Còn gọi ìà dây chiều, u trặc chiu, tích diệp đàng.

Tên khoa học Tetracerơ scandens (L.) Merr. {Telracera sarmentosa Vakl.).

Thuộc họ Sổ Diỉleniaceae.

A. Mó tả cây

Dây chặc chiu là một cây nhò leo, dài 3-5m hay hơn, có nhiều cành, có lông. Lá dai, nháp hình bầu dục, mép có rãng cưa, phiến lá hẹp về phía cuống. Hoa trắng mọc thành chùy ở nách hay ở ngọn, ít hoa. Đại hình trứng, hơi thắt lại ở đáy bao bọc bởi áo hạt bị tước nhiều nơi. Mùa hoa: tháng 6 (Hình 187).

B. Phân bố, thu hái và chế biên

Cây mọc hoang ở nhiều nơi vùng rừng núi và đồng bàng khắp nước ta. Vì mặt dưới của lá nháp cho nên nhân dân nhiều nơi dùng để đánh những đồ vật như gỗ, thiếc, sắt cho bóng; thân dây leo thường được nhân dân dùng làm chạc vì dẻo và dai. Cũng dùng làm thuốc: cắt về, thái mỏng phơi khô sắc uống hay sao vàng rồi sắc uống.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

D. Công dụng và liều dùng

Nhân dân miền Trung và nhân dần Cãmpuchia thường dùng dây này phối hợp với nhiều vị thuốc khác sắc uống làm thuốc thông tiểu chữa phù thận hay phù do gan. Còn dùng làm thuốc chữa

Hình J87. Dây chặc chiu - Tetracera scandens

Sốt, thuốc bổ và thuốc tẩy máu.

Ngày dùng 20 đến 30g dạng thuốc sắc.

Chú thích:

Cây dây chiều còn dùng để chỉ một cây nữa cũng là dây leo nhưng lá hình mác, hoa màu hồng, rất thơm, mọc thành ngù ít hoa. Tên khoa học là Tetracera assa DC. cùng họ sổ {Diỉỉeniaceae). Lá nhấp cũng dùng để đánh bóng đồ vật, dây cũng dùng làm chạc; ít thấy dùng làm thuốc.

Còn gọi là bòng bong, dương vong, thạch vĩ dãy.

Tên khoa học Lygodium ýlexitosum Sw.

Thuộc họ Thòng bong Schiiaeaceae.

Ta dùng toàn cây Thòng bong phơi hay sấy khô-Herba Logodii.

A. Mô tả cây

Thòng bong là một loại quyết có hiệp rất đài, mọc leo. Thân rẽ bò, lá dài, có nhiểu cặp lá chét, mỗi lá chét có nhiều lá chét con mang ổ tử nang ở mép. Bao tử hình 4 mặt, trắng xám hơi vàng. Vòng đáy đủ nàm ngang gần đỉnh bào tử nang (Hình 188).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc phổ biến ở các bụi rậm, bờ rào. Thu hái gần như quanh năm, phơi khô mà dùng, không phải chế biến khác.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy có tài liệu nghiên cớu.

D. Tác dụng dược lý

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu, mặc dầu được dùng phổ biến trong nhân dân.

E. Công dụng và liều dùng

Trong nhân dân dùng toàn cây thòng bong sắc uống làm thuốc thông tiểu tiện, chữa đi tiểu khó khãn, đái buốt, đau. Còn dùng làm thuổc lợi sữa.

Ngày dùng 12-24g dưới dạng thuốc sác.

Còn dùng ngoài không kể liều lượng, giã nát đắp các vết thương vết loét, ecpet loang vòng (mụn rộp loang vòng).

Bài thuốc chữa vết thương phần mền: Kinh nghiệm của cụ lang Long Hải Dương (Hải Duơng). Rữa vết thương bằng nước sau đây: Lá trầu không tươi 40g, phèn phi 20g. Dùng 2 lít

Hình Ì88. Thòng bong - Lygndium ịỉexuosum

nước nắu lá trầu không xong để nguội, gạn láy nước trong cho phèn phi vào, đánh cho tan, đem lọc để rửa vết thương.

Sau khi rửa vết thương, băng bằng thuốc sau đây: Lá mỏ qụa tươi (Cudrania cochinchinensis) rửa sạch, bỏ cọng, giã nhỏ đắp lên vết thương. Nếu vết thương xuyên thủng thì đắp cả 2 bên: Ngày rửa và thay bâng 1 lần, sau 3-5 ngày thấy đỡ thì 2 ngày thay băng 1 lần. Nếu vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thay thuốc gồm lá mỏ qụa tươi và lá bòng bong hai thứ bằng nhau: Giã nát đắp vào vết thương, ngày rửa thay bâng 1 lần, 3-4 ngày sau lại thay bàng thuốc: Lá mỏ quạ tươi, lá thòng bong, lá hàn the 3 vị bằng nhau giã nát, đắp lên vết thương nhưng chỉ 2-3 ngày mới thay băng 1 lần (Tạp chí đông y tháng 4-1966).