Còn gọi là cỏ nút áo, smao kak kdam (Cãmupuchia).

Tên khoa học Kylỉinga monocephaía Rottb.

Thuộc họ Cói Cyperaceae.

A. Mô tả cây

Cò thân nhẵn, thân rễ mọc bò, thân cao 5- 30cm. Lá thường ngắn hơn thân, phiến lá hẹp và dài. Cụm hoa hình cầu, đường kính 8-12mm, mọc trên một cán dài hình ba cạnh, gồm nhiều hoa màu trắng, mang ba lá bắc dài, nằm ngang. Quả bế hình bầu dục, dẹt, trắng vàng nhạt, có những chấm nhỏ. Toàn cây vò ra có mùì thơm đặc biệt (Hình 434).

B. Phản bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang ở khấp nơi, tại những bãi cỏ, ven đường đi.

Người ta hái cả cây và rễ vể làm thuốc. Thu hái quanh năm. Thường dùng tươi.

C. Thành phần hoá học

Trong cây có tinh dầu. Hoạt chất chưa rõ.

D. Công dụng và liều dùng

Cỏ bạc đẩu thường dùng cho súc vật ản.

Làm thuốc người ta dùng cỏ bạc đầu làm thuốc sát trùng, chữa sâu quảng, lở ỉoét. Thường chỉ thấy dùng ngoài: Cây hái vể rửa sạch giã nát,

thêm ít muối vào đắp lên nơi sưng đau.

Có người dùng sắc uống chữa ỉa chảy. Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc.

Cỏn gụi là quà diều, macađơ, giả như thụ, swai chanti (Cămpuchia).

Tên khoa học Anacardium ocádentaỉe L. (Cassuvium pumiỊemni Lamk.).

Thuộc họ Đào lộn hột Anacơrdiaceae.

A. Mó tả cây

Đào lộn hột là một loại cây to, cao khoảng 8- 9m, lá mọc so le, cuống ngắn, phiến lá hơi hình trứng, nhẩn, dai, dài 10-20cm. Hoa nhò, trắng mùi thơm dịu, mọc thành chùy tận cùng. Quả khô, không lự mở, hình thận, dài 2-3cm, vỏ ngoài cứng, trên mặt có những hõm, cuống quả phình to thành hình trái lê hay hình quả đào, to bằng nắm tay, màu đỏ, vàng hay trắng, trông toàn bộ ta có cảm tưởng như phẩn cuống quả phình ra là quả và phần quả thật đính trên là hạt do đó có tên là “đàơ lộn hột” nghĩa là quả đào mà hột lại chui ra ngoài. Hạt hình thận, chứa dáu béo (Hình 435).

B. Phân bố, thu hái và chè biến

Đào lộn hột có lẽ vốn là một cây nguồn gốc những nước vùng nhiệt đới chủu Mỹ, nhưng từ lâu đã được đưa đi trồng rộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới châu Á như Ân Độ, Việt Nam (miền Nam), Cãmpuchia. Đào lộn hột sống được trên những đất pha cát mà nhiều cầy khác không sống dược. Rất nhiều bộ phận của cây đào lộn hột được khai thác để sử dụng: Phấn cuống quả phình ra mà nhân dân vẫn thường gọi là quả được sử dụng trên thị Irường với tên “táo ca giu” (Pomme de Cajou) được dùng tươi hay đóng hộp, phần quả thật (nhân dân gọi nhầm là hạt) được sử dụng trên thị trường thế giới với tên “hạt giẻ ca giu” (Noix de Cajou), nhựa vỏ và thân cây đào lộn hột đều được sử dụng làm thuốc và làm thực phẩm.

C. Thành phần hoá học

Cuống quả (nhân đân gọi là quả) khi thật chín có chất thịt ngọt, hơi chua, mùi thơm như mùi dâu chín, chứa viiamin Br riboflavin và hàm lượng vitamin c rất cao: Gấp 10 lần trong chuôi,

5 lần trong cam và chanh. So vơi quả màu đỏ, quả màu vàng chứa nhiều vitamin c hơn và ít riboAavin hơn. Ngoài ra còn chứa muối vô cơ,

canxi, photpho và sắt.

Quả thực (nhan dân gọi là hạt)-Noix de Cajou hay Noix d’acajou gổm vỏ quả cứng chiếm khoảng 69%, nhân 26% còn lại là vỏ nhân. Tất cả đểu được sử dụng: Từ vỏ quả chiết bảng ête cho bóm đào lộn hột (baume de cạịou) thường gọi nhầm là dầu dào lộn hột, vì đây không phải là chất bco mà là chất nhựa dầu (bôm). Bôm đào lộn hột là một chất lỏng sánh, màu nủu đen nhạt, rất hắc. Thành phẩn chủ yếu của bõm này là cardola và axit anacardic. Người ta cho cardol là hoạt chất chủ yếu của bôm đào lộn hột. Đây là một chất lỏng màu vàng đỏ nhạt, ra ngoài trời rất chóng chuyển thành nâu, và có tác dụng gây phồng giống như sâu ban miêu. Hơi cùa nó cũng có tác dụng kích ứng đối với mắt, gây ho, gây viêm đưòng hô hấp. Tuy nhiên nó không có tác dụng xấu đối với bộ máy tiêu hoá, người ta cho rằng vì nó không tan vào các dịch vị tiêu hoá.

Vở nhún là lớp vỏ mỏng phủ lên nhản. Thành phần chủ yếu của vỏ nhân là cardol và axit anacardic, do đó cần loại khỏi nhân khi dùng hạt.

Nhân hạt chứa 47,13% dắu; 9,7% hợp chất nitơ; 5,9% tinh bột. Nhân ép nguội cho chất dầu béo tiêu thụ trên thị trường với tên “dầu Caraip” {huile des caraibes) màu vàng nhạt, không mùi, vị và các hằng số lý hoá gần giống như hằng sô’ lý hoá của dầu hạnh nhân. Thành phẩn chủ yếu cùa đầu này là sitosterin là một phytostearin đặc biệt.

Vỏ thân cây đào lộn hột tươi chứa 4-7% tanin catechic.

Nhựa đào lộn hột: Khi khía lẻn vỏ thân cây tươi, một chất dịch chảy ra có vị chát chứa tanin catechic, cardol và axit anacacdic.

Thân một số cây đào lộn hột già hoặc có bệnh chảy ra một chất gôm hình giọt dài hay ngắn, màu vàng nhạt hay nâu nhạt, tan một phần ưong nước lạnh, hầu như hoàn toàn tan trong nước nóng. Thành phán chủ yếu của chất gôm này bao gồm 8% arabin, dextrin, basorin, một ít’ đuờng, tanin catechic, cardol và axit anacacdic, Do chất cardol nên gôm này có tác dụng gây kích ứng.

D. Công dụng và liều dùng

Quả giả đào lộn hột (cuống quả) được xe như một nguồn vitamin c rất quan trọng dùr dưới hình thức “quả” tươi hay đóng hộp. Ngưi ta thường àn quả dưới hình thức thái thành từr miếng mỏng, thêm muối, ớt (châu Á) hay thêi đuờng (châu Mỹ). Từ “quả” tươi có thể ép đưc dỊch ép vị ngọt, cho lén men thành inột thứ rưọ nhẹ thơm ngon có tác dụng lợi tiểu; dùng ngoi xoa bóp trong những trường hợp đau nhức, sú miệng chữa viêm họng, nhấm nháp để chốn nồn mửa.

Nhân đã loại hết vỏ nhân, ngon bùi như hí dẻ hay hạt hạnh nhân, được dùng như hạt hạn nhân trong việc chế biến bích quy, kẹo, bánh kẹo sôcôla. Dùng tươi hay rang lên. Khi ran; cần chú ý cho tinh dầu bay hết đi để tránh tái dụng kích ứng.

Bôm đào lộn hột dùng chữa chai chân, vẽ loét, nứt nẻ chân.

Dầu nhân được dùng chế thuoc hay đổ ãi giống như dẩu hạt dẻ va dầu hạnh nhân đắng.

XOAN NHỪ £#?

Cỏn gọi là xoan trà, nhừ, xoan rừng, lát xoan, xuyên cóc, nam toan táo (Trung Quốc).

Tên khoa học Choerơspỡndias axiỉỉaris (Roxb.) Burtt et Hill (Spondias axiiỉaris Roxb.).

Thuộc họ đào lộn hột Anacardiũceae.

A. Mô tả cây

Xoan nhừ là một cây gỗ, to, cao 8~20m, vỏ thân cây màu xám nâu. Lá mọc so le, kép lông chim lẻ, dài 20-30cm, cuống lá dài 5-10cm, lá chét 7-15cm, mọc đối, dài 4-10cm, rộng 2- 4,5cm, mép nguyên. Hoa tạp tính khác gốc. Hoa đực và hoa giả lưỡng tính màu tím hồng nhạt, mọc thành chùy gổm nhiều tán tụ, chùy hoa dài

4- 12cm, hoa cái mọc đơn độc ờ nách Já phía trên. Quả hạch, hình giống quả nhót dài 2-3cm, vỏ bóng, màu vàng, đỉnh có 5 lỗ nhỏ, vị chua, khi chín có vị ngọt (Hình 436).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Xoan trà mọc hoang dại ở nhiều tỉnh miền

Bắc nước ta như Cao Bàng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang. Còn thấy mọc ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Hổ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến), Nhật Bản, Ẩn Độ.

Tại nước ta cũng như ở nhiều nước khác, người ta khai thác xoan nhừ chủ yếu lấy gỗ làm đổ dùng.

Ngoài ra người ta khai thác vỏ và quả cây làm thuốc chữa bỏng. Dùng tươi hay khô đều được. Tại Trung Quốc người ta còn khai thác vỏ cây và lá để chế gôm nhựa quả dùng để ăn và lẽn men rượu, vò hạt làm nguyên liêu chế than hoạt tính> sợi vỏ thân dùng để bện thừng, chạc.

C. Thành phần hoá học

Trong vỏ thân lá có khoảng 13-14% gôm nhựa. Ngoài ra còn có tanin.

Nãm 1975, Nguyển Liêm và cộng sự đã phân tích vỏ thân xoan nhừ thấy có 37,1% tanin pyrogalic, 5,4% ĩlavon, 0,6% quinon, và 14% chất polyme thiên nhiên.

D. Tác dụng dược lý

Trẽn cơ sở kinh nghiệm dân gian, dùng làm thuốc chữa bỏng, lần đàu tiên Tô Thủ <T học thực hành, 1967, 8,146, 9-10) đã dùng cao nước vỏ xoan nhừ làm thuốc chữa 18 ca bỏng nhẹ và nặng. Kết quả thấy chữa bỏng bằng cao xoan nhừ đơn giản, rẻ tiền, kết quả tốt: Khống gây bội nhiễm, biến chứng, dị chứng, rút ngán ngày điều trị so với điều trị bằng tây y, bệnh nhân dẽ chịu, không đau, vết bỏng không có mùi hôi thối. Nhiều trường hợp có thể chữa ngoại trú, tại nhà, rất phù họp với điều kiện của dân.

Từ năm 1973, khoa bỏng viện quân y 103, khoa chấn thương bệnh viện Thái Bình, các khoa sinh lý bệnh trường đại học quân y và nhiều cơ sở quân y khác đã nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng đã đi đến những kết luận sau đây (y học thực hành, 1976, 7-8, 35-37):

  1. Nước sắc đặc vỏ cây xoan nhừ khi bôi vào vết thương bỏng mới tạo ra một màng che phủ. Qua thực tế lâm sàng, so với các màng tạo bằng collođion, íĩbrin, màng che phù do nước sác đăc vỏ cây xoan nhừ hơn hẳn về tính chất mềm mại, chắc bền, khống bị nứt rạn, không gây căng kéo bề mật vết thương bỏng và về tính chất bám chặt và phủ kín vết thương bỏng.

  2. Nước sắc dặc vỏ xoan nhiXcòn có tính chất làm khô vết thương bỏng, do đó màng che phủ giữ được tính chất là một màng khô nhưng mềm mại, vững chắc, đồng thời bám chặt vào vết thương bỏng.

  3. Dùng vỏ xoan nhừ chữa các loại bỏng nông tiết kiệm được băng gạc, đỡ số lần thay bàng, do đó bớt đau đớn cho bệnh nhân, lại giảm được nhiễm trùng tại chỗ do cách ly được vết bỏng với mõi trường bên ngoài, vết bỏng nông tự biểu mô hoá dưới màng, ở vết thương độ bỏng 2, bỏng ưung bì nông, từ 8-12 ngày màng bắt đầu bong, Đối với bòng trung bì sâu, thời gian bong của màng từ ngày 11-20 kể từ sau khi bị bỏng. Lớp đa của bỏng, độ 2 được phục hổi mịn hơn so với các vết bỏng nông cùng vị trí không được bôi nước sắc đặc vỏ xoan nhừ.

Tuy nhiên cần khắc phục một số nhược điểm của thuốc như xót, khi bôi, màu đen của thuốc làm khó chẩn đoán và khó theo dõi diễn biến của hoại tử bỏng khi dùng thuốc ở bỏng sâu.

E. Công dụng và liều dùng

Trừ gỗ dùng để làm nhà, đóng đồ, quả dùng để ãn và chế men rượu, (rong nhân dán Việt Nam và Trung Quốc từ rất lâu đời đã biết dùng vỏ, lá và quả xoan nhừ sắc nước làm thuốc bối bỏng với tác dụng tiêu viêm, giải độc, giảm đau và cầm máu,

Sau những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên lâm sàng, vỏ xoan nhừ được dùng chính thức tại nhiều nơi để chữa bỏng. Trước khi dùng thuốc cần rửa sạch vếí bỏng, cắt bỏ các vòm nớt phổng và các lớp thượng bì đã bong lóc ra, lau khô sạch bằng gạc vô trùng khô.

Có thể dưới dạng nước sắc đăc của vỏ cây, hay bột vỏ cây (khi dùng pha thêm nước với tỷ lệ 1 phân bột, 1 phần nước) có thể dùng nước sấc đặc phun thành bụi nhỏ (sử dụng khí nén ni tơ để tạo áp suất).

Sau đây là một hình thức sử dụng đơn giản: Lấy vỏ cây rửa sạch cho vào nồi, đổ nưóc ngang mức vỏ, đun cho cạn, gạn lấy phần còn lại. Lại đổ thêm nước ngang mức cũ, đun lần thứ hai đến cạn một nửa. Lấy hai phần nước đó lọc qua gạc rồi cô thành cao sánh.

Cứ lOkg vỏ làm được 400ml cao, màu đen, khổng mùi, vị chát, dễ bảo quản.

Còn gọi là nắc nẻ, móng tay lổi, phượng tiẽn hoa, cấp tính tử, bông móng tay, balsamina.

Tên khoa học Impatiens baỉsamina L.

Thuộc họ Bóng nước Baisamìnơceae.

A. Mò tả cây

Cỏ mọc hàng năm, co thể cao 40cm. Lá mọc so le, có cuống, hình mác, đẩu nhọn, mép có răng cưa rất rõ, đài 7-8cm, rộng 2-2,5cm. Hoa mọc ở nách lá, lưỡng tính không đều, màu đỏ hay trắng, 5 lá dài cùng màu với tràng, không đều. Lá dài trước hình cựa, 5 cánh, 5 nhị, chỉ nhị ngắn, bao phấn dính sát nhau chung quanh nhụy, 5 lá noãn họp thành bầu thượng 5 ô, mồi ô đựng nhiều noãn. Quả nang nứt thành 5 mảnh xoắn lại tung hạt đi xa (Hình 437).

B. Phán bố thu hái và chế biến

Mọc hoang và được trồng làm cảnh tại nhiểu vườn ở khẫp nước ta. Còn thấy mọc và trổng ở miền nam Trung Quốc, Ân Độ.

Người ta dùng thân và cành làm thuốc: Mùa hạ và thu, hái cây trừ bò rễ, lá và hoa quả, phơi hay sấy khô, hoẫc nhúng vào nước đun sỏi rổi phơi hay sấy khô. Có thể dùng tươi.

Ngoài ra người ta còn dùng hạt bóng nước với tên cấp tính /ỉh Hái quả chín về phơi khõ, đập lấy hạt, phơi lại cho khô.

Còn dùng lá tươi làm thuốc.

C. Thành phần hoá học

Trong toàn thân cây bóng nước có axit p- hydroxybenzoic có tính chất kháng sinh, axit gentisic C₇H₆₀₄, axìt ferulìc C10HlữO4, axit p~ cumaric C,,H803, axit sinapic CnHJ₂₀₅, axit caíeic CsH₈₀₄, ngoài ra còn scopoletin C₁₀HgO₄ (Hegnauer R Chemỡtaxonomie der Pflanzen (III), 1964, 230).

Lá chứa axit xìnnamic (nhục quế toan) kaempíerol- 3 arabinozit và kaempíerol) (C. Ấ., 1971, 75, 31277y)

Thân chứa kaempferol 3- glucozit, quexetin, pelargonidin, cyanidin, và delphindin (C. A., 1966, 64, 16275C)

Hạỉ chứa 17,9% chất béo. Trong chất béo có

TODO: thêm hình ảnh

Hình 437. Bóng nước - ỉmpatiens baỉsamina

thành phần chủ yếu ìà axit parinaric hay axit A9, 10, 13, 15, -octadecatetraenoic Cl8H2gO? (khoảng 27%) balsaminasterol C₁₇H₄Q₀ (Hegnauer R., 1964). Ngoài ra còn có oc sipínaterol C29H4eO (khoảng 0,015%) (C. A,, 1973, 79, 2744a và c. A. ,1954, 48, 13835a), saponin, các đa đường (khi thủy phân cho glucoza và fructoza) (c. A.t 1971, 74, 72872m).

Hoa chứa lawsone C)0H6O3, lawsonemetylete CnHfi03. Ngoài ra còn tùy theo màu sắc của hoa mà thành phần thay đổi: Hoa trắng chứa Ieucocyanidin, leucodelphinidin, hoa tím chứa malvidin glucozit, hoa đỏ chứa pelargonidin, paeonidin và delphinidin dưói dạng clucozit. Dịch ép của hoa bóng nước có tác dụng kháng sinh mạnh.

D. Cồng dụng và liều dùng

Cây bóng nước được ghi trong “Bản thảo cương mục” với tên phượng tiên, hạt bóng nước được ghi trong “Cứu hoang bản thào” Với tên “ Cấp tính tử”.

Theo những tài liệu cố toàn cây có vị cay, tính ôn, hcri có độc, có tác đụng khử phong thấp,

hoạt huyết, chỉ thống, thường dùng chữa phong hai kinh can và tỳ, có tác dụng giáng khí, hành

thấp, bị thương sưng đau, rắn rết cán. Ngày uống ứ, thường dùng chữa kinh nguyệt bế tắc, đẻ khó,

từ 4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài nấc nghẹn, hóc xương. Ngày dùng 3 lần, mỗi

không kể liều lượng. Sách cổ nói phụ nữ có thai lần 4-6g dưới dạng thuốc bột hay viên,

không dùng được. (Ịược nhân dân dùng nấu nước gội đầu

Hạt có vị hơi đáng, tính ôn, hơi có độc, vào làm cho tóc mọc tốt.