Còn gọi ỉà mao truật, xích truật, nam thương truủt.

Tẻn khoa học Atractylodes ỉanceơ (Thunb.) DC. {Atractylìs ỉancea Thunb.).

Thuộc họ Cúc Asieraceae (Compositae).

A. Mò tả cây

  • Thương truật là một loại cây sống lâu năm, cao chừng 0,60m, có rễ phát triển thành củ to, thân mọc thẳng đứng. Lá mọc so le, gần như không có cuống, lá ở phía gốc chia 3 thùy nhưng cắt không sâu. 2 thùy 2 bên không lớn lắm, thùy giữa rất lớn, lá phía trên hình mác, không chia thùy. Mép lá trên lá dưới đều có răng cưa nhỏ nhọn. Cụm hoa hình đầu, tổng bao do 5-7 lớp như ngói lợp, lớp dưới cùng chia rất nhỏ hình lông chim. Hoa hình ống, những hoa phía ngoài là hoa cái, những hoa trong lưỡng ưnh, tràng hoa màu trắng hay tím nhạt, đỉnh chia 5 thùy xẻ xâu. 5 nhị (bị thoái hóí ở hoa cái), nhụy có đầu vòi chia hai, bầu có lónỄ mềm nhỏ. Cụm hoa thuơng truật so với cụm ho£ của bạch truật nhỏ và gầy hơn. Quả khô (Htrứ 294).'

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Thương truãt từ trước đến nay ta vẫn phải nhậf của Trung Quổc, gần đây mới trồng được ờ Việi Nam, nhưng chưa phát triển đủ để tự tức được. Tạ Trung Quốc, thương truật mọc ở Giang Tô, Hí Bắc, Hà Nam, loại của Giang Tồ được coi là tối nhất, Hồ Bắc sản xuất nhiều, tiêu thụ ở Hoa Bắc

TODO: thêm hình ảnh

Hình 294. Thương truật - Atractylodes lancea

Đông Bắc và xuất khẩu.

Có thể mùa thu hoạch vào mùa xuân hay mùa thu, loại thu hoạch vào các tháng 7-8 được coi là tốt hơn. Đào về, rủa sạch đất, cắt bỏ rẽ con, phơi hay sấy khô. Có nơi đem đốt nhẹ rễ để loại bỏ rể con hay có nơi lại cạo bỏ vỏ ngoài để Ịộ cấc túi tinh dầu màu vàng, trông bế ngoài đẹp, nhưng cả hai phương pháp đều khống nên áp dụng vì làm như vây tỷ lệ tinh dầu sẽ bị giảm.

c. Thành phắn hóa học

Trong thương truật có tinh dầu, trong tinh dầu thành phán chủ yếu là atractylola CJ₅H₂₆₀ và atractylon C]4H1&0. Theo sự nghiên cứu của hệ dược thuộc Viên nghiên cứu y học Trung Quốc thì trong thương truật Hồ Bắc, Giang Tô, An Huy và Hà Nam (Trung Quốc) tỳ lệ tinh dầu lên tới 5-9%, trong khi đó thương truật ở một bộ phân của Hà Nam, Thìểm Tây tỷ lệ tinh dầu là

3- 5%, các tỉnh khác như Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Hà Bấc, Sơn đông, Sơn Tây thì tỷ ]ệ chỉ có 1-3%.

D. Tác dụng dược lý

Năm 1927, Kim Thượng Tần báo cáo liều nhỏ tinh dầu của thương truật có tác dụng trần tĩnh đối với một loại ếch xanh (Trung Quốc), đồng thời xúc tiến cơ năng phản xạ của tùy sống, nhưng nếu dùng liều cao có tác dụng ức chế trung khu thần kinh rồi đến chết do ngừng hô hấp.

Năm 1936, Kinh Lợi Bân và Lý Đăng Bảng dùng cao thương truât tương đương với 6g vị thuốc trên lkg thể trọng, tiêm dưới da cho thỏ thì thấy trong vòng 2-5 giờ, lượng huyết đường giảm xuống, ‘đối với tim ếch cũng có tác dụng ức chế nhịp đập, làm cho tim đập chậm. Nếu dùng liều cao thì làm cho tim tê liệt mà ngừng đập. Nếu tiêm tĩnh mạch với liều nhỏ (0,l-0,3g cho lkg thể trọng) thì làm cho huyết áp hơi tăng cao, liều cao (0,5- 2ml trên lkg thể trọng) thì làm cho huyết áp hạ thấp, nhimg đối với hô hấp thì dù với liều to hay nhỏ đều làm cho tạm thời tăng nhanh và không có tác dụng lợi tiểu rõ rệt. Đổi với tá tràng cô lập của thỏ thì có tác dụng ức chế.

Bạch truật so với thương truật tác dụng cũng hơi giống nhau. Năm 1952, Đặng Vũ Phi đã thí nghiệm thây bạch truật có tác dụng ức chế đối với một loại vi trùng gây bệnh ngoài da.

Theo đông y thì thương truật vị khổ (đắng), tân (cay), khí liệt (mạnh) cũng vào hai kinh tỳ và vị như bạch truật. Có khả năng kiện tỳ, táo thấp phát hãn, bạch truật vị khổ, cam (ngọt) khí hòa, do đó đông y thích dùng bạch truật và ít dùng thương truật, trên thị trường thương truật tiêu thụ ít và chậm hơn bạch truật.

E. Cồng dụng và liều dùng

Thương truật có khả năng hạ thấp lượng huyết đường quá cao, có thể dùng trong bệnh huyết đường, còn dùng trong triệu chứng tinh thần không phấn khởi, chân tay không có lực và cũng có tác dụng bổ dạ dày, giúp tiêu hóa. Ngày dùng 5-10g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, hoặc xông hun để tiêu độc trong nhà, chống sâu bọ.

Đơn thuốc có thương truật

Bình vị tán: Chữa cấp tính, mãn tính viêm dạ dày và ruột, nôn mửa, đi tả, đầy bụng không tiêu, đau bụng.

Thương truật 160g, iiậu phác 120g, trần bì 80g, cam thảo 40g. Các vị tán thành bột, trộn đều, mỗi lẩn dùng 9g bột này, đùng nước gừng hoặc nước nóng thường mà chiêu thuốc. Ngày uống 3 lần.

Cao bạch truật làm thuốc bổ chữa đi ỉa lỏng:

Bạch truật 6kg, nước đổ cho ngập, cho vào nổi đất hay đồ sành sắt tráng men, nấu cho cạn còn

một nửa, gạn lấy nước, (hay nước mới, làm như vây 3 lần rồi hợp cả 3 nước cô đặc thành cao. Ngày uống 2-3 thìa cao này.

Chú thích:

Ngoài vị thương truật nói trên, tại miền bắc Trung Quốc còn dùng một cây nữa gọi là bắc