Còn gọi là lo va (Campuchia).

Tên khoa học Ficus glomerata Roxb. var. chittagonga (Miq.) King (Ficus chiưagonga Miq.,

hơi có độc, vào 2 kinh can và ihận. Có tác đụng khử phong thấp, lợi gân cốt. Chữa chân tay tê dại, lưng mòi, gối đau, phong thấp. Những người tê đau mà do âm huyết không đù không dùng được. Hiện nay vị thuốc mới được dùng trong phạm vi nhân dân, làm thuốc chữa đau nhức, tê thấp, nhức xương, yếu chân, bán thân bất toại, gân cốt nhức lạnh, lưng gối tê dại.

Còn dùng giã đắp tại chỗ chữa nhọt độc, ong đốt, rắn cắn.

Ngày dùng 6-12g dưới hình thức thuốc sắc, thuốc viên hay thuốc cao mềm. Có thể tăng tới liều 16g một ngày.

Đơn thuốc có hy thìêm

Viên hy thiêm chữa bán thán bất toại:

Lá và cành non hy thiêm hái trước khi ra hoa (không kể nhiều ít) sao vàng tán bột. Thêm mật vào viên thành viên to bằng hạt ngô. Ngày uống

3- 6g viên này, nếu uống được rượu thì nên dùng rượu để chiêu thuốc. Uống vào sau bữa ăn, chữa bán thân bất toại, miệng mắt méo do cảm gió, mất tiếng (đơn thuốc kinh nghiệm cổ truyền).

Chữa phát bổi, mọc mụn đấu đinh ở sau lưng:

Hy thiêm thảo, ngũ ưảo long, tiểu kế, đại toán, các vị bằng nhau, mỗi thứ 4g. Giã nát, dội chén rượu nóng vào, vắt lấy nước liống (đơn thuốc ghi trong Càn khôn sinh ý).

Chú ý:

Trong Bản thảo cương mục có ghi dùng cày này phải nấu và phơi chín lần mới tốc, dùng tươi có thể gây nôn mửa.

Đừng nhầm cây này với cây cứt lợn (Ageratum convzoides L.) nhân dân ta vẫn dùng nấu với bá kết để gội đầu và vò uống lá tươi chữa bệnh đẻ xong máu chảy không ngững hay bệnh rong kinh (xem vị này).

F. mõỉlis. Miq).Covellia glomerata Miq; c.mollis Miq; c.mollis Mip.

Thuộc họ Dâu tàm Moraceae.

Ta dùng nhựa cây sung làm thuốc.

A. Mó tả cây

Sung là một cày to, không có rễ phụ. Lá hình mũi giáo, đầu lá nhọn, phía cuống hơi tròn hơn. Khi lá còn non, cả hai mặt đểu phủ lông. Khi già, lá trông cứng, phiến lá nguyẽn hoặc hơi có ràng của thưa, dài 8- 20cm, rộng 4-8cm. Lá sung thường bị sàu Psyỉlidae ký sinh, gày ra những mụn nhỏ, người ta thường gọi là vú sung. Ọuả sung thuộc loại quả giả, đo đế hoa tự tạo thành. Quả giả mọc tùng nhóm trên thân cây và trên nhũng cành to khổng mang lá, khi chín có màu đỏ nâu, hình quả lê, dài 3cm, rộng 3-3,5011, mặt quả phủ lông mịn, cuống rất ngắn (Hình 380).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 380. Quả và lá sung (có vú) - Ficus glomeraỉa

B. Phản bố, thu hái và chế biến

Cây sung mọc hoang và được trồng khắp nơi ở Việt Nam. Muốn lấy nhựa sung, người ta băm thân cây, hứng lấy nhựa.

C. Thành phần hoá học

Chua thấy có tài liệu nghiên cứu.

D. Công dụng và liều dùng

Còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân. Lá sung non dùng để ăn, thường đc gói nem. Quả sung cũng dùng để ăn.

Nhựa sung được nhân dân coi Là một vị thuốc rất quý để chữa bệnh nhức đầu và một sổ bệnh ngoài da (chổc, nhọt, sưng đau, tụ máu).

E. Những hình thức dùng nhựa sung trong nhàn dân

Chữa mụn nhọt bắp chuối, sưng vú:

Rửa sạch mụn nhọt, lau khô nước. Nhựa sung hứng vào độ một chén hay hơn, bôi trực tiếp vào chõ đau, sưng đỏ đến đâu bôi đến đó, bôi nhiều lần một lúc. Để tránh bôi nhiều, có thể trộn nhựa sung với lá non, giã nát rồi đắp lên chỗ đau. Nếu mụn chưa có mủ thì đắp kín, nếu đã vỡ mủ rồi, đắp để hở một chỗ bằng hạt ngô. Khi đã có mủ, muốn lấy ngòi ra thì giã thêm một củ hành với nhựa và lá sung rồi đắp như trên, để hở miệng. Nếu sưng vú, đắp hở đầu vú.

Khi ngã bị xây xát, đắp thuốc phải chùa chổ xây xát, mà chỉ đáp nơi sưng đỏ hoặc tím. Thường chỉ 2-3 ngày thấy kết quả.

Chữa nhức đáu:

Nhựa sung phết lên giấy bản, dán vào 2 bên thái dương. Có trường hợp, người ta dùng trong chữa tê liệt.

Có khi dùng phối hợp bôi ngoài với ăn lá non hoặc uống nhựa sung với liểu 5ml hoà vào nước lă đun sôi để nguội, trước khi đi ngủ.

Chữa hen:

Nhựa sung hoà với mật ong uống trước khi đi ngủ.