Còn gới là hải đới, nga chưởng thái.
Côn bố là toàn cây khô của một loại tảo đẹt có tên khoa học là Laminaria iaponìca. Areschong thuộc họ Côn bố (Lamìnariaceae), người ta cũng còn dùng toàn cây khô của cây nga chường thái. Ecklonia kurome Oskam thuộc họ Tảo có cánh (Alarỉaceae), hoặc của một loại tảo Undaria pinnatiỷida (Harv.). Suring thuộc cùng họ Tảo có cánh (Aỉariaceae).
Côn có nghĩa là cùng, là giống, bố là vải vì vị thuốc này dài như tấm vải cho nên đật tên như vậy.
A. Mô tả cây
Cỏn bô’ Lamìnaria japonica là một loại tảo dẹt, màu nâu, có những móc để bám vào tảng đá ngoài biển, một bộ phận hình trụ nom như thân và một bộ phận dẹt và dài nom như lá. Bộ phận giống như ỉá của côn bô’ dài khoảng 60cm, rộng 5-ÓCIĨ1, giữa dày, mép mỏng thành hình lượn sóng, Phần lá dẹt của nga chưởng thái dài rộng khoảng 15-30cm, dày 1,5-2mm, hai cánh xẻ như lông chim, thùy hình lưỡi dài, mép có răng cưa nhỏ (Hình 194).
B. Phân bố thu hái và chế biến
Cho đến nay vị côn bổ chưa thấy được khai thác ở nước ta. Ta vẫn thường nhập vị này của Trung Quốc. Theo những tài liệu của Trung Quốc thì côn bố là loại tảo mọc hoang dại chủ yếu ở nhũng vùng biển ở Liêu Ninh, Sơn Đông, Phúc Kiến. Theo những tài liệu cũ ở ven biển nước ta có thể có loài côn bồ’ Laminaria /ĩexicaulis nhưng chưa thấy nói đuợc khai thác.
Vào hai mùa hạ và thu người ta tổ chức vớt
TODO: thêm hình ảnh
Hình 194, Côn bổ■ Cyperus malaccensis
cồn bố ở biển, dưa lôn bờ rửa sạch bớt nước mặn và tạp chất rồi phơi khô là được.
VỊ thuốc cuộn khúc lại thành cuộn hoặc bó lại thành từng bó tùy theo loại tảo mà vị thuốc *có màu nâu xanh hay đen nâu, mạt ngoài thường phủ một ít tinh thể muối, mùi tanh, vị mặn.
Khi dùng người ta nhặt hết tạp chất, dùng nước rửa sạch, vớt ra để phơi hơi khô, đem cắt nhỏ chành sợi, rồi phơi khô hẳn để dùng.
Trước đây ở châu Âu, người ta lấy bộ phận nom như thân của côn bổ đem tiện thành từng thòi hình trụ như bút chì, rồi phơi khô tiệt trùng, đỏng trong những ống thủy tinh gắn kín dùng ưong khoa sản để nong tủ cung. Khi gặp nước, hút nước tãng thể tích tới 7-8 lẳn. Tại các hiệu thuốc tây trước đây có bán loại thuốc này với tên lamine (laminaire) dùng để nong rộng tử cung.
c. Thành phán hóa học
. Trong côn bô’ có tới 60% hydrat cacbon, trong hydrat cacbon thành phần chủ yếu là angìn, lactozan và pentozan. Ngoài ra còn chứa vita~
min, protit và một ít chất béo. Tro toàn phần 14% ưong đó có iot, kali, sắt, canxi.
Algin (do Stanfort tìm ra từ năm 1880) gổm chủ yếu là muối natri cùa axit anginic (CéHs06) . Axit anginic lại là một axit polymannuronìc gồm nhiều đơn vị axit D-manuronic dưới dạng pyranoza liên kết với nhau ở 1 -4.
D. Cồng dụng và liều dùng
Côn bô’ được dùng trong y học cổ truyền từ lâu đời. Trong những tài liệu cổ tính vị của côn bố như sau: Vị mặn, tính hàn hoạt, có tác dụng ỉàm mềm các chỗ cứng rắn, tích tụ (nhuyễn kiên), lới thủy, dùng chữa bệnh tràng nhạc, bướu cổ, thủy thũng, tích tụ (hòn cục), đau sưng dịch hoàn.
Hiện nay côn bổ cũng chỉ thấy được dùng trong y học cổ truyền chữa những bệnh mà y học khoa học xác định do thiếu iốt và những bệnh đã kể trên. Ngày dùng 4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Ngoài côn bố, như trôn đã nói tây y còn dùng trụ thân giả của côn bớ làm vật nong rộng tử cung. Nhưng hiện nay cũng ít dùng.
Tây y còn dùng bột côn bớ như một vị thuốc chứa iốt hữu cơ và như vị thạch làm thuốc nhuận tràng do tác động cơ học.
Trong công nghiệp côn bố dùng làm nguyên liệu chế angin và anginat và đỏi khi chế iốt.
Chú thích:
Lamìne dùng trong tây y lấy từ cây côn bố Laminarìa cìoustoniì Le Jolis, Laminarỉa dìgitata Lamouroux (L. ýlexicaulis Le Jolis) và Laminarìa saccharina Lamx, cùng thuộc họ Côn bổ Laminariaceae.
Bình luận