mọc thành chùm ở đầu thân và đầu cành. Quả hình cầu, đường kính 7-10mm. Rất nhiều hạt nhỏ màu vàng nhạt, hình trứng dẹt. Mùa hoa quả: tháng 5-7 (Hình 594).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 594. Cây bã thuốc - Lobelia pyramidalis
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở những vùng cao lạnh miền Bắc nước ta như Sapa, Mù Căng Chải (Lào Cai). Còn thấy mọc ở Trung Quốc, Lào.
Người ta thường dùng mủ tươi của lá hoặc thu hái lá tươi vào mùa hạ hay mùa thu.
C. Thành phần hoá học
Toàn cây và lá chứa lobelin, một ancaloit có công thức C₂₂H₂₇O₂N-cis diphenyl 8,10 lobelionol:
[]
Lobelin
Với liều nhỏ lobelin kích thích hệ thần kinh trung ương và tác động trên hành vào trung tâm hô hấp.
Với liều điều trị, lobelin tăng tần số và biên độ vận động hô hấp. Nó còn có tác dụng tăng huyết áp do giải phóng adrenalin.
D. Công dụng và liều dùng
Cây có chất độc. Dùng phải hết sức cẩn thận.
Trong nhân dân, người ta dùng lá giã nát hay bấm lá tươi lấy nhựa bôi lên những nhọt mủ, nhũng nơi áp xe, sưng tấy. Ngày 2 đến 3 lần.
Có thể dùng làm nguyên liệu chiết lobelin dùng chữa hen và long đờm. Lobelin là một chất được dùng trong cấp cứu đối với những trường hợp khó thở và ngừng thở của trẻ em mới đẻ, giải độc đối với ngộ độc đường hô hấp (nhưng lại phản chỉ định trong trường hợp ngạt thở do ngộ độc clorofoc). Tại nhiều nước người ta dùng thay thế cây lôbêli (Lobelia inflata) làm thuốc chữa hen và long đờm hoặc dùng riêng hoặc phối hợp với cà độc dược và ephedrin. Bột khô với liều 0,05 đến 3g.
CHANH 檸橼
Còn gọi là chứ hở câu (Mèo), má điêu (Thái), mak vo (Lào).
Tên khoa học Citrus limonia Osbeck (Citrus medica L. subsp .limon Lour.)
Thuộc họ Cam Rutaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ nhẵn hay có gai, gai dài 35mm, búp non có màu đỏ. Lá hình trứng hay hình trứng dài, dài 5,5-11cm, rộng 3,5-6cm, mép có răng cưa. Hoa trắng, nhuốm tím nhạt hay đỏ tím, mọc đơn độc hay từng chùm 2-3 hoa. Lá bắc hình mũi mác, nhẵn hay hơi có lông. Quả nhỏ, vỏ mỏng nhắn, chia thành 10-12 múi, mỗi múi chứa 2-3 hạt. Cơm quả rất chua (Hình 595, Hm 33,3).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 595. Chanh - Citrus limonia
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây trồng khắp nơi ở nước ta. Từ 1956, nước ta mới bắt đầu thu mua chanh để xuất khẩu. Chỉ riêng thu mua ở hai tỉnh mà đã được 100-300 tấn/năm. Mỗi tấn chừng 15.000-20.000 quả. Mùa hoa: tháng 3-5, mùa quả: 6-9, nhưng còn một vụ chanh chiêm nữa vào các tháng 1-2.
Nhân dân trồng chanh chủ yếu để lấy quả ăn, lá làm gia vị. Làm thuốc người ta dùng quả, lá và rễ, thu hái gần như quanh năm. Dùng tươi hay khô.
C. Thành phần hoá học
Vỏ quả chanh: Lớp vỏ xanh ngoài chứa tinh dầu, thường 3.000 quả đến 6.000 quả cho 1 lít tinh dầu chanh (theo kiểu vắt tươi) mỗi quả cho khoảng 0,5ml tinh dầu. Vỏ trắng chứa pectin.
Tinh dầu chanh là một chất lỏng màu vàng nhạt, mùi thơm chanh, tỷ trọng ở 15° từ 0,857 đến 0,862. Dưới tác dụng của khí trời và ánh sáng, tinh dầu chanh sẽ để lắng một chất đặc và nhầy, tỷ trọng cũng tăng lên, 90-95% tinh dầu chanh là những hợp chất tecpen trong đó có d. limonen, một ít α pinen, β phelandren, camphen và γ tecpinen.
Mùi thơm của tinh dầu chanh là do các hợp chất oxy và chiếm từ 3-5% gồm xitrala và một ít xitronelala. Ngoài ra người ta còn thấy trong tinh dầu chanh axetat geranyl và axetat linalyla.
Dịch quả chanh: Trung bình 50 quả chanh cho 1 lít dịch quả chanh. Trong dịch quả chanh có 80-82% nước, 5-7% axit xitric, có khi tới 10% (mùa thu tỷ lệ axit cao hơn mùa hạ), chừng 1- 2% xitrat axit canxi và kali, một ít xitrat etyl và chừng 0,4-0,5% axit malic. Ngoài ra còn 0,4-0,75% đường interverti, 0,5% sacaroza, 0,75-1% protit. Độ tro 0,5%, vitamin C 65mg trong 100g dịch tươi, vitamin B₁ và riboflavin.
Lá chanh chứa tinh dầu mùi thơm dễ chịu. Hàm lượng tinh dầu trong lá thay đổi từ 0,33-0,5%. Ngoài ra còn chất stachydrin, một dẫn xuất của prolin.
D. Công dụng và liều dùng
Dịch quả chanh: Là một thứ nước uống mát, thông tiểu tiện, có tác dụng chữa bệnh tê thấp, liều dùng 30-120g một ngày pha thành nước ngọt. Hay dùng chữa bệnh scocbut của trẻ em mới đẻ, ở cả người lớn. Còn làm nguyên liệu chế axit xitric thiên nhiên.
Múi chanh phối hợp với muối ăn dùng ngậm chữa ho viêm họng. Sau khi gội đầu, vắt một ít nước chanh quả lên có tác dụng làm trơn tóc.
Lá và ngọn chanh: Lá thường dùng làm gia vị ăn với thịt gà, với ốc, nấu nước để xông chữa cảm cúm; lá và búp non chanh giã nát đắp lên rốn trẻ em chữa bí đái, đầy chướng bụng.
Rễ chanh: Được dùng chữa ho dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với rễ dâu tằm. Ngày dùng 6-12g.
Tinh dầu chanh và tinh dầu lá chanh: Pha thuốc gội đầu, làm thơm các thuốc phiến, thuốc bột hay thuốc ngậm.
Vỏ thân cây chanh: Được dùng là thuốc bổ đắng giúp sự tiêu hoá. Ngày uống 4-10g dưới dạng thuốc sắc.
Hạt quả chanh: Có người dùng làm thuốc tẩy giun.
DÂU GIA XOAN 木奶樹
Còn gọi là châm châu, dâm bôi, hồng bì dại, mác mật mu (Thổ), tcho kounhia (Lào), sanitrok damrey (Cămpuchia).
Tên khoa học Clausena excavata Burm.
Thuộc họ Cam Rutaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, cành non có lông, khi bẻ cành có mùi hôi khó chịu, Lá kép lông chim lẻ, 15-21 đôi lá chét, so le, vò lá cũng có mùi hôi. Hoa nhỏ màu hồng nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả nhỏ, màu đỏ hình trứng dài có 1-2 ngăn, với 1 hạt (Hình 596).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 596. Dâu gia xoan - Clausena excavata
Mùa hoa quả: tháng 6 đến tháng 8.
B. Phân bố, thu hái và chế biên
Cây mọc hoang ở miền núi, nơi dãi nắng. Còn thấy ở Ấn Độ, Malaixai, Thái Lan, Philipin.
Người ta hái lá, vỏ thân làm thuốc. Có thể thu hái gần như quanh năm. Còn dùng hạt lấy ở những quả chín. Dùng tươi hay khô.
C. Thành phần hoá học
Trong lá thân có tinh dầu. Hoạt chất chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Cây dâu gia xoan được xem như một thứ thuốc bổ đắng và chát dùng trong ăn uống kém tiêu, đau bụng. Còn được dùng chữa ho. Dùng ngoài chữa đau nhức, sưng đầu gối.
Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Đơn thuốc có dâu gia xoan
Chữa ho: vỏ cây 10g, thêm nước vào sắc, chia làm hai ba lần uống trong ngày.
Chữa đau bụng;
Hạt dâu gia xoan 6g, thêm nước vào sắc uống trong ngày.
Đau nhức, sưng đầu gối:
Lá giã nát, trộn dấm hay rượu đắp lên nơi đau.
TRI MẪU 知母
Tên khoa học Anemarrhena aspheloides Bunge.
Thuộc họ Hành Alliaceae.
Tri mẫu (Rhizoma Anemarrhenae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây tri mẫu Anemarrhena aspheloides thuộc họ Hành Alliaceae.
Tri mẫu vốn tên là chi mâu do chi mâu là trứng con kiến, vì lúc mầm cây này mọc lên trông giống trứng con kiến, cho nên gọi tên. Sau đọc chệch thành tri mẫu.
A. Mô tả cây
Tri mẫu là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ chạy ngang. Lá mọc vòng, dài khoảng 20-30cm, hẹp, đầu nhọn, phía dưới ôm vào nhau. Mùa hạ, ra cành mang hoa. Cao chừng 60-90cm. Cụm hoa thành bông hoa nhỏ, màu trắng (Hình 597).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 597. Tri mẫu - Anemarrhena aspheloides
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cho đến nay vị tri mẫu vẫn phải nhập từ Trung Quốc. Chưa thấy trồng ở nước ta. Vào các tháng 3-4, người ta đào lấy thân rễ, rửa sạch phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hoá học
Trong tri mẫu có một chất saponin gọi là asphonin. Ngoài ra còn một chất có tinh thể chưa xác định.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ tri mẫu có vị đắng, tính lạnh, không độc, có tác dụng tu thân, bổ thuỷ, tả hoả, thường được dùng chữa bệnh tiêu khát (đái đường), hạ thuỷ, ích khí.
Hiện nay tri mẫu thường được dùng làm thuốc chữa ho, tiêu đờm, chữa sốt, sốt do viêm phổi.
Ngày dùng 4 đến 10g dưới dạng thuốc sắc.
Một số đơn thuốc kinh nghiệm có tri mẩu
Chữa bụng chướng to, rất cứng rắn, chân tay nhỏ, ăn uống không được:
Uống thuốc gì cũng không khỏi, sau uống bài ngũ linh tán gồm các vị tri mẫu, đan sâm, độc hoạt, hải tảo, quỉ vũ tiến, tần bông (hai vị sau chưa xác định) thì thấy lợi tiểu tiện, ăn uống được bệnh dần dần khỏi (theo sách Thiên Kim ngoại đài).
Chữa viêm phổi:
Tri mẫu 5g, tang bạch bì 10g, mạch môn đông 8g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Dương vật cường luôn:
Tri mẫu, hoàng bá, xa tiền, mộc thông, thiên môn đông, sinh thảo (cam thảo sống) các vị bằng nhau, mỗi vị 4g sắc uống.
Có mang động thai:
Tri mẫu 80g, tán nhỏ, viên với mật bằng hạt ngô, mỗi ngày uống 20 viên, chiêu với nước cháo.
Hắc lào:
Tri mẫu mài với dấm, bôi lên.
MÙ MẮT 山梗荣
Tên khoa học Isotoma longiflora Prest., Lobelia longiflora Willd., Laurentia longiflora (L.) Peterm.
Thuộc họ Lobêli Lobeliaceae.
A. Mô tả cây
Cây thảo, cao độ 0,50m, phân nhiều cành, thân có lông. Toàn cây có nhựa mủ độc, dây vào mắt có thể làm mù mắt, do đó mang tên. Lá hình mác nhọn, mép có răng cưa, hoa mọc ở kẽ lá, lưỡng tính, không đều, 5 lá đài, 5 cánh hoa liền nhau thành một ống dài tới 10cm, màu trắng, 5 nhị dính liền nhau bởi bao phấn thành một ống bao quanh vòi nhuỵ, còn chỉ nhị vẫn rời nhau, 2 lá noãn, bầu hạ. Một vòi dài tận cùng bởi đầu nhuỵ hai thuỳ. Quà nang, hai ô đựng nhiều hạt nhỏ (Hình 598).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 598. Mù mắt - Isotoma longiflora
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây vốn nguồn gốc ở Pêru (Nam Mỹ) nhưng hiện nay mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nước: Malaixia, Ân Độ, tại nhiều vườn và bờ ruộng ở miền Bắc nước ta.
Thường ít được thu hái, do tính chất gây kích ứng của nhựa mù. Muốn dùng cây này, người ta thu hái toàn bộ phận trên mặt đất vào lúc cây kết quả và gần chín. Thu hái về thái nhỏ, phơi hay sấy khô.
Cây có độc, phải đặc biệt chú ý tránh nhầm lẫn.
C. Thành phần hoá học
Toàn cây chứa chất nhựa hắc, độ, nếm vào có cảm giác nóng bỏng, vào mắt gây kích ứng và có thể mù mắt.
Từ cây này người ta có thể chiết được một ancaloit gọi là isotomin có tác dụng gần như chất lobelin.
Chất isotomin tác dụng trên hệ thần kinh và gây tim ngừng đập ở dạng tâm thu.
Năm 1945, Sanchez G. C. đã nghiên cứu tác dụng dược lý của cây này [1945, Parmacologia de la Iswotoma longiflorum, Rev. Med. Experim. (Lima) 4 (4) tr. 284-318]: Tiêm thuốc vào mạch máu làm tăng biên độ và tần số nhịp hô hấp, kèm theo một thời gian ngắn xỉu xuống liền theo một giai đoạn kích thích dài. Tác dụng kích thích hô hấp này kèm theo tăng huyết áp và lá lách bị co bóp. Với liều cao, hiện tượng tăng huyết áp kèm theo một giai đoạn hạ huyết áp. Tóm lại tác dụng của vị thuốc rất giống tác dụng của chất lobelin.
D. Công dụng và liều dùng
Hiện nay cây này rất ít được sử dụng ở nước ta. Nhưng ta có thể nghiên cứu để chiết chất isotomin có tác dụng gần như lobelin, một loại thuốc dùng trong bệnh hen, trong những trường hợp khó thở. Cồn thuốc 1:10 (trong cồn 70°) có thể dùng với liều 1-3g trong 24 giờ. Thuốc mạnh, dùng phải hết sức cẩn thận.
HỒNG XIÊM 人心果
Còn gọi là tầm lức, sacôchê, sabôchê, sapotillier.
Tên khoa học Achras sapota l., Sapota achras Mill.
Thuộc họ Hồng xiêm Sapotaceae.
A. Mô tả cây
Cây to, cao. Cành và lá khi còn non được phủ lông tơ. Lá mọc so le, có cuống dài hình bầu dục, dai và tồn tại. Hoa đơn độc ở kẽ các lá trên, đều, lưỡng tính, thường mẫu 3, có khi mẫu 5. Quả mọng, hình trứng dẹt, màu nâu thẫm và bóng, rốn kéo dài màu nâu nhạt và nháp (Hình 599).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 598. Hồng xiêm - Achras sapota
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây vốn nguồn gốc ở Nam Mỹ, chủ yếu ở Mêhicô. Hiện nay được di thực vào nhiều nước nhiệt đới. Việt Nam chủ yếu được trồng ở miền Nam, nhưng ở miền Bắc cũng có nhiều nơi trồng chủ yếu để lấy quả ăn.
Tại Mêhicô, người ta còn dùng chích từ vỏ cây hoặc quả xanh một chất nhựa gọi là chicle dùng chế kẹo caosu (chewing-gum); Chích trên thân cây thành những hình chữ V (vết chích đừng quá sâu để khỏi tổn thương đến lớp libe) hứng lấy nhựa chảy ra (dùng bình hứng 2 lít rưỡi để ở đầu nhọn chữ V). Đun sôi nhựa và khuấy đều cho bốc bớt hơi nước. Còn đang nóng, nhựa được đổ vào chậu gỗ có bôi xà phòng để cho nhựa không đính chặt vào thành chậu. Khi nguội, dùng tay bôi xà phòng cho khỏi dính, nặn thành bánh 10-12kg. Tuỳ theo nhựa chích từ vỏ cây hay từ quả, người ta gọi tên khác nhau: Nhựa chích từ vỏ cây, được gọi là chicle covent, nhựa chích từ quả xanh gọi là chicle balanco hay chicle vergen. Nhựa này được tiêu thụ rất nhiều ở Mỹ và Canađa.
C. Thành phần hoá học
Quả xanh và vỏ chứa chất gôm nhựa gọi là chicle. Chất gôm nhựa chicle này có 40% nhựa (résine), 1,7% hydrat cacbon, 35% nước và một số chất khác. Nhựa này gần giống chất gutta percha.
Vỏ cây còn non chứa một chất saponin và một ít ancaloit có tinh thể gọi là sapotin. Vỏ cây già chứa tanin.
Quả hồng xiêm chín có 0,4% protit, 9% gluxit, 2,3% xenluloza và 0,5% tro. Trong tro có 46,8% canxi, 21,6% P, ngoài ra hồng xiêm còn 7mg% vitamin C (Theo bảng Thành phần hoá học thức ăn Việt Nam-Nhà xuất bản y học, 1972).
Hạt chứa 23% dầu béo và axit xyanhydric.
D. Công dụng và liều dùng
Hồng xiêm hiện nay chủ yếu mới được trồng để lấy quả ăn. Những công dụng khác hầu như chưa được chú ý đặc biệt, khai thác chất nhựa dùng làm kẹo bạc hà, kẹo hồi có khi được thêm chất pepsin với tên chewing gum, hay pepsingum làm thuốc chữa ho, giúp sự tiêu hoá hoặc làm thơm miệng.
Vỏ thân hồng xiêm được nhân dân Campuchia dùng chữa ỉa chảy (do chất tanin) và sốt dưới dạng thuốc sắc: ngày uống 6 đến 12gam.
THỦY TIÊN 水仙
Còn gọi là hoa thủy tiên.
Tên khoa học Narcissus tazetta L.
Thuộc họ Thủy tiên Amaryllidaceae.
Thủy tiên Narcissus do chữ Hy Lạp narkao là tê cóng, vì chỉ Narcissus thường gồm những cây có hương thơm, gây tình trạng sững sờ, tazetta do tiếng Ý tazza nghĩa là chén nhỏ, nhắc lại hình dáng của tràng hoa thủy tiên giống như cái chén nhỏ.
Huyền thoại còn kể rằng thần Narcises mê say vẻ đẹp của mình quá đáng, luôn mê mải ngắm bóng mình bên dòng nước và biến thành cây hoa thủy tiên.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, có thân rễ to, hình trứng tròn. Lá dẹp, dài 30-45cm chóp không nhọn, hơi có phấn xanh. Hoa xếp 4-8 cái tán ở ngọn một cán hoa trần và bao bọc bởi một mo mỏng trước khi nở. Hoa thơm, đường kính đến 1cm, bao hoa màu trắng, có ống dài khoảng 2cm, mang các thùy hình trứng ngược cong ra bên ngoài. Tràng phụ màu vàng hình chuông. Mùa hoa thường vào mùa rét, trong những ngày tết âm lịch ở miền Bắc nước ta (Hình 600).
[]
B. Phân bố thu hái và chế biến
Cây hoa thủy tiên vốn nguồn gốc nhập từ Nhật Bản và Trung Quốc, thường trồng vào dịp tết làm cảnh vì hoa đẹp và thơm. Còn thấy mọc và trồng ở các nước ven Địa Trung Hải, một số nước châu Phi, châu Á khác. Chủ yếu làm cảnh. Một số ít nơi dùng thân rễ làm thuốc nhưng vị thuốc có độc, dùng phải hết sức cẩn thận. Ở nước ta, những năm gần đây ít người chơi thủy tiên và cũng ít dùng thân rễ và thân thủy tiên làm thuốc.
C. Thành phần hóa học
Trong rễ thủy tiên có chứa khoảng 0,06% narcissin được hai tác giả Nhật Bản Asahina và Sugii chứng minh là cùng một cấu trúc và tinh chất với lycorin (chiết được ở một loài lan thoát bào hay tỏi trời Lycoris radiata Herb., Lycoris aurea Herb. và L. squamigera. Maxim, tỏi trời hoa hồng, tỏi trời hoa vàng và tỏi trời hoa tím).
Narcissin hay lycorin C₁₆H₁₇O₄ là một ancaloit có tinh thể hình lăng trụ, chảy ở 275°C, (α)_(D)^(26°) =129° (cồn), tan trong nước, trong cồn, trong axit axêtic.
Công thức triển khai có thể là:
[]
Narcissin hay lycorin
Ngoài ra còn một ancaloit khác gọi là tezettin C₁₈H₂₁O₅N cũng có tinh thể hình lăng trụ nhỏ, chảy ở 210-211°C, (α)_(D)^(26°) = +150°C (Clorofoc).
D. Tác dụng dược lý
Cho uống hay tiêm dưới da cho chó hay mèo, narcissin với liều nhỏ gây chảy nước bọt, với liều lớn gây nôn mửa ỉa chảy.
Lewin cho rằng tác dụng của narcissin thay đổi tùy theo tuổi của thân rễ: Trước khi cây ra hoa tác dụng giống như atropin (làm giãn động tử, khô nước bọt, tim đập nhanh), sau khi cây ra hoa lại tiết nước bọt, tháo mồ hôi, buồn nôn ỉa chảy.
E. Công dụng và liều dùng
Thân rễ thủy tiên có tác dụng mạnh và độc. Khi dùng phải hết sức thận trọng có thầy thuốc chuyên môn theo dõi. Người ta dùng thân rễ thủy tiên để gây nôn và làm thuốc long đờm. Có khi thân rễ thủy tiên được dùng phối hợp với rễ cây cà độc dược để trị hen suyễn, ho gà.
Trong vi lượng đồng căn người ta dùng cồn thuốc điều chế từ cây thủy tiên đang ra hoa để chữa ỉa chảy, nôn mửa, các bệnh tim và phế quản.
Dùng ngoài để chữa ung thũng: Giã nát thân rễ đắp lên các nơi sưng đau.
Liều dùng hàng ngày: Ngày uống 1-3g thân rễ khô dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm.
SEN CẠN 金莲花
Còn gọi là grande capucine.
Tên khoa học Tropaeolum majus L.
Thuộc họ Sen cạn Tropaeolacae.
A. Mô tả cây
Sen cạn là một loại cây leo, sống hằng năm. Lá không có lá kèm, mọc so le, có cuống dài. Phiến lá tròn, gân lá tỏa tròn. Mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới màu nhạt hơn. Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá, to, lưỡng tính không đều, 5 lá đài màu hơi vàng hình 3 cạnh. Lá dài sau mang một cựa hình trụ nón, cong ở đầu. Các cánh hoa xếp xen kẽ với các lá đài và khác nhau: 3 cái trước dài hơn và hẹp hơn, mang ở ranh giới giữa mỏng và phiến một lưỡi nhỏ rách mọc đứng. Bộ nhị bao giờ cũng giảm còn 8 nhị rời nhau. Bao phần 2 ô mở bằng một kẽ nứt dọc hướng trong. Bộ nhụy cấu tạo bởi 3 lá noãn. Bầu thường, vòi dài hình trụ, chia ở ngọn thành 3 đầu nhụy. Trong mỗi ô có 1 noãn đảo. Quả cấu tạo bởi 3 mảnh vỏ có thành dày xốp, khi chín sẽ tách rời khỏi trục. Hạt không nội nhũ. Mùa hoa: mùa hạ (Hình 601).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 601. Sen cạn - Tropaeolum majus
B. Phân bố thu hái và chế biến
Ở nước ta sen cạn chủ yếu mới thấy trồng làm cảnh. Vốn nguồn gốc ở Nam Mỹ từ Chilê đến Mêhicô. Tại những nước này, sen cạn cung cấp những tràng hoa ăn làm gia vị, củ loài T. tuberosum phơi nắng cho một chất hắc cay được dùng làm thức ăn (Pêru và Bôlivi). Một số nơi dùng hạt làm thuốc. Mùa thu quả chín, phơi khô, đập lấy hạt, phơi khô lần nữa mà dùng.
C. Thành phần hóa học
Toàn cây đều chứa những tế bào có myrosin và môt gtucozit chứa sunfua gọi là glucotropeolozit, đồng đẳng dưới của gluconasturtozit có tính cải soong, khi thủy phân cho tinh dầu izothioxyanat benzyl.
Năm 1956, Danneuberg, H. Stikl và cộng sự đã tìm thấy trong một cây cùng chi chất tromalit có tác dụng với vi khuẩn gram âm và gram dương.
D. Tác dụng dược lý
Năm 1972. Nguyễn Đức Minh và cộng sự (Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam) đã nghiên cứu thấy toàn cây có tác dụng kháng khuẩn, nhưng chất kháng khuẩn tập trung ở hạt, có tác dụng với nhiều vi khuẩn gram âm và gram dương. Chất kháng khuẩn là một loại dầu có mùi thơm đặc biệt màu hơi vàng, đông đặc ở 41°C, tan được trong nhiều dung môi hữu cơ như ête êtylic, cồn etylic, axeton, dầu lạc. Chất chiết bằng ête etylic pha loãng 1/50 cho vòng vô khuẩn lớn nhất (65 mm) đối với Streptococcus haemolyticus, S. uberis, vòng vô khuẩn 60 mm với Bacilus subtilis, 40 mm với Staphyllococcus aureus 209 P, Streptococcus L. X., 35 mm với Diplococcus pneumoniae và 30 mm với Corynebacterium diphteriae mitis, C. diphteriae gravis, Salmonella para typhi, C. Shigella dysenteriae, Streptococcus souche A, Vibrio cholerae Ogawa, nhỏ hơn với một số vi khuẩn khác.
Chất tromalit của Danneuberg có độc tính rất thấp: 76-107 mg/kg thể trọng (tiêm khoang bụng đối với chuột bạch) và 134mg/kg (nếu uống). Cho uống hằng ngày với liều 32 mg/kg liên tục trong 28 ngày không thấy có hiện tượng phụ nào. Tromalit thẩm rất nhanh qua màng ruột, 2-3 giờ sau khi uống tìm thấy tromalit ở dạng hoạt động trong phổi, thận, không bao giờ tiết ra theo đường mật và phân. Một lượng lớn (40%) ở dạng nguyên chất thoát ra theo đường thận.
E. Công dụng và liều dùng
Ở nước ta chưa thấy sử dụng sen cạn làm thuốc nhưng ở Pêru (Nam Mỹ) nhân dân đã dùng hạt sen cạn từ lâu đời chữa viêm bàng quang và viêm phế quản, không thấy gây phản ứng phụ đối với cơ thể cũng như không làm mất thăng bằng hệ vi khuẩn trong ruột.
Hiện được dùng chữa viêm đường tiết niệu và viêm đường hô hấp. Ngày uống 20g. Còn có thể dùng thay thế nhiều chất kháng khuẩn thường dùng đã kém tác dụng do hiện tượng kháng thuốc. Cần chú ý nghiên cứu để sử dụng ở nước ta.
LA HÁN 羅漢果
Tên khoa học Momordica grosvenori Swingle.
Thuộc họ Bí Cucurbitaceae.
A. Mô tả cây
La hán còn có tên Quang quả mộc miết (gấc vỏ nhẵn) là một cây mọc leo, hoa đực mọc thành bông, phiến hoa bao nhỏ. Quả có vỏ cứng nhỏ, đường kính 4-6cm, hình cầu hay hơi trái xoan. Trong cành, lá, hoa và hạt ruột có cơm màu nâu nhạt, mùi thơm đặc trưng (Hình 602,603, Hm 29,3).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 602. Cây la hán - Momordica grosvenori
Cành, lá, hoa và hạt
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 603. Quả la hán
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây la hán cho đến nay vẫn chưa phát hiện ở nước ta, mặc dầu theo tài liệu kèm theo mặt hàng “La hán quả xử tễ” (Thức uống chế từ quả la hán) có giới thiệu đây là một cây đặc sản của vùng Quế Lâm (thuộc tỉnh Quảng Tây), Quảng Đông, Giang Tây là những tỉnh Trung Quốc giáp giới với nước ta. Tài liệu nói về cây này cũng rất hiếm. Chúng ta biết được cây này nhờ mặt hàng “La hán quả xử tễ” dịch sang tiếng Anh là Lo han kou beverage, trong đó Lo han kou là phiên âm tiên la hán quả-tiếng Trung Quốc, kèm theo beverage là thức uống. Mặt hàng này đuợc bán sang ta dưới dạng hộp giấy khổ 9xl7x2cm, trong hộp này có 12 hộp nhỏ khổ 3x4x2cm. Một số rất ít la hán quả được bán sang ta dưới dạng quả khô, nhưng vì cồng kềnh, dễ vỡ, giá đắt nên rất ít.
C. Thành phần hóa học
Mới chỉ biết trong thịt quả có hàm lượng glucoza thiên nhiên rất cao. Hoạt chất khác chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Theo đơn giới thiệu kèm theo mặt hàng nói trên thì la hán quả được dùng theo kinh nghiệm lâu đời của những dân tộc vùng Quế Lâm (Quảng Tây) từ hơn 200 năm, uống vào có tác dụng chữa sốt, dịu cổ họng, long đờm, chữa ho, dùng cho cả nam, lẫn nữ, người già cũng như trẻ, có thể uống quanh năm. Viên la hán quả hình chữ nhật được chế từ dịch chiết la hán quả pha thêm 5% đường mía tốt. Mỗi lần dùng pha một viên này vào 100ml nước, đun sôi. Khuấy tan mà uống. Ngày uống 2 hay 3 viên.
BẠCH QUẢ 白果
Còn gọi là ngân hạnh, áp cước tử, công tôn thụ, Arbre aux quarante écus.
Tên khoa học Ginkgo biloba L.
Thuộc họ Bạch quả Ginkgoaceae.
A. Mô tả cây
Bạch quả là một cây to, cao 20-30m, thân phân thành cành dài, gần như mọc vòng, trên cành có những cành nhánh ngắn, mang lá có cuống. Phiến lá hình quạt, mép lá phía trên tròn, nhẵn, giữa hơi lõm, chia phiến lá thành hai thùy. Gân lá phân nhánh theo hướng rẽ đôi. Quả hạch, kích thước bằng quả mận, thịt màu vàng, có mùi bơ khét rất khó chịu (Hình 604).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 604. Bạch quả - Ginkgo biloba
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Nguồn gốc ở Trung Quốc và chỉ thấy trồng ở Trung Quốc, một ít ở Nhật Bản. Pételot (1954) nói có thấy ở bắc Việt Nam mọc rải rác trong một số vườn hoa và quanh một số ngôi chùa để làm cảnh. Nhưng thực tế qua mấy chục năm chúng tôi không tìm thấy. Hỏi nhiều nhà thực vật danh tiếng cũng đều nói chưa gặp. Tại các hiệu thuốc, bạch quả thuộc loại ít dùng. Thường chỉ dùng quả và nhân. Gần đây y học phương Tây nghiên cứu dùng lá. Những lá bạch quả dùng để nghiên cứu lúc đầu nhập của Nhật Bản và Nam Triều Tiên. Theo tạp chí La presse médicale 1986, 15, 31, lá bạch quả được dùng chế những sản phẩm bạch quả của Pháp được trồng và thu hái ở gần Bordeaux. Sấy khô đóng bao chuyển về nơi chế biến sản phẩm bạch quả.
C. Thành phần hóa học
Nhân bạch quả chứa 5,3% protein, 1,5% chất béo, 68% tinh bột, 1,57% tro, 6% đường.
Vỏ quả chứa ginkgolic axit, bilobol và ginnol.
Lá bạch quả chứa hai loại hoạt chất: Các hợp chất flavonoic và các tecpen.
Các hợp chất flavonoic (ginkgo-flavon glucozit) là những hợp chất trong đó phần aglycon là một flavonol (quercetin, kaempferol, và isorhamnetin), phần đường là glucoza và rhamnose. Ngoài ra còn có một ít proanthocyanidin.
Nhóm các tecpen gồm có ginkgolite (là những ditecpen) và bilobalit (một sesquitecpen) có vị đắng. Ngoài hai loại hoạt chất trên, lá bạch quả còn chứa một số axit hữu cơ như hydroxykinurenic, kinurenic, parahydroxybenzoic, vanillic.
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0792.jpg]
Cấu trúc các aglycon của ginkgo glucozit
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ, bạch quả khí ôn, vị ngọt, hơi đắng. Tính chất thu sáp, bạch quả ăn chín thời ôn mà ích khí, ích phổi, tiêu được đờm, trừ được hen, dẹp được ho khỏi chứng khỏi được chứng hư tiểu tiện, hết được chứng khú hư, bạch đới.
Bạch quả ăn sống giáng (hạ) được đờm, tỉnh được say rượu, tiêu được độc, sát được trùng.
Nhưng không nên ăn nhiều vì tính nó thu liễm quá mạnh, nên hay sinh chứng đầy tức khó chịu.
Nhân bạch quả ngày dùng 10-20g, bóc bỏ vỏ, dùng dưới dạng sắc hay nướng chín, tán bột.
Thịt quả có độc, không ăn sống được. Phải ép bỏ dầu, để lâu trên một năm mới dùng. Ngày dùng 3-4 quả. Dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác.
Y học hiện đại dùng dạng cao có chứa 24% heterosit flavonoic và 6% hợp chất tecpenic mang tên ginkogink hay ginkor dưới dạng ống để uống 5ml hay viên nang. Dùng chữa kém trí nhớ, hay gắt bẳn của người có tuổi, hay ngủ gà ngủ gật, do tác dụng trên vi tuần hoàn.
Đơn thuốc có bạch quả dùng trong nhân dân
Chữa cảm lạnh, ho có đờm, có khi thở suyễn, cổ có tiếng khò khè: Bạch quả 7 trái nướng chín, cùng với lá ngải cứu. Dùng lá ngải là như cái tổ, rồi mỗi bạch quả cho vào một tổ lá ngải, lại bọc giấy ướt xung quanh rồi đem nướng cho thơm, bỏ hết giấy, bỏ hết lá ngải, chỉ ăn nguyên bạch quả. Ngày 3-4 quả như vậy. (Trích trong Bí uẩn phương).
Bạch quả định suyễn thang: Bạch quả 21 quả sao vàng, ma hoàng 12g, tô tử 8g, khoản đông hoa, chế bán hạ, tang bạch bì đều dùng mật sao, các vị đều 8g, hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, hoàng cầm sao qua, đều 6g, cam thảo 4g. Nước 600ml. Sắc ba lần. Gạn lấy nước, chia uống trong ngày. (Nhiếp Sinh Phương).
Chữa đi đái luôn, tiểu tiện quá nhiều, tiểu tiện trắng đục: Bạch quả 10 quả, 5 để sống, 5 để chín. Gom cả hai thứ vào mà ăn trong ngày.
Bình luận