Tên khoa học Cynura crepidioides Benth.
Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).
A. Mó tả cây
Cây thuộc thảo, mọc đứng, có lông, có thể cao tới lm. Thân mập, có rãnh, khía rõ rệt. Lá dài, dày, có răng cưa to, hai mặt đều có lông. Cuống lá có cánh. Ở góc cuống lá có hai tai nhỏ trông như lá kèn. Cụm hoa đầu, đồng giao, mọc thành gù kép> mồi gù con gồm 1-3 đầu. Tràng mảnh chia làm 4 thùy, 4 nhị. Bầu hình trụ. Quả hình trụ, mang một chùm lông trắng ở đỉnh. Mùa hoa: mùa hè (Hình 439).
B. Phản bố, thu hái và chẽ biến
, Mọc hoang dại ở những nơi đất hoang ẩm ướt. Chưa ai đặt vấn đề trồng. Lá có mùi thơm, có thể dùng nâu canh, ân được. Khoảng từ tháng 3 đến tháng 7 tuy cây đã ra hoa nhưng vẫn có thể hái lá non ăn được.
C. Thành phần hoá học
Trong rau tàu bay non có tới 93,1% nước, 2,3-2,5% protit, 1,7-1,9%gluxit, 1,6% xenluloza,
0, 9% tro, 81mg% canxi, 25mg% P(3,4mg% caroten, 10mg% vitamin c.
Về mặt dinh dưỡng, rau tàu bay có giá trị dinh dưỡng tốt. Không có chắt độc gây phá hủy hồng cầu hay làm hại máu như một số người thường nói, nhưng vì rau tàu bay có chứa rất ít chất sát cho nên nếu ăn lâu dài cần phối hợp rau tàu bay với những rau khác chứa nhiều chất sắt
A. Petelot (1953) có thu thập một số tài liệu cho biết nhân dân nhiều nước trên thế giới (Cuba, Guyan, Tân Calêđônia…) dùng vỏ mắm chữa hủi dưới dạng cao mềm hay cao lỏng.
Cao mểm ngày cho uống từ 6 đến 8g duới dạng thuốc viên, có thể dùng vỏ mám ngâm rượu uống,-
Trên những vết loét của người ta đáp dung dịch có pha 50% cao lỏng inắm và 50% nước.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 439. Rau tàu bay - Gynura crepidioides
như bí đỏ, rau muống…
D. Công dụng và liều dùng
Chỉ mới thấy nhân dân những vùng hiếm rau hái cây lá non về nấu ẫn thay rau. Một sô vùng nhân dân dùng lá tươi, giã nát, hay nhai nát đáp lên những vết rắn, rết cấn.
Còn có lẽn là Gai kim vàng, Tràm vàng.
Tẻn khoa học Barleria lupulina Lindl.
Thuộc họ Ó ró Acunthatcơc.
A. Mó íả cây
Cây nhó mọc đứng. Nhánh vuông, không lônu lá. Lú nguyên không lông, lá kèm biến thành gai tháníỊ nhọn. Cụm hoa bóng ó ngọn, các lá bác kế) hựp cao 2cm. Cátih hoa mềm, màu vànu nhạt. Mỏi bõna thườiia có 18-20 hoa nhưng lhườn2 khóns nỏ hoa một lúc. Mỗi ngày chỉ nở liai hoa. Sau 7 naày mới nở hết một bông hoa. Ọuá nang có hat dẹt, hạt được bao bọc bới một
vỏ cứng. Khi quả chín khồ, nổ tách bắn hạt ra xa (Hình 440, Htn 29,4).
B. Phân bố, thu hái và chê biến
Cây kim vàng mọc hoang dại ở các tinh phía Nam nước ta, được nhiều nhà trổng làm cảnh hoặc trong chậu, hoặc thành hàng rào vì có gai nhọn, có người tỉa cây thành hình cấu. có nhiểu hoa đẹp hcm. Gần đây nhiều nguời đã trổng để lấy lá dùng chữa rắn độc cắn. Thường chi thu hoạch lấy lá tươi dùng ngay. Chưa thấy mấy người dùng lá khô.
Còn mọc hoang và được trổng ớ Ân Độ, Miến Điện, Inđônêxia.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Nếm hoa có vị ngọt, lá có vị đắng.
D. Công dụng và liều dùng
Công dụng phổ biến nhất của cây kim vàng là dùng chữa vết rắn độc cắn: Hái một nắm lá tươi (ước 20-35g) giã nát vắt, lấy nước cốt cho nạn nhân uống sống, bã dùng đắp lên nơi rắn cắn. Cứ 30 phút cho uống một lần. Có nguời phổi hợp lá kim vàng với phèn chua như sau: Trước hết hút nọc rắn bàng dùng một ống nhựa, hay ổng trúc đặt vào vết rắn cắn rồi dùng miệng hút. Hút một vài lần để lấy tối đa nọc độc. Sau đó đúng 30g lá kim vàng tươi, thêm 5g phèn chua, cùng giã. Thêm ÍI nước vào. vát lấy nước cho uống. Nếu nạn nhân răng cắn chặt thì cậy miệng cho uớng thuốc. Bã lá và phèn chua thì đắp lên vết rán cắn.
Ngoài công dụng chữa rắn cắn, nước giã ép tươi còn đựơc dùng chữa chân nút, nẻ. Còn dùng chữa ho sốt đối với trẻ em.
Còn gọi là cỏ đuôi công, cây cốc tinh, cỏ dùi trống.
Tên khoa học Eriocaulon sexangulare L.
Thuộc họ Cốc tinh thảo Eriocaulaceae.
Cốc tinh thảo (Scapus Eriocaulí) là cán mang hoa phơi hay sấy khô của cây cốc tinh thảo hay cây cỏ đuôi công, hay cây cốc tinh. Ta còn dùng cán mang hoa của một số loài Eriocaulon khác có hình dáng giống nhau.
Tên cốc tinh vì người ta thấy sau khi lúa đã gặt rồi thì cây này xuất hiện, do đó cho là cốc tinh của lúa mọc lên.
A. Mô tả cây
Cỏ đuôi công là một loại cỏ nhỏ, sống hằng năm, ré chùm, thân rất ngấn. Lá mọc vòng, dẹt, dài 4-35cm, rộng 0,2- lcm, nhẵn, nhiểu gân dọc. Cán hoa dài 10-55cm. Hoa hình đẩu hay hình trứng, đường kính 4-6mm, dài 4-7mm,
ở ta cũng như tại Trung Quòc, người ta còn dùng toàn cây hay nụ hoa của nhiều cây thuộc loài khác nhau như Eriocauỉon buergenianum Koem., E. sieboldìanun Sìeb. et Zucc. ex Steud, E. wallichimum Man và E. austraỉe R. Br. (Hình 441).
B. Phân bố, thu hái và chè’ biến
Cây mọc hoang ở những nơi ẩm thấp tại nhiều tỉnh miền Bắc nước ta. Nhiều nhất tại cấc tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên và Lạng Sơn.
Vào mùa hạ và mùa thu, tốt nhất vào mùa thu, hái cán mang hoa, rủa sạch đất, bùn, phơi khô, bó thành từng bó.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 44Ị. Cốc tinh thảo - Eriocauỉon sexangulare
Nếu chỉ dùng hoa bỏ cán đi thì gọi là cối tinh châu.
C. Thành phần hoá học
Chưa thấy có tài liộu nghiên cứu
D. Cồng dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ cốc tinh thảo có vị cay, ngọt tính hơi ôn, vào hai kinh can và vị. Có tác dụnị khứ phong thanh nhiệt sáng mắt. Dùng chữa cá(
chứng ho phong nhiệt và mắt đau, đầu nhức, rãng đau, cổ họng đau. Hiện nay cốc tinh thảo còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân để:
-
Chữa những trường hợp đau mắt, nhức mắt.
-
Chữa nhức đầu, sốt và thông tiểu tiện.
Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc bột hay thuốc sác.
Đơn thuốc có cốc tinh thảo
Chữa viêm kết mạc, viêm giác mạc: Cốc tinh
thảo, phòng phong (Siìer divaricatum), hai \ bằng nhau, tán nhỏ. Ngày uống 3 lẩn mồi lầ uống l-2g (kinh nghiệm nhân dân).
Chữa thiên đẩu thống:
Cốc tinh thảo lOg, tán nhỏ trộn với hồ dái vào nơi đau.
Chữa nhức đầu, nhức ỉôtĩỊ; mày:
Cốc tinh thảo 8g, địa long (giun đất) 12g, nhí hương 4g. Các vị tán nhỏ mỗi lần lấy 4g đớt Iấ) khói hun vào lỗ mũi bén đau
Bình luận