Còn gọi ỉà muỗm, swai (Cãmpuchia), makmounang (Viêntian), manguier.

Tên khoa học Mangifera ỉndica L.

Thuộc họ Đào lộn hột Anacardiaceae.

A. Mô tả cây

Cây to cao 15-20m. Lá nguyên, mọc so le, đơn, thuôn dài, nhẵn, bóng, dài 15-30cm, rộng

5- 7cm. Hoa nhỏ, màu vàng nhạt, thành chùy ở đầu cành. Quả hạch khá to, hạch dẹt, hình thận,

Người ta thường dùng búp non hay cành non nướng rồi vắt lấy nước làm thuốc.

c. Thành phán hoá học

Thân rễ chứa tới 77-87% nước: Trong thân rẽ khô có 5,5% nước, 0,75% chất tan trong ête, 6,75% chất anbuminoit, 66,65% hydrat cacbon, 10,65% xơ, và 9,70% tro.

Năm 1970, từ rẽ cái khô của củ chóc, Pandey V. B và B. Dasgupsta đã chiết được 2,12% dios- genin tinh khiết. Ngoài ra còn có tigogenin và một số saponin khác (C.A., 1971, 74 (11)50513t)

D. Còng dụng và liều dùng

Nhân dân một sổ’ nơi (Lạng Sơn) dùng ngọn hay cành non nuớng nóng vắt lấy nước nhỏ vào mắt hay vào tai chữa đau mắt hay đau tai.

Có nơi dùng thán rễ uống, chữa sốt, ra mồ hôi, làm thuốc mát.

’ Ngày dùng 10-20g, dùng ngoài không kể liểu lượng.

Thân rể có khi dược dùng luộc ãn.

Có thể là một nguồn chiết diosgenin.

Chú thích:

Chớ nhầm cây mía dò hay củ chóc vừa mô tả với các cây củ chóc thuộc chi Typhonium như T. triỉobatum (L.) Schott thuộc họ Ráy (Araceae) là một loại cò mọc hoang ở các vùng nông thôn, bên bãi hoang hay trong vườn rậm. Cây này có lá xẻ thành 3 thuỳ, hoa nở vào đầu mùa thu, có mùi thối khó chịu (nhất là vào lúc chập tới). Được dùng với tên bán hạ, bán hạ nam (xem vị này).

cứng trên có những thớ sợi khi nẩy mắm thì hơi mở ra. Hạt có lóp vỏ mỏng, màu nâu, không phối nhũ, lá mầm không đều (Hình 449).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Nguồn gốc ở các nước nhiệt đới châu Á, hiện được phổ biến trồng ờ khắp những nước nhiệt đới khác. Tại miền nam xoài là một cây được trồng rất phổ biến. Tại miền Bấc, mấy năm gần đây có chú ý trổng tại một số tỉnh. Riêng tỉnh

Sơn La, năm 1970, sản lượng xoài mõi vụ đã Chu tới hàng trăm tấn quả, trọng lượng mỗi quả trung bình 135-230g. ở Sơn La, xoài nổi tiếng nhất là xoài Yên Châu và Mộc Châu.

Ngoài quả ra, người ta còn dùng vỏ thân, nhựa thân, hạt và lá làm thuốc. Quả thu hoạch vào mùa hè, các bộ phận khác thu hái quanh năm.

Tại miền Bắc, ngoài cây xoài ra còn có hai loài gần với xoài là cây quéo (Mangi/era reba) và cây muỗm (Mangiỷera foetida).

C. Thành phần hoá học

Trong quả xoài tỷ lệ thịt quả chiếm 60-70%, thịt xoài chứa rất nhiều chất bột (quả xoài xanh chứa nhiều hơn xoài chín), chất đường 16-20%, chất gôm, axit hữu cơ chủ yếu là axit xitric, caroten 121 đến 363,8mg trong l.OOOg, vitamin c 13,2-80mg%, vitamin B.

Hạt xoài có vị đắng và chát chứa rất nhiều axit galic tự đo.

Vỏ (hân chứa mangiferín (hợp chất flavonoit) tới 3%, tanin.

Lá xoài chứa khoảng 1,6% mangiferin, một chất độc chưa xác định, bài tiết qua nước tiểu có thể làm cho nước tiểu màu vàng.

Muốn chiết mangiíerin, ta cân lOOg vỏ thân hay vỏ cành hoặc lá. Dùng 400ml cồn metylic, đun sôi trên nổi cách thủy trong vòng 60*90 phút. Chiết 2 lần. Để nguội, mangiferin thô kết tinh. Hoà tan mangiíerin thô vào cồn metylic nóng, thêm than hoạt vào, đun cách thưỷ, lọc

o

HO

R -

HO

TODO: thêm hình ảnh

Hình 449. Xoài - Mangiferư indica

nóng. Để nguội cho kết tình. Tinh thể mangiferin hình phiến dài mỏng, vàng nhạt, tan nhiều trong cồn metylic, cồn etylic, clorofoc, ít tan trong nước lạnh. Độ chảy 258-261í>C.

Nhựa xoài là một loại gôm nhựa với 16% gôm và 81% nhựa. Nhựa tan trong đa số dung môi hữu cơ và tinh dầu thông. Độ chảy 69-74°C, chỉ số xà phòng 81, chỉ số iốt 110-118, chỉ số axit 50,4.

Gôm gổm 22% pentoza, 38% hexoze, 24,1% anhydrit uronic, 2,8% metoxyl, d.galactoza, 1. arabinoza, 1. ramnoza, axit glucuronic, (Farogi M. I. H., 1972, Scỉen, Cuit., 38 (1):39).

D. Công dụng V? liều dùng

Quả xoài ỉà một thứ quả ngon có giá trị lớn so với nhiều quả khác. Thường nguời ta thái thành từng miếng mỏng ngâm trong rượu vang và đường, thêm ít quế cho thơm. Ngưòi ta còn dùng chế mứt, đóng hộp (thường hai loại hàng: Nước xoài và xoài ngâm nước đường hay được ưa chuông nhất). Tại một số nước như Ân Độ, người ta thái quả xoài xanh thành miếng mỏng phơi hay sấy khô dùng làm nguồn vitamin c thiên

nhiên.

Vỏ quả xoài chín cũng như quả xoài có tác dụng cầm máu tử cung, khái huyết, chảy máu ruột dưới dạng cao lỏng với liều lOg cao lỏng cho vào 120ml nước rổi cứ cách một hay hai giờ cho uống một thìa cà phê.

Nhân xoài sấy khô tán bột được nhân dân Malaixia, Ân Độ và Braxin dùng làm thuởc giun vói liều 1,5 đến 2g. Tại Malaixia nhân dân còn dùng chữa chảy máu tử cung, trĩ. Tại Philipin người ta còn dùng chữa ỉa chảy: Nghiền 20 đến 25g nhân với 2 lít nước, nấu kỹ cho tới khi cạn còn hơn 1 lít thì lọc để bỏ bã, thêm vào nước lọc 300-400g đường và tiếp tục đun cho tới khi còn 1 lít. Môi ngày dùng hai hay ba lần, mỗi lần dùng 50 đến 60g thuốc chế như trên.

Vỏ thần xoài dùng tươi hay khô. Tươi thì giã vắt lấy nước, được dùng như vỏ quả, vỏ khô dùng dưới dạng thuốc sắc. Nhân dân Cãmpuchia dùng chữa thấp khớp (đắp nóng bên ngoài), hoặc rửa khí hư bạch đới của phụ nữ. Đôi khi dùng rửa chũa tôkơlô. Tại miền Bắc, vỏ xoài được dùng sắc uống chữa sốt hay chữd đau răng (ngậm và nhổ đi).

Nhựa vỏ cày xoài chảy ra có màu đen không mùi, vị đắng hắc, ra không khí đặc lại, hoà vào nước chanh dùng bôi ghẻ.

Lá xoài được dùng tại một sô’ vùng ở Ân Độ để nuôi trâu bò nhưng lá già chứa một lượng nhỏ chất độc cho nên nếu cho trâu bò ăn lâu ngày có thể gây ngộ độc chết trâu bò.

Đơn thuốc có vỏ xoài

Chữa đau râng:

Vỏ xoài phơi khô 3 phần, quả me 1 phần, quả bồ kết 1 phần. Tất cả sấy khô tán nhỏ. Cho vào nơi răng đau đã rửa sạch.

NHÃN HƯƠNG ìM

Tên khoa học Meliỉotus suaveoỉens Ledeb.

Thuộc họ Cánh bướm Papỉlionaceae.

Nhãn hương là mùi thơm của nhãn vì cây khô thoang thoảng có mùi nhãn Melilotus do chữ Hy Lạp mel=mật, lotos=cò thức ăn gia súc, vì cỏ thức ăn gia súc có mùi mật.

A. Mô tả cây

Cỏ sống hằng năm, mọc thảng đứng, cao 0,8- lm, thân hơi khúc khuỷu đo các cuống lá men xuống. Cành mọc đứng, mảnh khảnh. Lá kép cấu tạo bởi ba lá chét. Lá chét hình trái xoan dài 1,2- 1,5cm, rộng 0,4-0,8cm, khía răng cưa ở nửa trên, 9-11 đôi gân phụ, không rõ rệt, cuống lá dài 1,5- 2cm, hình sợi chỉ, lá kèm hình dùi, dài 8-10mm dính với nhau và với cuống lá trên 2mm. Cụm hoa hình chùm ở kẽ lá, mang nhiều hoa rất nhỏ, màu vàng. Đài hình chuông, có 5 răng nhọn bàng nhau. Cánh hoa rụng sớm, có hình thìa. Cánh thuyền hình lưỡi hái, cánh thìa tù ngắn. Nhi lưỡng thể gồm 10 chiếc, trong đó 9 chiếc dính với nhau bởi chỉ, chiếc thứ muồá tự do, bao phắn giống nhau. Bầu ngắn, vòi dài, đầu nhuỵ nhỏ. Quả loại đậu ngắn, không mở, thoạt tiên nhẵn, vể sau nhãn nheo và có màu đen.

Một hay hai hạt hình bầu dục (Hình 450).

B. Phán bố, thu hái và chế biến

Cày mọc hoang ở các bãi đồi, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Phú Thọ. Theo Pételot (1952) thì trước đây nhân dân ta hình như không dùng. Chaffanjon vốn là người Pháp quen dùng cây này chữa mát đã giới thiệu cách dùng nước sác cây chữa đau mắt. Nhưng thực tế ít thấy người dùng. Tại các nước Châu Âu người ta dùng một loại cây gọi là mêllilô, Trung Quốc gọi là hoàng linh ỉãng hương Meliỉotus oỊỊicinalis Desr. và Meliỉotus aỉtissimus Thuíl dưới dạng ngọn cây cắt lúc đang ra hoa thành từng đoạn dài 20-25 cm (đối với loài M. officinalis) hoặc từng đoạn dài 30-35 cm (đối với loài M. aỉtsỉsimus) phơi khô trong mát, rồi bó thành từng bó. Cây tươi hầu như không mùi, nhưng khi khô có mùi mật và mùi nước hoa dễ chịu. Không phải chế biến gì khác.

C. Thành phần hoá học.

Cây nhăn hương Melilotus suaveolens chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Nhưng khi phơi khô cũng có mùi thơm như cây Meỉilotus officinaỉis đã được nghiên cứu giới thiệu sau đây:

Trong cây tươi Meliìotus officìnalis có một heterozit gọi là melilotozit. Trong quá trình phơi khô, melilotozit bị men emunsin thuỷ phân cho glucoza và axit cumaric. Axit cumaric bị khử nước, đóng vòng lacton cho cuma rin. Hàm lượng cumarin chay đổi tuỳ theo loài, lá chứa nhiều hơn là thân và hàm lượng cao nhất vào trước lúc ra hoa. Trung bình trong cỏ khô có 0,4 đến 0,9% cumarin bên cạnh cumarin còn có axit melilotic:

Axit cumeric Cumarín

Trong cỏ Meliotus ojfỉcinalis bị thối có một chất độc gọi là dicumarola hay metyl-3-hydroxỵ- 4-curaarin. Súc vật ăn phải cỏ thối này có thể bị xuất huyết năng, có khi chết. Hiện tượng súc vật bị ngộ độc này thường thấy ở Canađa và Mỹ. Nhưng mãi tới năm 193], Scoíield mới phát

OH ỌH

cọr^tp

Dkumaroia

OH