Tên khoa học Asarum siebũlíỉii Miq.
Thuộc họ Mộc thông Aristolochiaceae,
Tê tân {Herba Asarỉ sieboỉdì) là toàn cây phơi hay sấy khô của cây tế tân.
Tế là nhỏ, tân là cay vì vị thuốc có rể nhỏ, vị cay nên gọi là tế tân.
Ngoài cây tế tân nói trên (còn gọi là hoa tể tân) người ta còn dùng một cây khác với tên liêu tế tân (còn gọi là tế sâm) là toàn cây phơi hay sấy khô của cây liêu tế tân-Asarum heterotropoides F. Schum. var. mandshurỉcum (Maxim.) Kitag. cùng họ.
VỊ tế tân hiện còn phải nhập. Gần đây, ta có dùng một cây với tên tế tân nói là di thực của Trung Quốc, nhưng thực tế chưa đúng. VỊ sau này có lá mép khía tai bèo còn cây tế tân thật có lá mép nguyên.
A. Mó tả cây
Tế tân-Asarum sieboldii. Miq. là một loại cỏ nhỏ, cao chừng 12-24cm. Thân rễ dưới đất bò ngang, đẩu thân rể có phân nhánh. Rễ nhiều, nhỏ và dài vê ở tay có mùi thơm. Lá mọc từ rẻ, gồm 2-3 lá, có cuống dài 5-18cm, thường là nhẵn hay hơi có lông, trên có rãnh chạy dọc, phiến lá hình tim dài 4-9cm, rộng 6-12cm, đầu nhọn, phía đáy lá hình tim, mép nguyên, mặt dưới lá có nhiều lông mịn, dài. Hoa mọc đơn độc từ rễ lên, cuống dài 3-5cm. Bao hoa chỉ gồm 1 vòng màu nâu đỏ nhạt, phía trên chia thành 3 cánh hình trứng rộng dài 10mm, đầu nhọn. Quả gần hình cầu (Hình 446).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Tế tân hiện nay hoàn toàn phải nhập. Tại Trung Quốc, tế tân, có ở Liêu Ninh, Hà Nam, Sơn Đông, Thiểm Tây, Triết Giang, Phúc Kiến. Vị liêu tế tân
TODO: thêm hình ảnh
Hình 446. Tế tân - Asarum sieboỉdii
có ở Hắc Long Giang, Liêu Ninh. Theo Trung dược chi tập ỈU, liêu tê’ tân sản lượng nhìểu hơn, dùng trong nước và xuất khẩu, còn vị tế tần (hoa tế tân) sản lượng ít hơn, vậy tế tân ta nhập phần nhiểu là vị liêu tế tân tìerba Asarì heterotropoidis.
Vào tháng 5-6 đào toàn cầy phơi trong mát, không nên phơi nắng, phân biệt liêu tế tân và hoa tế tần người ta dựa vào chiều dài của thân rễ và kích thước của đốt thân rễ.
Liêu tế tân có thân rễ l-4cm, đốt dài 2-3mm, đẩu lá hơi nhọn, mặt trên và mặt dưới lá đều có lông.
Hoa tế tàn có thân rễ dài 3-8cm, đốt dài Imm, đầu lá nhọn, mật dưới lá chỉ có lồng ờ đường gân.
C. Thành phần hoá học
Trong tế lân có 2,75% tinh dầu, trong đó thành phẩn chủ yếu là pinen, metyl-eugenola một hợp chất phenola có độ chảy 11 CHI!, một hợp chất xeton, một lượng nhỏ axit hữu cơ, nhựa trong đó có chừng 0,2% chất trung tính với cồng thức C]0H9O3 và độ chảy 124°c (Theo Trung Quốc sinh lý học tạp chí , 9: 261, 1935).
Theo một tài liệu khác, trong tế tân có L. asarinin C2ũH|806 và chừng 3% tinh dầu, trong tinh dầu thành phần chủ yếu là metyl ugenola chừng 50%, ngoài ra còn một ít asarylxeton C1(1H|60 một chất pheriol, axit panmitic.
Trong một loài tế tân khác Asarum sieboldii Miq. var. seoulensis Nakai người ta thấy có 1- sesamin, 2,21% tinh dầu; trong tinh dầu thành phần chủ yếu là 47% metyleugenola axit panrnitic, saữola, I. pinen, eucacvon C1()H|40 và hợp chất có tính chất phenola C[0H|0O.
D. Tác dụng dược lý
Theo Lưu Mê Đạt Phu và Mộc Thôn Hùng Tứ Lang (1940, Hoà hớn dược dụng thực vật, 347-348) tinh dầu tế tân trên ếch, chuột và thỏ lúc đẩu gây hưng phấn, sau đó có hiện tượng mê, dần dần vân động hô hấp giảm, các phản xạ mất, cuối cùng chết do hô hấp tê liệt. Khi hô hấp đình chỉ, tim văn còn đập.
D. Công dụng và liều dùng
Tế tân là một vị thuốc kinh nghiệm trong nhân dân. Tính chất của tế tân ưong tài liệu cổ là vị cay, tính ôn, không độc, vào 4 kinh tâm, phế, can và thận. Có tác dụng tán phong hàn, hành thuỷ khí, thông khiếu. Dùng trong những trường hợp phong hàn, phong thấp, đầu nhức, ho khí đưa nguợc lên, đau răng, ngạt mũi, bí mồ hôi, ứ huyết. Cũng theo sách cổ, phàm khí hư mà không ra mồ hôi, huyết hư sinh nhức đầu, âm hư mà ho thì không dùng được.
Ngày dùng l-4g.
Đơn thuốc có tế tân đùng trong đông y
Đau răng: Tế tân, thạch cao hai vị bẳng nhau, mỗi vị lOg, ngâm vào lOOml rượu trong nửa ngày. Dùng rượu này ngậm: Khi mỏi miệng thì nhổ đi.
Chữa cảm lạnh: Tế tân 2g, bán hạ 2g, phục linh 2g, cát cánh 2g, quế chi 2g, cam thảo lg, nước 200ml sắc còn lOOml chia 3 lần uống trong ngày.
Lở mồm, lở lưỡi: Tế tân, hoàng liên 2 vị bằng nhau tán nhỏ bôi vào miệng, lưỡi, ngậm cho chảy dãi ra là khỏi.
Hôi miệng: Ngậm tế tân.
Chú thích:
Ngoài hai cây tế tân kể ưên, đông y còn dùng một sổ cây Asarum khác cũng gọi là tế tân hay thổ tế tân.
Còn gọi là cây cuồng, rau gai (Thái nguyên), độc lực (Hà tây), cẩm giảng (Bình gia, Lạng Sơn).
Tẻn khoa học Aralia armaia (Wall.) Seem (Panax armatum Wall.)
Thuộc họ Ngũ gia bì Araliaceae.
A. Mô tả cày
Cây nhỏ rất nhiều cành. Thân hơi gẩy không có lồng, trên có những gai cong quặp xuống. Lá to, kép 2-3 lần lông chim, có 9-11 lá chét, có cuống, phiến lá chét hình trứng, nhọn ở đầu, phía cuống hoi tròn, mép có răng cưa, trên những đường gân có những gai nhỏ. Cụm hoa hình chùy tán, nhiều gai, gổm nhiều hoa nhỏ màu trắng vàng nhạt hay xanh vàng nhạt. Nhi 5. Bầu hình trúhg 5 ngăn, 5 vòi tự đo. Quả màu đen nhạt dài 3-4mm (Hình 447). .
B. Phân bố, thu hái và chế biên
Mọc hoang tại nhiều nơi trong nước ta chủ yếu tại những tỉnh miền núi Hà Tây, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá.
Thường đào lấy rễ rửa sạch đất cát phơi hay sấy khô mà dùng. Không phải chế biến gì đặc biệt.
C. Thành phần hoá học
Sơ bộ thấy có saponin tritecpenic. Phần genin đã được xác định là axit oleanic (P. K. Mãn-Hà Nội, 1976). Hoạt chất khác chưa rõ.
D. Còng dụng và liều dùng
Trong nhân dân thường dùng rễ sắc uống và
Bình luận