Tên khoa học Brơssica oỉeracea L. var capitata DC.
Thuộc họ Cải Ẽrassicaceae.
Khi dùng vỏ làm thuốc, có khi người la dùng sống: Rửa sạch, phơi khô, tán nhò, có khi người ta nung lên rồi mới tán nhỏ để dùng.
C. Thành phần hoá học
Trottg vỏ có các chất vô cơ, chủ yếu là canxi cacbonat, muối canxi khác và các chất hữu cơ, nhưng sau khi nung, chỉ còn chât vô cơ.
Trong thịt {bào ngu) có 73% nước, 24,58% protit,
0, 44% chất béo, 1,98% tro.
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ thạch quyết minh có vị mận, tính bình, vào 2 kinh can và phế. Có tác dụng bình can, tiềm dương, trừ nhiệt sáng mắt, thông lám. Dùng chữa đầu choáng mắt hoa, xương đau nhức, thong manh mờ mắt.
lỉiện nay, thạch quyết minh là một vị thuốc đinọc dùng (rong phạm vi nhân dán làm thuốc chửa thong manh, thị lực kém, có tác dụng làm tan màng, sáng mát.
Còn được dùng làm thuoc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, cầm máu.
Liều dùng: Ngày uống 3-6g dưới dạng bột, có khi dùng dưới dạng thuốc sắc với liều 15-30g.
Thịt bào ngư là một loại hải sản quý, mùi vị thơm ngon, nhiều chất dinh dưỡng. Dùng trong nước và xuất khẩu.
Đơn thuốc có thạch quyết minh
Chữa thong manh, quáng gà:
Thạch quyết minh cạo sạch vỏ đen ngoài, tán nhỏ và thuỷ phi lOg. Dùng gan lợn hay gan dỡ bổ đôi, cho thuốc vào. Đun sỏi chín, để hoi xông vào mắt. Khí đã nguội, án cả gan, uống cả nước. Mỏi ngày 1 lần (đơn thuốc kinh nghiệm trong nhân dân).
Đau mắt ra nắng bị chói:
Thạch quyết minh, cúc hoa, cam thảo mỗi vị 4g. Sắc với 200g nước, đổ nguội, uống hàng ngày.
A. Mô tả cây
Cây thảo có lá áp sát vào nhau tạo thành một bắp sít chặt ở ngọn thân cây thành hình đầuvới đường kính 25-30cm trước khi nở hoa. Hoa thành chùm có phản nhánh. Lá đài dựng đứng, nhị gẩn bàng nhau. Quả loại cải, hẹp và dài, trén có một mỏ hình nón, mảnh vỏ lồi có 1-3 gân. Hạt nâu, nhẩn, xếp thành một dẫy. Lá mầm hình thận, có hai thùy, gập đôi (Hình 374).
TODO: thêm hình ảnh
Hình 374. Cải bấp - Brassìca oleracea
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cải bắp được trồng ở kháp nước ta chủ yếu để lấy lá làm rau vào mùa đông. Năm 1948 người ta phát hiện trong báp cải tươi có một chất chống loét (antipeptic ulcer diatary) còn gọi là Vìta- min Ư có khả năng chữa lành khá mau chóng các ổ loét nhân tạo gây được trong bộ máy tiêu hóa của chim, chuột bạch, do đó cải bắp được dùng làm thuốc chữa loét, viêm dạ dầy và ruột. Dùng làm rau hay làm thuốc đều dưới dạng lá tươi, do đó chủ yếu thu hoạch vào mùa đông, hay ở những vùng khí hậu lạnh.
c. Thành phẩn hoá học
Trong bắp cải có 90% nước, 1,8% protit, 5,4% gluxit, 1,6% xenluloza, 1,2% tro. Hàm lượng
(CHa - s - CH - CH₂ - Cih - CH - COOH
CHa
muổi khoáng bao gồm 48mg% canxi, 31mg% p, 1,1 mg% Fe. Không thấy có caroten nhưng có 30mg% vitamin c, 0,04mg% vitamin pp, 0,06mg% vitamin Bj, 0,05mg vitamin Br Như trên đã nói, năm 1948, Cheney đã phát hiện trong cải bắp có chất chống loét hay vitamin Ư là một muối của metyl methionin suníbnium:
Một số nước Âu Mỹ và Trung Quốc đã tổng hợp muối metyl methionin sunfonium (ví dụ Trung Quốc chế chất metỵl methionin sunfonium iodua) nhưng cũng gọi là vitamin Ư. Tuy nhiên theo Mirakami (1956) thì những chất tổng hợp chưa hẳn đã giống chất vilamin u thực có trong nước bắp cải và nuớc một số rau và hoa quả như xà lách, rau muống, su hào (Brassica oleracea L. var. cauỉorapa) cải, chuối… hàm lượng vita- min u thay đổi tùy theo loại rau, cách trổng Irọt, thu hái và bảo quản.
Vitamin u không bền vững, dễ oxy hoá, bị hủy ở nhiệt độ cao, tan trong nước, chịu được lạnh, và có thể sấy khô.
D. Tác dụng dược lý
Nước ép rau tươi (xà lách, rau muống, su hào, cải bắp, chuối…) có tác dụng giúp đỡ, kích thích khá mạnh sự tái tạo của các tế bào ổ loét và do đó làm lành được các ổ loét đó.
Nãm 1958, Viên quân y 108 (Hà Nôi) có làm một số thực nhiệm chứng minh rằng nước ép hoa quả, nước ngũ cớc có tác dụng làm giảm và điều hoà sự co bóp của dạ dày.
Trên những cơ sở nghiên cứu ấy, hiện nay tại nhiều nước trên thế giới đang áp dụng nước ép cải bắp dưới nhiều hình thức để điểu trị các bệnh loét dạ dày, tá tràng, viêm dạ dầy, ruột, đau đường mật, viêm đại tràng… thu được kết quả tớt.
E. Công dụng và liều dùng
Sau đây là cách dùng nước ép cải bắp có thể áp đụng ở mỗi gia dinh:
Cải bấp bóc từng lá (không bỏ lá xanh), rửa nhiều lần nước cho sạch, dọc đỏi từng lá theo sống lá. Chẩn trong nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Dùng bàn ép, ép lấy nước. Bã bỏ đi. lkg cải bắp tươi ép như vậy cho từ 500-700ml nước ép có màu vàng xanh, thơm vị ngọt, hơi hãng hắc. Ở những nơi không có bàn ép, thì sau khi chần rau xong, cho vào cới sạch, giã nát rổi lấy vải màn hay gạc sạch lọc lấy nước. Làm theo cách này, lkg bắp cải cho từ 350-500ml.
Nước ép thu được nếu không có điếu kiện bảo
quản (tủ lạnh) rất chóng thiu, vì trong nước cải bẳp có hợp chát suntua. Liều dùng điều trị trong ngày trung bình l.OOOml chia làm nhiều lần uống mòi lần 200-250ml, uống thay nước. Có thể pha thêm đường, muối, uống nóng hay lạnh tùy theo khẩu vị. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng kèm theo chế độ dinh dưỡng và lao động thích hợp. Có những trường hợp loét tá ưàng 14-20 năm cũng chữa được lành. Nhưng đối với ổ loét quá sâu thì tác dụng ít.
Điều trị bàng nước ép cải bắp không có biến chứng gì và có thể kết họp với các thuốc chữa dạ dầy và tá tràng khác. Và khồng có phản chỉ định.
Còn gọi lã rễ lông cu ly, kim mao cẩu tích, cẩu tồn mao, cây lông khỉ.
Tên khoa học Cibotium barometĩ (L.) J. Sm.
Thuộc họ Lông cu ỉy Dicksoniaceae.
Cẩu tích hay kim mao cẩu tích (Rhiioma Ciboỉii) là thân rễ phơi hay sấy khô, có khi thái mỏng, phơi hay sấy khô của cây lông cu ly.
Cẩu là con chó, tích là lưng, xương sống. Vì vị thuốc chưa thái giống lưng con chó, do đó có tên này.
A. Mỏ tả cày
Cày lông cu ly là một loại quyết thực vật, có khi cao tói 2,50m. Lá dài đến 2m, phủ bởi nhiều vẩy vàng bóng, ờ mỗi bên gân giữa bậc ba, có một hay hai ổ tử nang. Thân rẻ có lông tơ màu vàng bao phủ, trông tựa như con chó con hay như con cu ly.
Vì thân rễ cây này trông giống con vật cho nên ngày xưa tại châu Âu hồi thế kỷ thứ 16-17, người ta cũng cho nó là một con vật và đật tên là Agnus scynthìus. Người ta cho rằng cây động vật này sinh ra do một hạt dính vào rễ, có máu và thịt như một con vật ăn cỏ. Vì con vật này không đi lại được cho nên sau khi nó ăn hết cỏ xung quanh nơi nó được sinh ra thì nó chết đi (Hình 375, Hm 18,2).
B. Phàn bố, thu hái và chế biến
Cẩu tích mọc hoang khấp nơi ờ miền rừng núi Việt Nam, Lào, Cãmpuchia, Philipin, Malaixia và Inđônêxia. Miền nam Trung Quốc (Quảng Đông,
TODO: thêm hình ảnh
Hình 375. cẩu tích - Cibotíum barometz
Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam) cũng có.
Thu hái quanh nãm, nhưng tốt nhất vào cuối thu sang đông. Khi hái vể thì rủa sạch cắt bỏ rễ con, cuống lá và lông vàng phủ xung quanh thân rễ, thái mỏng, phơi khô. Có khi đồ hơi nước rồi mới phơi, làm như vậy nhiều lần; có khi lại còn đồ với đậu
đen chín lần đồ, chín lần phơi rồi cuối cùng thái mỏng phơi khõ.
C. Thành phần hoá học
Hoạt chất chưa rõ. Hiện mới biết trong thân rễ có tinh bột.
D. Cóng dụng và liều dụng
Chỉ mới được dùng trong phạm vi nhản dán làm thuốc bổ gan, thận chữa đau lưng, đau khớp xương, đáu gối, chữa phong thấp. Người già hay đi tiểu tiện nhiều lần.
Ngày dùng 10-18g duới dạng thuốc sắc.
Còn dùng chữa bệnh phụ nữ khí hư, bạch đới, phụ nữ có thai mà lưng, người đều đau.
Theo tài liệu cổ: cẩu tích có vị đắng, ngọt, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh lưng gối, trìí phong thắp, chữa phong hàn, thấp tỳ, lưng đau chân mỏi, thất niếu (không đi đái được), lâm lô (đái nhỏ giọt).
Nhũng người thận hư hữu nhiệt, tiểu tiện bất lợi hoặc đỏ vàng khòng dùng được.
Đơn thuốc có cẩu tích chữa ngang lưng đau nhức
Kinh nghiệm nhản dãn: cẩu tích L5g, ngưu tất lOg, đỗ trọng lOg, sinh mễ nhân L2g, mộc qua 6g, nước 600ml. sắc còn 200ml. Chia 3 lấn uống ưong ngày. Có thc thêm 20ml rượu trong khi uống thuốc, nếu uổng được rượu.
Chú thích:
Ngoài thân rẻ cẩu tích, người ta còn dùng lòng vàng phủ xung quanh thân rễ để đắp các vết thương, vết đứt tay, đứt chân để cầm máu.
Tác dụng này do các lông đó hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông.
Có khi người ta còn dùng lông này để nhồi đệm, nhồi gối.
Bình luận