Còn gọi là long duyên, long phúc hương, long tiết, Ambre gris.

Tên khoa học Ambra grisea.

Long duyên hương có nghĩa là nước dãi của con rồng (long là rồng, duyên hay diên là nước dãi, hương là có mùi thơm). Sự thực thì không phải là dãi con rồng mà chỉ là một chất đặc, sản phẩm tiêu hóa ở trong ruột của một loại cá ông (cá voi) Physeter macrocephalus L (P. catodon L.) thuộc họ Cá voi Physeteridae.

Chất này do cá bài tiết ra nổi trên mặt biển, trôi dạt vào bờ biển, nguời ta nhặt về dùng làm thuốc và chế nước hoa hoặc hương liệu.

A. Tính chất của long duyên hương

Loại cá ông này có đầu rất to, chiều dài của đầu chiếm tới một phần tư của toàn thân, phía đầu hơi hình vuông, hàm trên to, không có răng, hàm dưới nhỏ có răng, lưng nhỏ; lỗ phun nước ở phía đầu, khi phun nước không phun thẳng góc mà hơi nghiêng 45°, về phía trước, lưng màu tro đen hơi hồng, về phía bụng màu nhạt hơn. Con đực dài 15-20m, con cái chỉ dài 7-8m. Loại cá voi này thường sống từ vĩ tuyến 40 bắc đến vĩ tuyến 40 nam ở Thái Bình Dương, tại những đảo vùng Inđônêxia hay gần ven biển Thái Bình Dương. Những con cá này nhả chất này ra ngoài, nổi lên mặt biển hoặc trôi dạt vào bờ, những người đi biển nhặt về phơi khô để dành. Khi mới lấy về chưa có mùi thơm. Phải để trong lọ đậy kín, sau 1-2 năm mùi thơm mới xuất hiện (Hình 732).

[]

Long duyên hương là những cục trong mờ, to nhỏ không đều, có cục nặng tới 5-6kg, có người nói có thể nặng hàng tạ. Màu trắng, hoặc màu tro, có khi màu hơi đỏ nhưng cũng có khi màu đen xám, nổi lên mặt nước, nếm hơi ngọt, hơi chua, khi đun nóng chảy mềm như sáp, tan quá nửa trong cồn nóng, khi đốt có mùi thơm dễ chịu.

B. Thành phần hóa học

Trong long duyên hương có chừng 25% chất ambrein là một dẫn xuất của cholesterol, axit benzoic v.v…

C. Công dụng và liều dùng

Long duyên hương là một chất dùng làm thuốc và là một nguyên liệu quý trong kỹ nghệ hương liệu vì long duyên hương là một chất định mùi thơm cao cấp.

Đông y coi long duyên hương lợi khí, hoạt huyết làm giảm đau, sát trùng giống như xạ hương nhưng tác dụng có hơi kém hơn. Dùng trong những trường hợp ho, hen suyễn đau trong tim, trong bụng.

Ngày dùng 0,30 đến 1,5g.

Chú thích:

Ngoài vị long duyên hương, trong đông y, tây y còn dùng một vị có hình thức gần giống gọi là hổ phách (Amber).

HỔ PHÁCH 琥珀

Còn gọi là huyết hổ phách, hắc hổ phách hồng tùng chi, huyết phách, minh phách.

Tên khoa học Amber, Fossil resin, Succinum, Succinum ex carbone.

Hổ phách là một vị thuốc ít dùng. Trước đây cả đông y và tây y đều hay dùng, nhưng hiện nay tây y gần như không dùng nữa, trái lại đông y còn có khi dùng.

A. Nguồn gốc của vị thuốc

Người ta cho rằng hổ phách là nhựa của một loài thông cổ hiện nay đã mất giống gọi là Pityoxylon succinifer Krauss. Có thể do một số loài khác nữa. Những cây thông này mọc thành rừng ở bờ biển châu Âu, châu Mỹ (Nam Mỹ). Những rừng thông này hiện bị vùi dưới biển, dưới đất trong những mỏ than.

Muốn có hổ phách người ta đào những mỏ than có hổ phách hoặc có khi người ta nhặt được ở bờ biển do bão táp phong ba ngoài biển đã đào những cục hổ phách chìm sâu dưới đáy biển lên, hất vào bờ, hoặc có khi phải lặn xuống biển sâu để mò.

B. Tính chất

Hổ phách là những cục to nhỏ không đều, màu vàng hay vàng đỏ, thường ngoài cùng phủ một lớp mờ, rất cứng rắn, khi vỡ vết vỡ tròn nhẵn, mờ hay trong mờ, không có vị gì, khi xát cục hổ phách vào vải hay miếng len cho nóng lên thì hổ phách sinh ra điện (hiện tượng này được Thalês tìm ra từ 600 năm trước công nguyên) đun nóng hổ phách tỏa ra một mùi thơm dễ chịu. Cục hổ phách có thể nặng tới 10kg. Không tan trong nước, tan một phần trong cồn, ête và clorofoc.

C. Thành phần hóa học

Trong hổ phách có rất ít tinh dầu. Khi cất khô, người ta sẽ đươc axit sucxinic (có loại hổ phách có ít, có loại có nhiều do đó có thể dựa vào tỉ lệ axit sucinic này mà phân biệt hổ phách này với hổ phách khác).

Ngoài ra thành phần chủ yếu của hổ phách là 3 chất nhựa: α, β và γ.

Nhựa γ còn gọi là sucxin (succin) không tan trong cồn và chiếm 70% trọng lượng của hổ phách. Sucxin chứa sucxino-resin, không xà phòng hóa được và phần xà phòng hóa được thành axit sucxinic và sucxinoresinola.

Trong phần tan trong cồn, người ta lấy được axit sucoxyabietic và axit sucxinoabietolic. Axit sucxinoabietolic là một ete axit, khi xà phòng hóa sẽ cho axit sucxinoxynvic, sucxinoabietola và bocneola.

D. Công dụng và liều dùng

Trước kia trong tây y có dùng hổ phách để làm thuốc chống co thắt dùng duới hình thức thuốc xông, cồn thuốc v.v… hiện nay chỉ còn dùng làm một số vật trang sức.

Đông y coi hổ phách có vị ngọt (cam), tính bình, vào 4 kinh tâm, can, phế và bàng quang, có tác dụng an thần, định kinh, lợi tiểu tiện, tán ứ huyết. Dùng trong những trường hợp tâm thần bất định, hồi hộp mất ngủ, ngủ hay mê sợ, tiểu tiện ra huyết, chữa mụn nhọt lâu lành.

Ngày dùng 1 đến 3g.

Trong sách cổ đông y cho rằng hổ phách hay làm hao mòn chân khí cho nên chỉ những người hỏa suy, thủy thịnh nên dùng còn những người hỏa thịnh thủy suy không nên dùng.

MIẾT GIÁP 鱉甲

Còn gọi là mai con ba ba, thủy ngư xác, giáp ngư, miết xác.

Tên khoa học Carapax Amydae.

A. Nguồn gốc và chế biến

Người ta dùng mai con ba ba hay miết giáp làm thuốc. Ba ba ở Việt Nam gồm nhiều loài khác nhau. Nhưng phổ biến nhất là con ba ba Trionyx sinensis Wegmann hay Amyda sinenis Stejneger thuộc họ Ba ba Trionychidae.

Con này rất phổ biến ở miền Bắc cũng như miền Trung, nó sống ở hồ ao, các sông, ở tất cả độ cao khác nhau. Có con nhỏ, nhưng có thể rất lớn. Nó sống bằng ăn những con cá, động vật nhuyễn thể như ốc, nó ăn cả cua, tôm, v.v… và cây cỏ. Nó rất dữ và cắn rất đau (Hình 733).

[]

[] []

TODO: thêm hình ảnh

Hình 733. Con ba ba - Trionyx sinensis

Loại ba ba này còn thấy cả ở Hải Nam (Trung Quốc), miền Đông Xibêri.

Vào các tháng 3-9 người ta bắt ba ba, nhưng vào các tháng 5-7 sản lượng cao nhất. Dùng dao cất đầu phơi khô dùng làm thuốc với tên miết đầu Caput Amydae. Sau đó cho cả con ba ba vào nồi nước sôi, đun trong 1 -2 giờ, lấy mai riêng ra, cạo sạch thịt phơi khô là được. Nếu giết ba ba còn đang sống, lấy mai mà không phải đun sôi lại càng tốt. Nhưng ba ba nấu ăn rồi thì không dùng làm thuốc nữa.

B. Thành phần hóa học

Trong miết giáp người ta đã phân tích thấy có chất keratin, iôt và vitamin D (theo Dược tài học-Viện dược học Nam Kinh).

C. Công dụng và liều dùng

Miết giáp là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi nhân dân. Người ta dùng nó dưới dạng thuốc sắc hay nấu thành cao mà ăn.

Muốn nấu cao miết giáp người ta ngâm miết giáp với tro bếp và nước trong một đêm, lấy ra tẩy rượu, đập nhỏ nấu với nước, lọc bỏ bã, cô đặc thành cao mà dùng gọi là cao miết giáp (miết giáp giao).

Tính chất miết giáp theo tài liệu cổ là vị mặn tính hàn, vào 3 kinh can, phế và tỳ, không độc, có tác dụng duỡng âm, nhuận kiên tán kết. Dùng trong những trường hợp cần bổ âm, lao gầy, nhức xương, lao lực quá độ, ho lao, tiểu tiện ra sỏi sạn, kinh nguyệt bế, bổ dưỡng nói chung. Những người hư mà không nhiệt, tỳ hư mà ỉa chảy, phụ nữ có thai không dùng được.

Miết giáp dùng với liều 30g trong 1 ngày dưới dạng thuốc sắc hay sao khô dòn tán thành bột mà uống.

Cao miết giáp cũng dùng với liều 10 đến 30g 1 ngày.

Đơn thuốc có miết giáp

Chữa đau lưng, ngứa, cúi xuống không được:

Miết giáp sao vàng hay nướng chín tán nhỏ, ngày uống 2 lần mỗi lần 5g.

Đơn thuốc này còn dùng chữa bệnh đi tiểu như có sỏi ở thận.

Chữa hen:

Máu ba ba cho vào rượu mà uống.

NHÂN TRUNG BẠCH 人中白

Còn gọi là nhân niêu bạch, thiên niên băng, vạn niên sương, thu bạch sương, niệu bạch đảm, đạm thu thạch.

Tên khoa học Calamitas Urinae hominis.

Nhân trung bạch là cặn của nước tiểu của người để lâu trong chậu, nước bốc hơi đi còn lại cặn đọng thành bánh, đòn và khai. Cặn này càng phơi nắng lâu càng tốt. Khi dùng lại còn phải nung cho kỹ nữa.

A. Thành phần hóa học

Thành phần chủ yếu của nhân trung bạch là canxi phot phát, canxi urat, canxi clorua và các thành phần khác trong nước tiểu.

B. Công dụng và liều dùng

Nhân trung bạch thấy dùng trong đông y. Theo tài liệu cổ, nhân trung bạch có vị mặn, tính bình, không độc, vào 3 kinh can, tam tiêu và bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, khử ứ, cầm máu. Thường dùng làm thuốc tả hỏa, thanh nhiệt, dùng trong những bệnh cổ họng sưng đau, chảy máu cam, thiên đầu thống, cam tẩu mã, lở mồm, lưỡi, do sốt lâu mà gầy còm, còn dùng làm thuốc bổ, thuốc ho.

Ngày dùng 4 đến 8g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.

Đơn thuốc có nhân trung bạch dùng trong đông y

  1. Lở mồm và lưỡi:

Nhân trung bạch 7 phần, khô phàn (phèn chua phi) 3 phần, hai thứ tán nhỏ bôi vào chỗ lở loét, hễ thấy chảy dãi thì lau đi, bôi vài lần sẽ thấy tác dụng.

  1. Chữa nha cam tẩu mã:

Nhân trung bạch 4 g, nung đỏ, lục phàn 1g, xạ hương 0,30g, cả ba vị tán nhỏ, trộn đều bôi vào nơi cam tẩu mã đã rửa sạch bằng nước muối.

  1. Chân bị rỗ, có lỗ sâu, đau buốt:

Nhân trung bạch nung kỹ, tán nhỏ rắc vào.

  1. Thổ huyết:

Uống 4g nhân trung bạch. Chiêu với nước.

Chú thích:

Tên nhân trung bạch có ý nói là chất từ trong con người mà ra lại có màu trắng (nhân là người, trung là trong, bạch là trắng) khác với nhân trung hoàng là cam thảo chế (xem vị cam thảo).

NHỆN 蜘蛛

Còn gọi là trứng nhện, bích tiền, bích tâm trùng, bích hỷ oa.

Tên khoa học Gossamer Urocteae.

Người ta dùng trứng hay toàn con nhện ôm trứng - Uroctea compactilis Koch, thuộc họ Nhện Urocteidae.

Quanh năm có thể bắt loại nhện này, thường thấy ở trên vách, ôm bọc trứng màu trắng hình đồng liền.

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 734. Nhện - Uroctea compactilis

Công dụng và liều dùng

Chỉ thấy dùng trong phạm vị nhân dân. Thường dùng ngoài, nhưng có khi dùng uống.

Theo đông y, trứng nhện hay con nhện tính mát, không độc, thường dùng chữa chảy máu không ngừng, mụn nhọt, viêm cổ họng, đái dầm, mồ hôi trộm.

Dùng ngoài, người ta bắt con nhện còn sống ngắt bỏ chân, ấn lên mụn nhọt chưa vỡ mủ như đinh râu, rất chóng khỏi.

Dùng trứng nhện hay con nhện sao vàng hay nướng vàng tán bột mà dùng. Có thể dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác như ngà hay răng voi, ngưu hoàng, thanh đại, băng phiến. Ngày dùng 1 đến 2 con hay 1-2 bọc trứng nhện.

Cần chú ý nghiên cứu.

NGŨ LINH CHI 五靈脂

Còn gọi là thảo linh chi, ngũ linh tử, hàn trước phần, hàn hiệu trùng phẩn, hàn hiệu điểu.

Tên khoa học Faeces Trogopterum.

A. Nguồn gốc

Trước hết cần chú ý là vị ngũ linh chi cho đến nay ta vẫn còn phải nhập của Trung Quốc. Mà ngay tại Trung Quốc, nguồn gốc vị ngũ linh chi hiện cũng chưa xác định chắc chắn. Nhiều tài liệu cho rằng ngũ linh chi là phân một loại dơi Pteropus pselaphon Lay hoặc Pteropus dasymallus Temminck đều thuộc họ Dơi Pteropodidae. Có tài liệu lại xác định là phân của loài dơi Megachiroptera cùng họ.

Tuy nhiên, gần đây có tác giả đã nghiên cứu vị ngũ linh chi thấy trong ngũ linh chi không có những thức ăn thường gặp của các loài dơi, đã xác định ngũ linh chi là phân của một loài sóc bay chưa thấy ở nước ta Trogopterus xanthipes Milne-Edwrds thuộc họ Sóc bay Petauristidae.

Vào các tháng 10-12 người ta vào núi tìm những hang sẵn có ngũ linh chi lấy về, loại bỏ tạp chất phơi khô. Căn cứ hình dáng không giống nhau, người ta chia ra làm ngũ linh chi khối (hay đường ngũ linh chi) và tán ngũ linh chi (ngũ linh chi vụn). Trước khi dùng còn phải sao lên.

B. Thành phần hóa học

Trong ngũ linh chi có chất nhựa, urê và axit uric.

C. Công dụng và liều dùng

Ngũ linh chi hiện nay còn là một vị thuốc dùng trong nhân dân.

Trong các tài liệu cổ, người ta cho ngũ linh chi có vị ngọt, tính ôn, vào kinh can. Có tác dụng thông lợi huyết mạch, hành ứ hết đau. Dùng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, đẻ xong huyết xấu ra không hết sinh đau bụng, ngực đau, trẻ con bị cam; dùng ngoài chữa rắn, rết cắn.

Ngày uống 6-12g dưới hình thức thuốc sắc hay thuốc viên.

Đơn thuốc có ngũ linh chi

  1. Chữa tử cung xuất huyết, đau bụng khi thấy kinh:

Ngũ linh chi 10g, bồ hoàng 10g. Cả hai vị sao vàng, tán nhỏ. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 2-3g.

  1. Đơn thuốc chữa rắn cắn: Xem vị rắn.

RẮN 蛇

Rắn dùng làm thuốc gồm nhiều loài, thường là những loài rắn độc. Người ta hay dùng 3 loài rắn độc mang tên rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn cạp nia. Nhưng những tên đó nhiều khi lại được dùng để chỉ nhiều loài rắn khác nhau. Ta cần chú ý phân biệt.

Rắn lại cung cấp cho ta nhiều bộ phận làm thuốc: thịt rắn, xác lột (xà thoái) và nọc độc.

Tây y thường chỉ dùng nọc rắn, đông y lại thường chỉ dùng thịt, mật và xác rắn lột.

A. Mô tả rắn

Những con rắn hay dùng nhất ở Việt Nam gồm những loài sau đây:

  1. Rắn hổ mang. Tên hổ mang còn gọi là hổ lửa, hổ phì, con phì, hổ đất, rắn mang kính (serpent à lunette). Có hai chi rắn khác nhau ở nước ta mang tên hổ mang là chi Naja (còn có khi viết Naia) và chi Agkistrodon (Ancistrodons).

Chỉ hổ mang Naja (naia hay cobra) có hai loại chủ yếu:

a. Naja-naja L. Miền nam thường gọi là hổ đất, miền Bắc gọi là hổ mang, hổ trâu. Thuộc họ Elapidae (họ rắn hổ). Pháp vẫn gọi rắn này là cobra hay serpent à lunette (rắn mang kính, nhãn kính xà). Rắn này rất hay gặp ở Việt Nam cả miền núi lẫn đồng bằng. Thân có thể dài tới 2m. Nó bơi giỏi nhưng không sống dưới nước. Màu sắc thay đổi nhưng thường màu nâu đen, đều một màu. Khi nào nó tức giận thì đầu cất cao, thân phía trên đứng thẳng lên, cổ bạnh ra, (mang bạnh ra) phun phì phì (do nó có tên con phì, hổ phì). Trên cổ có một điểm trắng to hình mặt trăng (ở những con còn non nom rất rõ, ở những con già ít rõ). Tại Ấn Độ và một số ít nơi ở nước ta có loại rắn trên cổ có hai điểm trắng này gần nhau giống nhau như 2 mắt kính, do đó có tên là rắn đeo kính. Phía dưới đầu và cổ có màu trắng phân cách với màu sẫm toàn thân bằng một vạch đen và một vạch màu nhạt hơn. Quanh cổ có 21 đến 35 hàng vẩy, giữa thân có 17 đến 25 hàng vẩy. Rắn hổ mang là một loại rắn hay tức giận, tự vệ rất hăng khi người ta tấn công nó, nhưng thường nó hay trốn đi nếu không bị trêu tức. Nó hoạt động cả ngày và đêm, nhưng chủ yếu về đêm (Hình 735).

[]

[] [] []

TODO: thêm hình ảnh

Hình 735. Hổ mang Naja-naja

b. Naja hannah Cantor còn gọi là đại nhãn kính xà-rắn hổ mang chùa (cobra royal). Con này lại nguy hiểm hơn con trên, sống ở khắp nước ta, miền núi cũng như miền đồng bằng, thân có thể dài tới 4-5m, trung bình 3,4m. Thường ban ngày nó ẩn trong hốc cây và chỉ hoạt động ban đêm thôi cho nên chỉ khi phá hoang mới hay bị nó cắn. Nước ngoài người ta gọi nó là King cobra, Naja bungare-hamadryas hay Ophiophage. Cổ nó bạnh ít hơn con trên, cổ không có điểm trắng, con lớn có màu sẫm đều, con non có nhiều vạch ngang hẹp và sáng hơn. Số vẩy quanh cổ là 17 đến 21, giữa thân là 15 (Hình 736).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 736. Hổ mang chúa - Naja hannah

Chú ý có một số loài rắn cổ cũng bạnh ra mà không thuộc loại Naja-naja này. Loài Naja-naja không thấy nói được dùng ở Trung Quốc.

Chi hổ mang Agkistrodon (Ancistrodons) cũng gồm hai loài phổ biến:

a. Rắn hổ mang Agkistrodon rhodostoma Boié (còn gọi là Calloselasma) thuộc họ Crotalinae. Con này thường gặp ở miền Nam. Thân thường chỉ dài tới 0,80m, đầu hình ba cạnh, mõm nhọn và nhiều khi vênh lên trên, vẩy trên lưng màu đỏ nhạt, xám nhạt hay nâu nhạt với những đốm ba cạnh rộng, màu nâu sẫm, viền trắng xếp thành từng đôi đối nhau hay so le.

b. Rắn hổ mang Agkistrodon acutus Gunther, được dùng ở Trung Quốc với tên bạch hoa xà, ngũ bộ xà, bách bộ xà hay hỳ bàn xà. Loại hổ mang này có thể dài tới 1,80m đầu mỏ dài ra và vênh lên làm cho nó có dáng rất đáng sợ (Hình 737).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 737. Hổ mang chúa - Ancistrodon acutus

Loài rắn này phổ biến ở miền nam Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông). Tại Việt Nam, trước đâv chỉ mới phát hiện có rất ít ở Sapa (Lào Cai).

  1. Rắn cạp nong (tên gọi ở miền Bắc) còn gọi là rắn mai gầm (tên gọi ở miền nam). Tên khoa học của nó là Bungarus fasciatus Schneider họ Elapidae. Tên Việt Nam còn thay đổi tùy nơi. Có nơi gọi là rắn mai gầm vàng, rắn đen vàng, rắn vòng vàng. Trung Quốc cũng dùng giống này nhưng loài khác (xem con cạp nía giới thiệu sau). Rắn cạp nong thường sống ở cả đồng bằng cũng như miền núi; dài chừng 1,70m đến 2m. Con rắn này rất đặc biệt ở chỗ thân nó hơi hình ba cạnh, gồm những khoanh đen và vàng vòng quanh cả bụng, số khoanh thường từ 24 đến 27 (do đó có tên Pháp là Bungare annelé- rắn có khoanh), chiều dài của khoanh đen gần bằng chiều dài của khoanh vàng, khác với những loài rắn khác có khoanh trắng hẹp hơn khoanh đen, vả lại màu sắc không có màu vàng rõ rệt như loại rắn này. Xương sống lưng sắc cạnh, vẩy trên lưng hình lục giác to. Cạp nong sống bằng ếch nhái, thạch sùng, chuột, có khi ăn thịt cả rắn khác, đôi khi ăn cả cá. Đuôi tù, tận cùng bằng một vẩy cứng, có người cho là đuôi có kim có thể đâm được, thực tế không phải (Hình 738).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 738. Cạp nong - Bungarus fasciatus

  1. Rắn cạp nia (tiếng miền Bắc) hay rắn mai gầm bạc (miền Nam) còn gọi là rắn đen trắng, rắn hổ khoang, rắn vòng bạc. Tên khoa học của nó là Bungarus candidus L. thuộc họ Elapidae. Loài rắn này thườns ngắn hơn loài cạp nong. Chiều dài tối đa thường vào khoảng 1,35m, thường chỉ trong vòng 1m. Màu rắn đen xanh hay nâu sẫm có những khoanh màu trắng hay trắng vàng: khoanh màu trắng hẹp hơn khoanh đen, những khoanh đen không vòng qua bụng như ở rắn cạp nong. Thường chiều rộng một khoanh trắng không quá chiều rộng của một vẩy trên lưng. Có tác giả như Boulenger đã chia loại cạp nia thành 3 loại khác nhau căn cứ vào số khoanh trắng. Ví dụ: Bugarus candidus có từ 27 đến 34 khoanh trắng; Bungarus multicinctus có từ 42 đến 60 khoang trắng; Bungarus caeruleus có rất nhiều đường trắng hay điểm trắng.

Nhưng có tác giả lại chia loại cạp nia thành hai thứ khác nhau như:

Bungarus candidus multicinctus Blyth có nhiều ở miền Bắc và Bungarus candidus caeleus. Thường sự phân chia nhỏ này dựa trên chiều rộng của dải hay khoanh trắng. Nếu số dải màu trắng hay vàng là 42-60, lại không rộng quá chiều dài một vẩy thì thuộc thứ multicinctus, nếu màu rắn là nâu sẫm hoặc đen xanh, với những dải màu trắng hẹp thường hẹp hơn chiều dài một vẩy thì thuộc thứ caeruleus.

Rắn cạp nia Bungarus multicinetus cũng được dùng ở Trung Quốc với tên mao cân xà, kim tiền bạch hoa xà, bách tiết xà, bạch cúc xà, ngân cực ứng v.v…

Tóm lại, ta có thể sơ bộ phân biệt mấy con rắn độc dùng làm thuốc hay gặp ở nước ta như sau:

  1. Rắn hổ mang naja naja: Thân dài 2m hay hơn, khi gặp người thường ngẩng đầu và cổ lên, cổ bạnh ra, lưng không có vẩy to, trên cổ có một điểm trắng gọi là mặt trăng hay hai điểm to trông như hai mắt kính. Nước ngoài gọi là cobra. Loại hổ mang chúa (Cobraroyal) có thể dài tới 3,5m hay hơn.

  2. Rắn cạp nong Bungarus fasciatus (Bungarus- anneté) có thân dài 1,7-2m, thân có 24 hoặc 27 khoanh màu đen và vàng xen kẽ, khoanh vòng cả qua bụng, sống lưng sắc cạnh, vẩy lưng hình 6 cạnh to.

Rắn cạp nia Bungarus candidus thường chỉ dài khoảng 1m, có khi tới 1,3m, khoanh đen to, khoanh trắng hẹp bằng một vẩy lưng đuôi nhỏ dài. Bụng trắng vì khoanh đen không vòng qua bụng như con cạp nong. Số khoanh thay đổi, càng lớn số khoanh càng tăng.

Ngoài ra, ta còn dùng nhiều loài rắn khác nữa như rắn ráo hay hổ chuối (Zamenis mu- cosus L.), con này không độc, một loài gần giống rắn hổ mang nói trên là Zaocys dhumnades Cantor thuộc họ Colubridae. Con Zaooys dhumnades cũng thấy được dùng ở Trung Quốc với tên ô hoa xà, hắc hoa xà, hoàng phong xà, ô tiêu xà, thanh xà v.v…

Chúng ta cần đi sâu để xác định những con rắn hay dùng làm thuốc và những con rắn không dùng làm thuốc. Hiện nay chúng ta thường khoán trắng cho những người bán rắn không chú ý phân biệt từng loài với nhau.

B. Phân bố, cách bắt rắn và chế biến

Những con rắn dùng làm thuốc được phân bổ rộng rãi ở miền Bắc và miền Nam. Đồng bằng hay rừng núi đều có. Ngoài việc bắt giết để tự vệ khi chúng ta trông thấy nó, có nhiều người chuyên làm nghề bắt rắn để bán dùng trong nước hoặc xuất khẩu. Gần Hà Nội có làng Lệ Mật (Gia Lâm) chuyên nghề bắt rắn và có thời gian được tổ chức thành nơi chuyên nuôi rắn để xuất khẩu. Nhưng được ít lâu, việc nuôi đã bị bãi bỏ. Tại vùng Hồng Quảng cũng có những làng chuyên nghề bắt rắn.

Tại miền Bắc người ta thường đi bắt rắn cạp nong ở các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ những nơi có cánh đồng chiêm có nhiều nước. Người ta nhận thấy rắn cạp nong ăn ếch nhái, lươn, rắn nước, chuột, có khi ăn lẫn nhau, con lớn ăn con nhỏ do đó nuôi rắn khó tránh chúng nó ăn lẫn nhau. Rắn cạp nong ở hang ẩm, có đất dẻo, không ở hang khô ráo, thường hai, ba ngày mới ra khỏi hang vào những ngày ấm trời.

Rắn hổ mang thường bắt nhiều ở dọc sông Hồng Hà, bãi Trung Hà, Tứ Tổng, tại những đống gạch, bụi tre, bờ đê; còn hay tìm thấy ở ven bờ sông Phả Lại (Hà Bắc), dọc sông Hát Mông (Hà Tây). Thường hổ mang ở những hang cao ráo sạch sẽ.

Những người chuyên môn bắt rắn thường theo đường đi lại của rắn mà tìm hang. Có khi tìm nó ở những hang chuột, hang mối, hang ếch. Ngoài ra rắn còn hay tìm những ổ gà vịt ấp trứng để ăn. Người ta còn dựa vào phân rắn mà phân biệt rắn nọ với rắn kia. Ví dụ người ta cho rằng phân hổ mang màu vàng, đen, có bột đặc hơn phân cạp nong; phân cạp nong cũng màu vàng đen nhưng loang, mùi rất khắm; phân cạp nia thành cục màu đen trắng vàng. Rắn hổ mang vốn ở sạch, nên thường ỉa ở xa miệng hang tới vài thước; còn rắn cạp nong ỉa ngay gần miệng hang; rắn cạp nia ỉa ngay miệng hang.

Có khi người ta còn dựa trên xác rắn lột để theo dõi. Ví dụ thấy xác rắn lột còn ướt là mới lột, khô rách là đã lột lâu ngày. Xác rắn chui vào trong hang là rắn đã đi rồi, nhưng nếu xác có phía đuôi chui vào trong hang là rắn ở trong hang. Những nhận xét này chưa chính xác lắm. Cần kiểm tra lại.

Trong hang rắn hễ thấy vết bò nhẵn, cứt mới là rắn có trong hang. Lấy thuổng đào một quãng, rồi dùng thuổng thọc vào lấy một ít đất ra xem, thấy đất nhẵn là chắc chắn có rắn, cứ tiếp tục đào mà bắt rắn. Ngược lại nếu thấy đất trong hang không nhẵn, khô mốc là rắn đã đi rồi.

Rắn bắt về thường bán sống hoặc mổ lấy mật bán, thịt xương dùng ngâm rượu hay ăn như ăn thịt nhiều động vật khác. Từ 1974 đến nay ta mới đang đặt lại vấn đề nuôi rắn để lấy nọc độc mà xuất hay chế thuốc.

Muốn chế rượu rắn có nhiều cách. Nhưng thường hay làm như sau:

Rắn bắt về, chọn và chia thành bộ từng 3 con hay 5 con một. Nếu 3 con thì là rắn hổ mang, cạp nong, rắn ráo. Nếu 5 con thì chọn hổ mang, cạp nong, rắn ráo, hổ trâu, rắn ba chỉ, hay có khi 3 con hổ mang và cạp nong với 2 con rắn ráo.

Lột da để riêng, thuộc làm ví, thắt lưng hay đóng giày. Sau đó mổ bỏ ruột, chặt đầu, lau khô bằng giấy bản (không rửa nước vì sợ mùi tanh), hoặc rửa bằng rượu có ngâm gừng hay quế chi rồi mới lấy giấy bản lau khô. Sau đó chặt thành từng khúc nướng hay sấy cho khô. Tán bột mà dùng hay ngâm rượu mà uống. Có người chặt bỏ cả đuôi vì cho rằng đuôi cũng có nọc độc (sự thực không phải). Có người lại không lột da, không chặt đầu. Nói tóm lại lột da, hay không lột, chặt đầu hay không đều được cả.

Mật rắn là một vị thuốc quý, cần thu lấy mà dùng. Những người bán rắn cho biết giá trị của mật là hai thì giá trị thịt rắn chỉ có một. Mật rắn không có vị đắng như nhiều thứ mật động vật khác.

Có khi người ta nuôi rắn rồi mổ lấy mật, chỗ mổ vẫn lành lại, rắn vẫn sống như thường nhưng ăn lâu tiêu hơn; nếu mổ cắt chừa lại cuống mật dài thì sau sẽ có nhiều tia mật nhưng không thành túi mật như cũ nữa.

Lấy nọc rắn. Công việc lấy nọc chỉ mới tiến hành ít năm gần đây ở nước ta. Tại nhiều nước khác người ta đã tiến hành lấy nọc rắn từ lâu cùng với việc tổ chức nuôi rắn. Trên thế giới hiện đã có tới hơn 20 nước tổ chức nuôi rắn. Những nước có trại nuôi rắn lớn nhất là Braxin và Liên Xô cũ (mỗi nơi đủ hang nuôi hàng vạn con); ngay sát nước ta có Thái Lan từ lâu cũng đã tổ chức trại nuôi rắn lấy nọc.Ở những nước này hầu như người ta không mổ rắn lấy thịt làm thuốc như nước ta. Cho nên ở nước ta vốn chỉ dùng thịt rắn thì việc tổ chức nuôi rắn lại cấp bách nếu muốn bảo đảm nguồn nguyên liệu chế thuốc lâu dài. Nuôi rắn mà chỉ để lấy thịt làm thuốc thì không kinh tế vì từ khi con rắn nở ra cho đến khi trưởng thành đủ tiêu chuẩn chế thuốc, tối thiểu cũng phải trên 3 năm, chi phí vào nuôi cũng phải kể tới 20-30đ một con, trong khi đó giá thu mua rắn hoang dại hiện nay chỉ từ 15đ đến 25đ một bộ ba con; 1 hổ mang, 1 cạp nong và 1 rắn ráo. Nếu tiến hành lấy nọc, thì mỗi con rắn hổ mang 1 lần lấy nọc có thể cho từ 30 đến 100mg nọc khô trị giá 25 đến 80 rúp (giá hối đoái 1 rúp đổi 5,6đ Việt Nam) nọc rắn khô trị giá 800 rúp (thời giá năm 1960). Nếu chưa mổ ngay mà nuôi thêm một tháng nữa thì con rắn lại có thể cho ta thêm một lượng nọc như vậy nữa, một năm có thể lấy nọc 6-10 lần.

Cách lấy nọc đơn giản nhất là để con rắn cắn vào miệng một đĩa petri. Lấy tay xoa và bóp nhẹ vào hai tuyến nọc ở sau tai, nọc sẽ chảy vào đĩa. Chú ý đừng bóp mạnh quá, nọc chảy ra sẽ lẫn dãi và máu làm giảm chất lượng nọc thu được. Nọc lúc mới chảy ra lỏng và hơi sánh, màu hơi vàng nhạt. Có thể làm đông khô hay làm khô trong bình làm khô có chứa silicagen. Nọc khô có thể bảo quản hàng chục năm vẫn còn hoạt tính. Nọc này được dùng làm thuốc hay xuất khẩu. Phải bảo quản theo chế độ thuốc rất độc vì chỉ sơ ý có thể gây chết người.

C. Thành phần hóa học

Về thịt rắn, ít thấy tài liệu nghiên cứu. Chỉ mới biết trong thịt rắn có chất prôtit và chất mỡ, còn các chất khác chưa biết. Năm 1958, hệ dược của Viện y học Bắc Kinh có nghiên cứu thịt rắn ở Bắc Kinh thấy trong thịt rắn có 0,55% chất saponozit.

Về mật rắn cũng ít thấy tài liệu nghiên cứu. Theo Diệp Quyết Tuyền ghi lại thì trong mật rắn (xà đởm) có cholesterin, axit panmitic, axit stearie và taurin. Nhưng đó cũng chỉ là những chất thường thấy trong mật của nhiều con vật khác chứ không phải là những chất đặc biệt gì.

Xác rắn lột có kẽm oxy và titan oxyt.

Nọc độc của rắn được nghiên cứu tương đối kỹ hơn. Nhưng vì rắn gồm nhiều loại cho nên đây chỉ là một số nét chung. Hiện nay người ta mới biết rằng nọc rắn độc không phải do một chất ancaloit hay glucozit nào, mà có lẽ do các chất men (enzym) như proteaza, photphatidaza hoặc là do các phức chất tác động trên tổ chức thần kinh hoặc trên máu và thành mạch máu.

Căn cứ vào những triệu chứng khi bị rắn độc cắn, người ta chia nọc rắn ra làm hai loại độc tính: Một loại tác động trên tổ chức thần kinh gọi là norotoxin (neurotoxin) và một loại tác động trên máu và thành mạch máu nhỏ (vi huyết quản) như là hemolyxin, hemoragin (hemolysin, hemorragin).

Những chất độc trong rắn thuộc loại zootoxin (zootoxin là chất độc trong động vật). Trong những zootoxin, ta có thể gặp các chất ophiotoxin, chất crotaloroxin là những chất không chứa nitơ và không có những hoạt chất proteie. Những chất đó không thẩm thấu và có thể coi như những saponozit động vật.

Chất crotalotoxin C₃₄H₅₄O₂₁ là chất độc của một loại rắn Crotalus adamanteus. Chất này không có tinh thể tan trong 50 phần nước, cho một dung dịch có phản ứng hơi axit, khi lắc gây nhiều bọt, không tan trong ête, trong cồn và trong clorofoc.

Chất ophiotoxin hay cobratoxin C₁₇H₂₆O₁₀, nọc độc của một loại rắn hổ mang Naja tripudians là một chất trắng vàng nhạt, tan trong nước, khi bảo quản cần tránh không khí và độ ẩm để giữ nguyên vẹn hiệu lực. Người ta dùng chất này để chữa những u ác tính (tu-meur maligne) và những trường hợp đau dai dẳng (algie tenace). Nó làm hết đau đớn và các thương tổn giảm dần có lẽ là vì nọc độc gây ra sự tạo thành chất lyzoxitin (lysocithin) este- glyxero α panmito α’ photphoric của chất cholin do thủy phân một phần chất lexitin với sự giải phóng axit oleie.

Ngoài những độc tố (toxin) trên người ta còn chiết được từ nọc độc một số rắn độc (Crotalia spectabilis, Crotalia retusa) chất ancaloit gọi là monocrotalin C₁₆H₂₃C₆N do sự kết hợp giữa axit monocrotalic C₈H₁₂O₅ và một có nitơ. Công thức cấu tạo có thể là:

[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\1010.jpg]

Monocrotalin

Trong nọc rắn người ta thấy có lượng rất cao chất kẽm (Zn), ion kẽm cần thiết cho tác dụng của nọc rắn và đóng vai trò giống như vai trò của các ion kim loại trong các men (diastaza).

Chất neurotoxin của rắn hổ mang cobra bị khí sunfuarơ (SO₂) làm mất tác dụng. Khi tiêm mạch nhỏ giọt nọc độc của rắn hổ mang cobra vào phổi mèo hay chuột bạch sẽ gây giải phóng chất histamin.

Trên những tế bào ung thư và nhân những tế bào ung thư hình như nọc rắn độc hổ mang cobra giải phóng những chất có thể phá hủy các tế bào đó. Đối với ung thư tuyến (adenocarcicom) của chuột nhắt, nọc rắn có tác dụng tốt có thể làm tiêu tan hoàn toàn.

Tuy nhiên không phải nọc rắn nào cũng có những tác dụng nói trên. Dù sao hiện nay người ta cũng nghiên cứu dùng nọc độc của rắn để chữa ung thư, đặc biệt dùng nọc độc của rắn độc họ Colubridae làm chất độc tố thần kinh đối với những cơn đau do ung thư và nọc rắn độc thuộc họ Crotalinae làm chất hoại tử trên những u ác tính.

Cũng cần chú ý rằng dung dịch nước của nọc rắn không để lâu được. Nhưng nọc rắn độc sấy khô giữ độc tính được lâu và toàn vẹn.

D. Triệu chứng bị rắn cắn và một số cách điều trị trong nhân dân

Trong những loài rắn độc kể trên, người ta đã biết độ độc của một số nọc. Loài rắn cạp nia (Bungarus candidus) thuộc loại độc nhất, chỉ cần 1,5mg nọc là đủ làm chết người cân nặng khoảng 50-60kg, loài hổ mang Naja-naja cần khoảng 20mg và nọc loài cạp nong Bungarus fasciatus cần chừng 30 đến 50mg.

Khi bị rắn cạp nia cắn thường lúc mới không thấy đau chỉ tê tê, do đó nhiều người không chú ý mà bị chết. Chỗ bị cắn không bị sưng, không màu, nhưng thịt co giật như khi tiêm nhiều stricnin, nhiễm độc tới đâu thì co giật tới đó, vết cắn mềm như thường, đặc biệt dù có buộc garô cũng không tím, chỉ hơi đỏ thôi, gây chảy máu (đau bụng) rồi ngạt thở mà chết, máu không đông chảy ở hậu môn và ở âm đạo nếu là phụ nữ. Cần chú ý cứu chữa hết sức sớm. Kinh nghiệm nhân dân hễ thấy đau bụng là bắt đầu khó cứu sống.

Rắn hổ mang cắn cũng dễ chết. Tê liệt trung tâm hô hấp. Hiện tượng nhiễm độc (curare) ở những bản vận động (plaque terminale) của những dây thần kinh, đặc biệt dây thần kinh của cơ hoành, giãn những mạch nội tạng (vaisseaux splanchniques), hiện tượng co tiểu động mạch và mao mạch.

Khi bị rắn cắn, ngoài việc mở rộng vết thương và trên vết thương độ 1 -2cm để nặn cho ra thật nhiều máu và dác để rút máu cho đến khi hết hay đỡ đau nhức, nhân dân thường dùng nhiều loại thuốc cho uống và đắp, ở đây chỉ ghi một số thuốc phổ biến nhất.

Uống thuốc hội hay rượu hội chế theo đơn sau:

Ngũ linh chi 20g, xuyên bối mẫu 24g, sinh nam tinh 24g, bạch chỉ 24g, quế 24g, bạch thược 12g, bạch đậu khấu 24g, hà thủ ô đỏ 40g, thanh phàn 24g, bào sơn giáp 24g, hùng hoàng 40g. Tất cả các vị thuốc tán nhỏ, ngâm với 1,5 lít rượu 35-40° trong 10 ngày, lấy ra cho uống. Nếu cần ngay có thể đun cách thủy trong 4 giờ, hoặc nếu cấp cứu thì nấu sôi trong bình có ống lạnh thẳng đứng trong 1 giờ là đem ra dùng được.

Khi bị rắn cắn, tùy theo nặng nhẹ, cho uống ngày 50ml rượu hội này, sau đó cứ cách 5 đến 10 phút lại uống 1 lần. Một ngày tối đa uống 150ml đến 200ml.

Ngoài việc uống rượu hội còn dùng bông thấm rượu hội xoa và băng nhẹ vào vết cắn để lấy nọc ra.

Tiếp tục ngày nào cũng uống cho đến khi hết đau nhức.

Ngoài bài thuốc hội nói trên trong nhân dân còn dùng những vị thuốc khác như giã lá bồ cu vẽ vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết cắn, lá hay rễ đu đủ giã vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết cắn, tỏi, lá ớt v.v… Nhưng kinh nghiệm dùng rượu hội đem nhiều kết quả hơn cả cho nên hiện nay xí nghiệp dược phẩm của ta đã sản xuất thuốc hội để dùng chữa rắn cắn phối hợp với những phương pháp của tây y.

E. Công dụng và liều dùng

Thịt rắn được đông y coi là một vị thuốc bổ có công dụng chữa những bệnh thần kinh đau nhức, tê liệt, bán thân bất toại, các cơn co giật, chữa nhọt độc, bị cảm trợn mắt miệng méo (kinh phong v.v…).

Ngày uống 4 đến 12g dưới hình thức thuốc sắc, thuốc bột hay rượu thuốc.

Tính chất thịt rắn ghi trong sách cổ đông y là vị ngọt, mặn, tính ôn, có độc, vào kinh can. Có tác dụng khứ phong thấp, định kinh giản, những người huyết hư sinh phong thì không dùng được.

Mật rắn thường dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác để chữa ho, đau lưng, nhức đầu khó chữa. Có khi ngâm với rượu mà uống. Trong sách cổ ghi là mật rắn có độc, dùng với liều thấp.

Xác rắn (xà thoái) là xác con rắn bỏ lại khi nó lột-Periostracum Sérpentis. Trong sách cổ ghi xác rắn tính bình, vị ngọt, mặn, không độc vào can kinh. Có tác dụng khứ phong, sát trùng, tan mộng, dùng chữa những chứng kinh nguy hiểm của trẻ em, sát trùng, trị đau cổ họng, lở ghẻ. Ngày dùng 6 đến 12g dưới hình thức thuốc sắc hay đốt cháy mà dùng.

Nọc rắn độc. Ở nước ta, cho đến gần đây, hầu như chưa khai thác và sử dụng nọc rắn độc làm thuốc. Nhưng tại nhiều nước, đặc biệt các nước châu Âu, người ta dùng nọc rắn chế thành thuốc tiêm hay thuốc xoa bóp để giảm đau trong những bệnh hủi, ung thư, viêm thần kinh (như những thuốc viperalgin, cobratoxin…), chữa bệnh ưa chảy máu (như thuốc venostat, reptilaxe…).

Nọc rắn còn có tác dụng ức chế sự phát triển của một số loại tế bào ung thư, hạ huyết áp trong bệnh cao huyết áp. Nhưng phổ biến nhất có loại thuốc xoa dùng chữa thấp khớp, viêm cơ mang tên Vipratox (Cộng hòa liên bang Đức), Viprosalum (Liên Xô cũ). Mỗi 100g thuốc Vipratox có 0,1 mg nọc rắn, 6g salixylat metyl và 3g long não.

Trên cơ sở những vị thuốc chữa đau nhức thấp khớp sẵn có trong nước, chúng tôi đã chế một loại thuốc xoa bóp có nọc rắn gồm có: Nọc rắn hổ mang khô 0,1 mg, tinh dầu quế 1ml, tinh dầu hồi 1ml, tinh dầu khuynh diệp 5ml, tinh dầu hương nhu 0,5ml, long não 3g, tá dược (kem stearat natri) vừa đủ cho 100g thuốc. Khi dùng lấy 3-5 g thuốc này bôi lên nơi đau, xoa bóp cho đều. Ngày xoa 1 đến 2 hoặc 3 lần (Đỗ Tất Lợi, Trần Kiên và cộng sự-Dược học 6-1976).

Tại nước ngoài và ở cả trong nước chúng tôi cũng đang cho chế để dùng thí nghiệm ở nước ta thuốc tiêm nọc rắn: Mỗi ống 1ml chứa 0,1mg nọc rắn khô hòa tan trong thanh huyết mặn đẳng trương. Qua những thí nghiệm đã tiến hành, chúng ta biết rằng nọc rắn hổ mang có tác dụng giảm đau kéo dài mà không gây nghiện, thường dùng trong những trường hợp đau ung thư. Ngày đầu người ta tiêm 0,5ml chứa 0,05 nọc rắn hoặc 5 đơn vị chuột là lượng nọc cần thiết để giết chết một con chuột nhắt nặng 25g. Chỉ tiêm dưới da hay tiêm bắp. Tuyệt đối không tiêm mạch máu. Truớc khi tiêm, không làm sát trùng da bằng cồn iốt vì cồn có tác dụng hủy nọc rắn. Thườg 7-8 ngày mới tiêm một lần. Những lần sau, nếu bệnh nhân chịu thuốc có thể tăng liều tiêm lên 0,6ml, 0,7ml đến 1ml một lần. Nếu bệnh nhân không chịu, thì ngừng thuốc.

Đơn thuốc rượu rắn của cửa hàng huyện Hoài Đức (Hà Tây): Rắn 10 bộ (gồm 10 con hổ mang, 10 cạp nong, 10 rắn ráo), mỗi bộ phải nặng tối thiểu 1kg, thiên niên kiện 1kg, cẩu tích 1kg, huyết giác 1kg, ngũ gia bì 1kg, hà thủ ô đỏ 1kg, kê huyết đằng 1,5kg, trần bì 0,3kg, tiêu hồi 0,2kg, rượu và đường vừa đủ 100l. Đóng chai 250ml hoạc 500ml. Người lớn mỗi ngày uống 1 cốc con 30ml trước khi đi ngủ. Phụ nữ có thai không dùng được. Dùng chữa chân tay nhức đau, sưng khớp xương, mỏi trong xương.

Đơn thuốc có thịt rắn. Dùng thịt một bộ 3 con hay 5 con đã cắt bỏ đầu và đuôi, mổ bỏ ruột, tẩm rượu gừng rồi sấy khô hay nướng cho vàng thơm. Giã thật nhỏ như làm ruốc. Cho vào rượu ngâm theo tỉ lệ một phần thịt rắn, 3 phần rượu 40°. Ngâm trong 15 ngày trở lên lấy ra uống hằng ngày sau bữa ăn cơm tối, mỗi ngày chỉ dùng 20ml. Dùng chữa tê liệt, đau thấp khớp xương sưng đau, cảm rồi bị tê liệt, bán thân bất toại, mụn nhọt, dùng làm thuốc bổ.

Thực tế có thể dùng 3 con rắn giống nhau hay khác nhau cũng được.

Nhiều người thường dùng ngâm với thịt rắn những vị thuốc khác như hồi, quế, thiên niên kiện, huyết giác, hà thủ ô v.v… nhưng có thể chỉ riêng thịt rắn không thôi cũng đủ; để cho thơm dễ uống có thể thêm ít trần bì, quế…

XẠ HƯƠNG 麝香

Còn gọi là nguyên thốn hương, lạp tử, hươu xạ, sóc đất.

Tên khoa học Moschus moschiferus L.

Thuộc họ Hươu Cervidae.

Người ta dùng hạch thơm phơi khô của con hươu xạ. Trên thị trường thường gọi là xạ hương- Moschus.

A. Mô tả con vật

Hươu xạ là một con vật có chân mảnh, cổ ngắn, đầu dài, mõm tròn, có con lớn bằng con hoẵng, thân dài độ 0,8-1m, đuôi dài 4-5cm, vai cao khoảng 55-65cm nhưng mông lại cao hơn vai, nặng khoảng 10-17kg, thân phủ lông màu nâu hung. Con đực có răng nanh dài 8 đến 9cm lòi khỏi mép hướng xuống dưới rồi quặp về phía sau, con cái có nanh nhỏ hơn và không vượt khỏi mép. Cả hai con đực hay cái đều không có sừng. Đặc biệt ở bụng hươu xạ đực vào khoảng giữa rốn và cơ quan sinh dục có một túi tròn hơi phồng dài 5-7cm rộng 3cm, cao 3-4cm. Quanh túi có lông mọc mau, phần giữa trụi lông có hai lỗ thông. Túi này dùng để chứa chất xạ hương do các tuyến của thành túi tiết ra. Ở con vật trưởng thành, túi chứa đầy xạ có thể nặng tới 60g và hơn. Xạ hương ở con vật sống quánh như mật ong, màu nâu đỏ, để khô chất xạ biến thành một khối lổn nhổn màu nâu hung rồi xám lại dần dần (Hình 739, 740).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 739. Hươu xạ và túi xạ - Moschus moschiferus

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 740. Vị trí của xạ hương ở bụng con hươu xạ

  1. Lỗ của túi xạ hương

  2. Túi xạ;

  3. Dương vật

B. Phân bố, săn bắt và chế xạ hương

Hươu xạ chủ yếu sống ở vùng rừng núi cao khoảng 1.000-2.000m, có khi tới 4.000m (Tây Tạng), thường ở những nơi vách núi cheo leo nguy hiểm. Nó ít khi ra khỏi rừng, chỉ thỉnh thoảng mới xuống khe hay suối (lõng). Ban ngày hươu xạ ẩn trong bụi cây, chiều tối mới đi ăn. Thức ăn của hươu xạ thay đổi tùy địa phương, tùy mùa và rất ảnh hưởng đến chất lượng của xạ hương. Chủ yếu nó ăn rêu, địa y, lá cây, cỏ, đôi khi rễ cây. Hươu xạ sống đơn độc, chỉ sống với nhau vào mùa động đực. Thời kỳ này cũng thay đổi tùy theo địa phương, nhưng nói chung hươu xạ đực chọi nhau rất kịch liệt, dùng nanh làm vũ khí tấn công. Người ta bắt được nhiều con đực còn mang ở cổ nhiều vết sẹo do đánh nhau mà ra. Cũng chính vào thời kỳ động đực này, hươu xạ còn tỏa ra mùi xạ nồng nặc bay xa hàng trăm thước. Hươu xạ chửa khoảng 5 tháng, đẻ 1-2 con và thọ độ 3-4 tuổi. Hươu xạ chạy rất nhanh như sơn dương, nhảy và leo nhanh nhẹn như hoẵng. Khi bị đuổi dồn nó có thể lao xuống vực sâu hoặc băng qua suối có nước chảy xiết. Loài này nhút nhát, đa nghi, dễ hoảng hốt khi bị săn đuổi, cho nên việc săn bắt cũng đòi hỏi một số kinh nghiệm, nhưng có điểm đáng chú ý là hươu xạ là loài động vật mau quen, sau phút nguy hiểm nó thường trở lại nơi ăn nghỉ cũ như không có chuyện gì xảy ra, nên dễ bị người đi săn kiên trì nấp rình ở gần đó săn bắt. Việc nuôi hươu xạ để lấy xạ còn rất ít kinh nghiệm. Có một số vườn thú nuôi hươu xạ, cho nó ăn cơm, rêu, lá cây, rau cỏ và nó có thể sống 3-4 năm, hươu xạ nuôi vẫn có thể cho xạ hương.

Hươu xạ tại Việt Nam ít được khai thác. Người ta có cảm tưởng loài này đã bị tiêu diệt. Nhưng chúng tôi đã có dịp thấy bán ở chợ tỉnh Cao Bằng năm 1962 một con hươu có xạ sống do người ta bẫy được và gặp một cụ đông y ở ngay thị xã Cao Bằng tích trữ được một số túi xạ hương thu mua ngay ở trong tỉnh Cao Bằng. Tại nhiều cửa hàng thu mua lâm thổ sản của tỉnh chúng tôi còn thấy nhiều tấm da của hươu xạ, ngay tại kho da thú của Tổng công ty xuất nhập khẩu lâm thổ sản ở Hà Nội cũng có nhiều tấm da của hươu xạ do các tỉnh vùng Tây Bắc và Việt Bắc gửi về. Do đó cần có kế hoạch điều tra bảo vệ và khai thác, vì ngoài việc lấy xạ hương, hươu xạ còn cho da và thịt như những con thú khác.

Hươu xạ là một nguồn lợi lớn của Trung Quốc, Ấn Độ và vùng Á Đông miền nam Liên Xô cũ. Hằng năm thị trường phương tây tiêu thụ chừng 10 vạn túi xạ. Mỗi kg túi xạ trị giá hiện nay vào 1.000 đô la Mỹ và 1 kg xạ hương nguyên chất trị giá tới 80.000 đôla. Phần lớn người ta giết thịt hươu xạ để lấy túi xạ hương. Người ta đã tính rằng, nếu muốn xuất chừng 3.000kg xạ hương thì phải giết tới 100.000 con hươu xạ (vì bình quân 30 túi xạ được 1kg, mỗi túi nặng trung bình 30g), đó là chưa kể số hươu xạ cái và hươu xạ non giết nhầm mà không có túi xạ, vì như trên đã nói, hươu xạ cái và hươu xạ dưới 3 tuổi không có túi xạ.

Khi bắt được hươu xạ, người ta xẻo ngay lấy chỗ hạch nói trên, thường xẻo rộng hơn một chút rồi treo trong nhà cho đến khi khô, có khi người ta rang cát cho nóng (tay còn chịu được) đổ xung quanh túi xạ, cát nguội lại rang, tiếp tục làm cho đến khi khô. Sau đó cất vào hộp đậy kín. Thường 50 đến 65% trọng lượng của túi xạ là trọng lượng xạ hương nguyên chất.

Muốn lấy chất xạ hương trong túi xạ có nhiều cách: Có khi người ta ngâm khăn vải vào nước ấm vài phút rồi dùng khăn ẩm đó bọc kín túi xạ làm cho túi xạ mềm mại, sau đó cắt bỏ da thịt, lấy chất xạ hương mà dùng, có nơi lấy dùi sắt nung đỏ lăn trên mặt túi xạ cho cháy hết lông, cạo hết lượt da ngoài (có khi để nguyên), thái mỏng đặt lên dĩa, úp một cái bát lên, trát kín mép đĩa và bát bằng lá khoai sọ và cám hay đất dẻo. Đặt dĩa này vào nồi rang có chứa tro. Đun nóng nhẹ, muốn cho không nóng quá thường người ta đặt trên cái trôn bát một lá trầu không. Đun lâu và giữ cho lá trầu không bị héo vàng. Làm như vậy cho đến khi khô. Mở bát ra tán nhỏ, cho vào lọ nút kín, dùng dần.

Trên thị trường quốc tế, người ta thường chia xạ hương ra làm 3 loại là:

  1. Xạ hương Xibêri xuất qua đường biển Bantic.

  2. Xạ hương Ấn Độ xuất qua đường Cancutta.

  3. Xạ hương Bắc bộ (Tonkin đọc là Tôngkinh), Trung Quốc và Tây Tạng xuất khẩu qua Hồng Kông; trong 3 loại trên, xạ hương Tôngkinh được coi là loại quý và giá đắt hơn cả. Có điều là tuy mang tên xạ hương Tôngkinh (Bắc bộ nước ta) nhưng thực tế những năm gần đây ta không có mà xuất.

C. Thành phần hóa học

Xạ hương nguyên chất là một thứ bột lổn nhổn có màu nâu tro. Vị hắc mùi rất hăng nếu ngửi nhiều, nhưng nếu pha thật loãng thì rất thơm. Khi thật khô thường kém thơm, nhưng khi ẩm, mùi thơm thường dậy lên. Xạ hương tan vào nước chừng 55% trọng lượng, nước có màu nâu sẫm, phản ứng axit, với cồn 90° xạ hương chỉ tan chừng 10-13% trọng lượng. Cồn có màu vàng nâu, thêm nước vào sẽ bị đục. Đốt có mùi amoniac, lượng tro từ 4 đến 6%, không được quá 8%.

Xạ hương chứa cholesterin, chất béo, một chất nhựa đắng, muối canxi và amoniac với tỉ lệ thay đổi, một tinh dầu có thành phần chủ yếu là một chất xeton gọi là muscon C₁₆H₃₀O. Đây là hoạt chất thơm độc nhất của xạ hương. Nếu loại hết mùi tạp chất của xạ hương đi thì mùi muscon rất thơm và rất tế nhị, mùi thơm rất bền, do đó xạ hương thuộc vào loại chất thơm định hương cao cấp. Tỷ lệ muscon trong xạ hương chừng 1%.

[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\1014.jpg]

Muscon

D. Công dụng và liều dùng

Xạ hương là một hương liệu vào loại cao cấp nhất vì nó cho mùi thơm rất bền.

Trong y dược xạ hương là một vị thuốc được dùng trong cả tây và đông y. Nhưng hiện nay tây y hầu như không dùng nữa. Trái lại đông y coi xạ hương là một vị thuốc không thể thiếu được để điều trị nhiều bệnh nguy hiểm.

Trước đây, tây y dùng xạ hương làm thuốc kích thích, trấn kinh, cường dương, điều kinh, chữa mê sảng của bệnh thương hàn, sưng phổi. Tây y dùng xạ hương dưới dạng cồn thuốc với liều 6 đến 10g trong một ngày pha vào nước đường cho uống. Còn dùng dưới dạng thuốc uống, thuốc viên, thuốc thụt với liều 0,25 đến 2g một ngày.

Đông y hiện nay còn dùng xạ hương một cách rất phổ biến làm thuốc trấn kinh, chữa bệnh suy nhược thần kinh, trúng phong, mê man, choáng váng, đau mắt cam tẩu mã v.v… Theo thống kê năm 1954 của đông y thị xã Bắc Kinh (Trung Quốc) trong số 259 biệt dược được lưu hành có tới 68 biệt dược có chứa xạ hương. Xạ hương là cơ sở của bài thuốc lục thần hoàn, nhân đơn là những thuốc rất được tín nhiệm trong đông y.

Theo tài liệu cổ tính chất của xạ hương là vị cay, tính ôn, không độc, vào 12 đường kinh, có tác dụng thông khiếu, thông kinh lạc, làm sạch uế, đuổi tà, là thuốc hồi sinh, trừ trúng độc dùng trong các trường hợp đau bụng, bụng đau dữ dội, phụ nữ khó đẻ, trúng phong hôn mê, điên cuồng, ngực đau thắt, dùng ngoài tiêu ung thư sang thũng. Phụ nữ có thai không được dùng.

Liều dùng hằng ngày từ 0,04g đến 0,10g, dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác, thường là phối hợp.

Đơn thuốc có xạ hương

  1. Lục thần hoàn dùng trong những trường hợp sốt cấp tính, trúng độc, mê loạn, tâm trạng suy nhược.

Xạ hương 1g, minh hùng hoàng 1g, băng phiến 1g, tây ngưu hoàng 1,5g, châu phấn (bột hạt trai) 1,5g, thiềm tô 1g. Năm vị trên tán nhỏ, thêm thiềm tô tẩm rượu, viên bằng hạt cải, lấy muội bếp (bách thảo sương) làm áo cho nên viên có màu đen. Mỗi lần dùng 5-10 viên tùy theo bệnh và sức khỏe.

  1. Thái ất tử kim đĩnh dùng trong những trường hợp trúng độc do thức ăn, hôn mê ngã quay, chết đuối, tự tử thắt cổ mà ngực còn nóng ấm:

Sơn từ cô (Tulipa edulis thuộc họ Hành tỏi- Liliaceae) 80g, thiên kim tử (Euphorbia lathyris-họ Thầu dầu Euphorbiaceae) 40g, hùng hoàng 12g, hồng nha đại kích (Knoxa corymbosa thuộc họ Cà phê-Rubiaceae) 60g, ngũ bội tử 40g, chu sa 12g, xạ hương 12g. Các vị tán nhỏ viên thành thỏi hình trụ, mỗi thỏi nặng 4g. Liều dùng trung bình cho người lớn là nửa đĩnh (thỏi) cho đến 1 hay 2 thỏi. Vì hình dáng vị thuốc trông giống đĩnh vàng (thỏi vàng) ngày xưa nên có tên kim đĩnh.

  1. Chữa thai chết không ra được:

Xạ hương 1g, quế chi 8g, hòa với rượu nóng cho uống; nếu cần có thể tăng liều xạ hương lên tới 2g.

Những con vật khác cho xạ ở nước ta

  1. Con cầy hương: Còn gọi là con cỏi hay tu cỏi, tên khoa học là Viverricula malaccensis Gmelin thuộc họ Cầy Viverridae. Con cầy hương có thân nhỏ, dài, chân ngắn và đuôi dài bằng 2/3 thân. Mõm nhọn, tai ngắn và tròn. Lông thô cứng có màu xám nhạt hay màu nâu vàng nhạt phớt xám. Dọc lưng có 5 hay 6 giải màu nâu hay đen sắp thành giải dọc nhưng không rõ ràng. Trước mắt và sau tai đều có điểm đen. Đầu, cằm và chân màu nâu. Đuôi có nhiều khoang đen trắng xen kẽ. Thân đo từ mõm đến hậu môn dài từ 53 đến 59cm, đuôi đo từ hậu môn tới mút dài khoảng 38cm (Hình 741).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 741. Cầy hương - Viverricula malaccensis

Cầy hương sống trong hang hốc ở đất, dưới đá hay trong bụi rậm, có khi ở cả trong những khe hốc nhà bỏ hoang. Ban ngày thường ẩn trong tổ, đến tối mới đi kiếm ăn, nhưng cũng có khi ra ăn cả ban ngày. Cầy hương bắt chuột, rắn, ếch, sâu bọ để ăn. Vì trèo cây được cho nên đôi khi nó bắt cả chim và ăn trứng. Thỉnh thoảng cầy hương cũng vào nhà bắt gà vịt. Cầy hương thường để vết xạ thơm theo dọc đường đi; khi giận dữ cầy hương cũng tỏa mùi thơm nức.

Cầy hương gây tai hại cho người thì ít mà có ích nhiều hơn vì nó tiêu diệt một số lớn động vật có hại cho người như rắn, chuột, sâu bọ. Nó còn cho thịt, da và chất xạ làm thuốc và làm hương liệu.

Cầy hương còn thấy ở nhiều nước vùng Đông Nam Á như Miến Điện, Malaixia, miền Nam Trung Quốc, Xrilanca, Ấn Độ v.v… Nước ta chưa tổ chức nuôi cầy hương, nhưng ở các nước khác, ở các đảo châu Phi, châu Á (Malaixia) người ta nuôi cầy hương để khai thác xạ. Chúng ta biết rằng túi xạ của cầy hương là một tuyến ở giữa hậu môn và dương vật của con cầy. Muốn lấy xạ, người ta nhốt con vật vào một chuồng, hơi chật để cho con vật cử động hơi khó khăn, sau đó người ta ép túi xạ vào chắn song chuồng để xạ hương chảy ra ngoài, có khi người ta dùng một cái cùi dìa rất nhỏ bằng tre để vét xạ trong túi. Xạ lấy được phết trên lá, gạt bỏ hết lông, rửa bằng nước muối hoặc dịch ép của quả chanh rồi phơi hay sấy nhẹ cho khô, cất vào hộp kín. Tại Malaixia, người ta còn huấn luyện được cầy hương theo hiệu lệnh tới chìa túi xạ ra chấn song chuồng để tiện cho người lấy xạ. Những người nuôi cầy hương đã có kinh nghiệm là càng cho cầy hương ăn nhiều chuối thì chất xạ càng nhiều mùi thơm. Muốn săn bắt cầy hương chúng ta có thể dùng chó săn hoặc kết hợp chó săn với chăng lưới trên chỗ cầy hương đi lại là bắt được.

  1. Con cầy giông còn gọi là con giông, có tên khoa học là Viverra zibetha L. cũng thuộc họ Cầy (Viverridae). Con giông loại lớn có thân dài 73-83cm, cổ mảnh, đầu dài, mõm nhọn và đuôi dài bằng khoảng nửa thân. Bộ lông cầy màu xám hơi phớt vàng nhạt, có điểm nhiều vết đen nâu không rõ rệt xếp gần nhau làm thành nhiều dải gợn sóng vắt ngang lưng, vết đen thành đường chỉ rộng chạy từ cổ tới gốc đuôi, hai bên chỉ có viên sọc trắng. Đầu xám, má cầm màu nâu thẫm. Gáy có 4 dải đen chạy dọc, bụng trắng nhạt, chân nâu thẫm, đuôi có 6 khoang đen (Hình 742).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 742. Cầy giông - Viverra zibetha

Con cầy giông rất phổ biến ở nước ta, từ vùng thấp tới vùng rẻo cao, từ nam ra bắc, đâu cũng có. Còn thấy ở Châu Phi, ở các nước khác của châu Á như Miến Điện, miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia.

Tại một số nước châu Á như Malaixia, Ấn Độ, châu Phi như Ai Cập, Abitxini, châu Âu như Ý, Đức, Hà Lan đã tổ chức nuôi cầy giông để lấy xạ. Người ta cho cầy giông ăn thịt hoặc cho ăn xen kẽ cơm và chuối, càng ăn nhiều thịt cầy giông càng cho nhiều xạ. Muốn lấy xạ người ta buộc con cầy giông lại, lấy tay ấn nhẹ vào túi xạ làm cho xạ chảy ra tay, sau vét xạ bằng cùi dìa, sau cho nước dừa vào túi xạ cho con vật đỡ đau, mỗi lần có thể lấy tới 4g xạ, mỗi tuần lấy 1 hay 2 lần. Lấy xong cũng làm như đối với cầy hương (Hình 743).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 743. Túi xạ của cầy giông

A. Bề ngoài; B. Cắt dọc

Chất xạ của cầy hương hay của cầy giông là một chất đồng thể, nhờn, vàng nhạt hay trắng khi còn tươi, để lâu trở nên sánh hơn và có màu nâu, thường kèm theo lông của con vật cho xạ. Mùi hăng rất nồng khai, giống mùi xạ hương thật (moschus-musc) nhưng không tinh tế bằng.

Xạ hương này có chất amoniac, tinh dầu, chất mỡ, muối kali và canxi.

Chất xạ hương của cầy hương và cầy giông cũng rất được ưa chuộng tuy không bằng xạ hương của hươu xạ. Trên thị trường quốc tế người ta gọi là Viverreum hay Civette.

Chất xạ hương ở Abitxini chảy ở 36-37°C, gồm phần lớn là chất béo, dễ tan trong ête, benzen, clorofoc, ête dầu hỏa, ít tan hơn trong cồn etylic và metylic, trong axeton không tan trong nước, axit và kiềm.

Trong xạ hương này có chất scatol bên cạnh một hợp chất có mùi.

[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\1017.jpg]

Scatol (metylindol)

Xạ hương này trước kia thường được nhân dân châu Âu dùng làm thuốc kích thích và trấn kinh. Hiện nay chỉ còn dùng làm hương liệu như xạ hương Moschus.

Trong nhân dân Việt Nam, người ta dùng loại xạ này như loại xạ hương lấy ở hươu xạ.

QUY BẢN VÀ CAO QUY BẢN 龜板 龜板膠

Còn có tên là yếm rùa, kim quy, quy giáp, cao yếm rùa.

Tên khoa học Chinemys (Geoclemys) recvesil (Gray).

Thuộc họ Rùa Testudinidae.

Người ta dùng yếm của con rùa hay quy bản, Carapax testudinis và cao chế từ yếm rùa (Colla carapacis Testudinis) còn gọi là cao quy bản hay quy bản giao.

A. Mô tả con rùa

Con rùa là một con vật thường sống ở dưới nước, có 4 chân, đuôi ngắn, khi gặp nguy hiểm, có thể rụt cả đầu, chân và đuôi vào trong mu (lưng) và yếm (bụng) rùa. Mu rùa hay mai rùa cũng như yếm rùa là những vỏ rất cứng. Con rùa thường ăn cá con hoặc sâu bọ. Nhưng con rùa có thể nhịn ăn rất lâu mà không chết (Hình 744).

[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\1018.jpg]

B. Phân bố, săn bắt và chế biến

Trong nước ta, đâu cũng có rùa, nhưng nhiều nhất tại các tỉnh có nhiều ao hồ.

Rùa còn sống ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên v.v…

Khi bắt được rùa, có khi người ta đập chết, bóc lấy yếm, cạo hết thịt, rửa sạch, phơi khô, trên thị trường Trung Quốc, người ta gọi loại yếm rùa này là “huyết bản” còn nếu bắt được rùa, nấu chín rồi mới bóc lấy yếm, lọc bỏ hết gân thịt thì người ta gọi là “thang bản”.

Có thể thu hoạch quy bản quanh năm, nhưng nhiều nhất vào các tháng 8-12.

Muốn chế cao quy bản, người ta tiến hành như sau: Trước hết đem ngâm yếm rùa vào nước để gân thịt còn sót lại rữa ra rồi cạo cho tróc hết. Có khi đun chín để loại thịt cho dễ. Sau đó dùng nước rửa sạch cho đến hết mùi. Phơi khô, đập nhỏ, đun với nước, ba ngày ba đêm như nấu cao ban long. Lọc loại bỏ bã, nước lọc được đem cô đặc, đổ vào khuôn, để nguội cắt thành từng miếng to nhỏ tùy ý.

Có khi người ta phối hợp quy bản với gạc nai, gạc hươu nấu cao gọi là “nhị tiên giao” Colla Carapacis Testudinis et Cornus Cervi. Để nấu cao nhị tiên giao này, ngoài quy bản và gạc hươu nai, người ta còn thêm khởi tử, đảng sâm cùng nấu. Cách nấu cũng như trên.

C. Thành phần hóa học

Theo Diệp Quyết Tuyền, trong quy bản có chất keo, chất béo và muối canxi. Hoạt chất khác, chưa rõ.

Theo Thomas, thủy phân mai rùa được các axit amin sau đây glycocole 19,36%, alanin 2,95%, leuxin 3,6%, tyrosin 13,59%, xystin 5,19%, axit glutamic, histidin, lysin, acginin, tryptophan không có (Biochimie: 783).

D. Công dụng và liều dùng

Quy bản và cao quy bản còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân. Theo kinh nghiệm đông y, quy bản là một vị thuốc bổ thận âm chữa ho lâu, di tinh, bạch đới, khí hư, chân tay, lưng gối đau nhức.

Còn dùng chữa lỵ kinh niên, sốt rét lâu ngày, cơ thể suy nhược, băng huyết, các bệnh trước và sau khi sinh nở, trẻ con yếu xương.

Về mặt kinh lạc, theo Mậu Hy Ung (một tác giả cổ) quy bản đi vào kinh túc thiếu âm, là thuốc bổ tâm kinh.

Liều dùng: Ngày uống 12-24g quy bản dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên hay thuốc bột.

Cao quy bản: Ngày uống 10-15g, chia 3 lần uống.

Theo tài liệu cổ quy bản có vị ngọt, mặn, tính hàn, vào 4 kinh thận, tâm, can và tỳ. Có tác dụng bổ tâm thận, tư âm, dùng chữa thận âm không đủ, trong xương đau nhức, di tinh, đới hạ, băng lậu, lưng gối đau yếu, lỵ lâu ngày. Những người âm hư không nhiệt không dùng được.

Đơn thuốc có quy bản

  1. Đơn thuốc bổ chữa bệnh ho lâu ngày:

Quy bản sao cát cho dòn, tán nhỏ 100g, đảng sâm 100g sao thơm tán nhỏ. Hai vị trộn đều, ngày uống 3 lần mỗi lần 1-2g.

  1. Đơn thuốc chữa sốt rét lâu ngày:

Quy bản 200g, sao vàng dòn tán nhỏ, hùng hoàng (As₂S₂) 50g tán nhỏ, hà thủ ô 200g. Trộn đều thêm mật ong làm thành viên 0,30g. Ngày uống 5-10g chia 3 lần uống trong ngày.

TÀM SA 蚕砂

Còn gọi là phân tằm, tám mễ, vãn tàm sa.

Tên khoa học Faeces Bombycum hoặc Exerementum Bombycis.

A. Nguồn gốc và tính chất

Tàm sa là phân tầm phơi khô.

Tất cả những nơi nuôi tằm đều có thể có phân tằm. Thường thu thập phân tằm vào hai mùa xuân hạ. Sau khi lấy phân tằm, loại bỏ những lá tầm chưa ăn, các tạp chất, rồi phơi khô là được.

Phân tằm là những thỏi nhỏ dài chừng 3mm, đường kính 2-3mm, màu nâu đen, mặt không nhẵn, chất cứng nhưng dòn, hơi có mùi hôi.

B. Thành phần hóa bọc

Trong tàm sa có vitamin A và B (theo Dược tài học-Bắc Kinh, 1960).

Các tác giả nói trong tàm sa có 83,77-90,44% chất hữu cơ, độ tro 9,56-16,23%, nitơ toàn phần 1,91-3,60%. Trong phần chất hữu cơ có protit và clorophyl, ngoài ra còn có kích thích tố thực vật heterauxin và histiđin.

C. Công dụng và liều dùng

Phân tầm hay tàm sa là một vị thuốc chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân làm thuốc trừ phong thấp, hóa huyết ứ, chữa mắt đau đỏ, chân tay tê dại.

Tính chất phân tằm ghi trong các sách cổ là vị ngọt, cay, tính ôn, không độc, vào 3 kinh can, tỳ, vị, có tác dụng khứ phong táo thấp, dùng chữa phong thấp, khớp đau, ngoài da tê, lưng, chân lạnh đau, phàm những người không phải tê thấp mà có huyết nóng thì không được dùng.

Ngày dùng 6-12g, có khi dùng tới 30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc viên. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Đơn thuốc có tàm sa

  1. Chữa bán thân bất toại:

2 bát tàm sa đựng vào 2 cái túi sao nóng để thay đổi chườm vào chỗ đau tê. Đồng thời nấu cháo gạo nếp với quả cật của dê, mỗi ngày 1 quả cật. Dùng trong vòng 10 ngày.

  1. Chữa băng huyết:

Tàm sa sao vàng tán nhỏ uống mỗi ngày 15g, có thể dùng rượu chiêu thuốc.

  1. Chữa đi đái ra đường, miệng khô khát:

Tàm sa 40g, nước 600ml, sắc còn 300ml, chia nhiều lần uống trong ngày. Đơn thuốc này còn dùng chữa thổ tả đi mất nhiều nước quá, miệng khát.