Còn gọi là rau mọi, lục mại.

Tên khoa học Mercurialis indica Lour.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

A. Mô tả cây

Cây nhỏ, cao 2-3m, có nhiều cành nhỏ, dòn. Đặc biệt trên mặt thân và cành có những bì khổng hình chám trắng lấm tấm. Lá đơn, có cuống, có lá kèm, mép có răng cưa đều, dài 10-20cm, rộng 5-10cm. Hoa đực có cuống, mọc thành bông dài 10-20cm, thõng xuống. Hoa cái nhỏ li ti mọc đơn độc hay thành từng đôi, hầu như không cuống. Quả ba mảnh vỏ, trên mặt có những gai nhỏ, ngắn (Hình 364).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 364. Lộc mại - Mercurialis indica

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây lộc mại thường mọc hoang phổ biến ở rừng núi và đồng bằng các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá, Hà Giang, Hà Tây, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hòa Bình.

Người ta hái lá về làm thuốc. Mùa hái hầu như quanh năm. Dùng tươi hay phơi khô.

C. Thành phần hoá học

Cây lộc mại của ta chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Một loại lộc mại-Mercurialis annua L. (hay Foirolle-Pháp) được nghiên cứu và thấy chất mono và trimetylamin, một chất màu xanh chỉ xuất hiện khi tế bào đã chết, một chất đắng, gôm, tinh bột, chất béo, … tuy nhiên hoạt chất cũng chưa rõ. Chỉ mới biết rằng nhân dân châu Âu dùng làm thuốc tẩy, chất gây tẩy này khi phơi khô bị mất đi, nhiệt độ cao cũng bị phá huỷ.

D. Tác dụng dược lý

Cây lộc mại của ta chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Cây lộc mại châu Âu đã được nghiên cứu thì thấy rằng cây này chỉ tác dụng khi dùng tươi, nếu phơi hay sấy khô thì súc vật ăn không làm sao. Nếu dùng với liều hơi cao hay dùng luôn thì gây tẩy mạnh. Nếu đun sôi hay sắc cho uống thì hoạt chất mất đi và cây trở thành một vị thuốc gây hoạt nhuận. Một số vùng châu Âu người ta ăn cây này đã nấu chín. Thịt những súc vật ăn phải cây này mà ngộ độc thì người ăn được.

Trường hợp ngộ độc thường chỉ xảy ra khi dùng quá nhiều: Đối với bộ máy tiêu hoá thì không tiêu, đầy, đau vùng ruột, ỉa lỏng kèm theo táo bón (nhận xét trên súc vật), trên bộ máy tiết niệu thấy đái ra máu, đi đái luôn và buốt. Tim đập mạnh và nhanh. Bệnh nhân mệt, yếu. Viêm dạ dày và ruột, viêm thận. Muốn chữa ngộ độc cần dùng thuốc nhuận để tống hết chất độc, thuốc kích thích chung toàn thân. Cần chú ý là , nước tiểu màu đỏ khi uống thuốc nhiều thì không phải là đái ra máu mà là do một sắc tố của cây.

E. Công dụng và liều dùng

Thuốc dùng trong nhán dán chữa táo bón, đau bụng, kiết lỵ cấp tính, da vàng. Dùng ngoài chữa lở ngứa (nấu đặc rửa). Uống mỗi ngày 10- 20g lá khô hoặc 20-40g lá tươi, sắc uống.

Lộc mại châu Âu là một thứ thuốc tẩy có tác dụng thông mật và tháo nước, tuy nhiên mỗi ngưòi đánh giá một cách, người cho là tốt, người cho là không có tác dụng. Nhưng chính là do cách chế biến sử dụng. Chỉ có dạng dùng tươi hay dịch ép là có tác dụng. Tại châu Âu người ta dùng làm thuốc tẩy cho phụ nữ có thai và làm cho cạn sữa. Còn dùng làm thuốc thông tiểu cho những người bị bệnh gút và bệnh Brai (Bright). Châu Âu dùng dưới dạng thuốc mật hay thụt (trẻ em 10 đến 40g, người lớn 30-60g). Có khi dùng sắc 20g trong một lít nước để thụt.

Đơn thuốc có lộc mại

Dịch ép lá lộc mại 30ml, mật ong 30g, trộn đều, đun sôi. Lọc mà uống trong ngày làm thuốc nhuận tẩy thông mật.

ME

Còn gọi là cây me, ampil, khua me (Cămpuchia), mak kham (Lào).

Tên khoa học Tamarindus indica L.

Thuộc họ Vang Caesalpiniaceae.

A. Mô tả cây

Cây to cao 15 đến 30m, tán cây rất rộng, rất nhiều lá. Lá kép lông chim chẵn, dài 8 đến 10cm, gồm 10 đến 20 đôi lá chét thuôn tù ở đầu, dài 20mm, rộng 2mm. Hoa trắng nhạt có những vệt đỏ hay trắng, mọc thành chùm đơn ở kẽ lá hay thành chùy tận cùng. Quả dài mọc thõng xuống, hơi dẹt thông, dài 7-12cm, rộng 25mm, dày 10mm. Vỏ quả ngoài mỏng, cứng, dòn, màu hung đỏ, vỏ quả giữa có xơ, mẫm vị chua, sau khi đã loại hết xơ thì phần vỏ quả giữa có màu nâu nhạt hay vàng nhạt. Quả chứa 3 đến 5 hạt dẹt, nhẵn, màu nâu đỏ, bóng. Mùa quả tháng 10-11(Hình 365).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Người ta cho rằng cây me vốn nguồn gốc vùng nhiệt đới châu Phi, sau đó được trồng phổ biến ở khắp các tỉnh nước ta cũng như tại rất nhiều nước nhiệt đới khác, đạc biệt hay trồng làm cây bóng mát tại các thành phố, có những nơi mọc gần như thành rừng (Điện Biên).

Chủ yếu người ta thu hái quả dùng tươi hay nghiền lấy phần cơm quả rồi chế thành thuốc. Đôi nơi dùng cả vỏ cây, lá cây. Thường dùng tươi.

C. Thành phần hoá học

Trong quả có chứa chủ yếu hơn 10% axit hữu cơ (9,40% axit xitric, 1,55% axit tactric, 0,45% axit malic), kali bicactrat 3,25%, đường 12,50%, gôm 4,70%, pectin 6,25%. Ngoài ra còn 34,35% xơ, nước 27,55%.

Trong hạt có glucozan, xylan, proteit, chất béo, sáp, muối vô cơ.

D. Công dụng và liều dùng

Cơm quả me chế như sau: Nghiền nát quả lọc bỏ xơ, lấy 50g cơm đã lọc bỏ xơ, 50g nước và 125g đường. Đun sôi cạn còn 200g. Có thể đem sấy khô cơm để dành. Dùng cơm này pha nước uống khi sốt, bệnh về gan, tiêu hoá. Mỗi ngày dùng 20 đến 120g cơm, pha vào nước thêm đường vào cho đủ ngọt mà uống. Trẻ con 3 tuổi dùng 5g, 5 tuổi dùng 5-10g, 12 tuổi dùng 10 đến 30g.

Gỗ cây me cũng được dùng dưới dạng thuốc sắc để nhuận tràng, thông tiểu, nhẹ, vỏ cây dùng chữa ỉa chảy, viêm lợi răng . Lá nấu nước tắm ghẻ.

Đơn thuốc có me

Quả me giã nát, lọc bỏ xơ và hạt, đổ xi rô đặc vào đun sôi. Mỗi ngày dùng 10 đến 30g cơm này cho vào nước uống giải khát, nhuận tràng.

LẠC 花生

Còn gọi là đậu phộng, lạc hoa sinh (Trung Quốc), arachide, pistache de tenre, cacahuete (Pháp).

Tên khoa học Arachis hypogea Linn.

Thuộc đất. họ cánh Bướm Fabaceae Papllionaceae.

Chú thích về tên: Hypogea có nghĩa là quả ở trong đất vì quả được hình thành và chín trong dất

A. Mô tả cây

Lạc là một loại cây thảo, sống hàng năm, thân cây khi mọc thẳng, khi mọc bò sát dài 0,30-0,50m, có khi tới 0,60-0,80m.

Có nhiều thứ lạc nhưng có hai thứ chính: Arachis asiatica Loureiro mọc thẳng, rất nhiều lông được trồng ở châu Á. Arachis africana bò sát đất, tương đối không có lông, được trồng cả ở các nước ven biển phía tây châu Phi. Lá mọc so le gồm 4 lá chét hình trái xoan. Hoa gồm hai loại: Loại lớn ở phía ngoài chùm hoa có màu vàng, không cho quả, loại khác nhỏ hơn, chúc theo chiều thân cây xuống đất để dấu bầu ngập vào trong đất chừng 4-5cm, quả sẽ chín ở trong đất. Quả là một giáp không khai, dài 3-5cm, có bướu, 2-3 chỗ thắt lại. Những chỗ bướu chứa hạt, thường một quả có 2, 3, 4 hạt. Thành quả cứng, màu vàng, có sơ và thớ nổi lên. Vì quả lạc ở dưới đất lên nhân dân ta vẫn gọi là củ lạc (Hình 366).

B. Phân bố thu hái và chế biến

Người ta cho rằng cây lạc vốn nguồn gốc ở Brazil (nam Mỹ), nhưng hiện nay được trồng ở nhiều nước nhiệt đới, nhiều nhất ở châu Á với sản lượng lớn nhất là Ấn Độ , sau đó đến Trung Quốc, Inđônêxia…

Nhiều tỉnh đồng bằng và trung du nước ta đều có trồng lạc nhưng sản lượng chưa nhiều: Hàng năm khoảng vài chục đến 100.000 tấn chủ yếu dùng làm thực phẩm, một số ít làm thuốc và dùng trong công nghiệp.

C. Thành phần hoá học

Quả lạc (củ lạc) gồm 20-30% vỏ và 70-80% hạt.

Hạt lạc Semen Arachidis-bao gồm 2-3% lớp vỏ lụa với thành phần một số chất Catechol và một chất leucoanthoxyan (theo Tayeau và Masquelier, 1948) làm cho vỏ lạc có tính chất của các vitamin P. Nhân lạc chứa từ 3-5% nước, 2-4% chất vô cơ, khoảng 20% gluxit (glucoza, tinh bột), 20-30% protit gồm một globulin là arachine (60-75%) không tan trong nước, không chứa muối, một abumin là conarachin (25-40%) tan trong nước, không chứa muối.

Cả arachin và conarachin đều cho các axit amin nhưng arachin cho ít hơn conarachin nhất là các axit amin như methionin, tryptophan, và d threonin (axit α amino β hydroxy n butyric) arachin cho 4,9% d threonin, còn conarachin cho 7,8%.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 366. Lạc - Arachis hypogea

Có tác giả còn cho rằng trong nhân lạc còn có một chất ancaloit cũng mang tên là arachin, nhưng thực tế chỉ là một cholin không tinh khiết (Molt, 1916).

Thành phần chủ yếu trong nhân lạc là 40- 50% chất béo (dầu lạc-Oleum arachidis). Dầu lạc gồm các glyxerit của nhiều axit béo no và không no, với tỷ lệ thay đổi rất nhiều tùy theo loại lạc: Axit oleic (51-79%), axit linolic (7,4- 26%), axit panmitic (8,5%), axit stearic (4,5- 6,2%), axit hexaconic (0,1-0,4%), hai axit chỉ thấy trong dầu lạc: Có trọng lượng phân tử lớn, axit arachidic (C₂₀) và axit lignoxeric (C₂₄). Hai axit này còn thấy trong bơ cacao bơ sữa bò. Trong phần không xà phòng hoá được ta thấy các sterol, vết vitamin D.

Ngoài những thành phần trên người ta còn thấy trong hạt lạc một chất cầm máu có tác dụng tốt đối với những người có bệnh ưa chảy máu (hémophilie) (theo Frampton và Boudreaux, 1960). Chất này tan trong nước, có tác dụng trên trương lực cơ và tác dụng làm co thắt các động mạch.

D. Công dụng và liều dùng

Do thành phần protit và chất béo, lạc có tác dụng dinh dưỡng rất cao, do đó dùng làm thực phẩm trong nhiều nước.

Dầu lạc được dùng làm dầu ăn và chế thuốc.

Khô dầu lạc (bã sau khi ép dầu) chứa khoảng 50% protit được dùng trong công nghiệp bánh kẹo, trong thực đơn những khu vực thiếu protit, trong thức ăn gia súc và gia cầm…

Cần lưu ý rằng khô dầu lạc có thể gây chết cho súc vật và gia cầmvới những tổn thương ở gan. Người ta đã phát hiện thấy khô lạc phơi sấy không tốt lại bị ẩm và khí hậu nóng nhiệt đới có giống nâm Aspergillus flavus Link, phát triển và chứa những chất cumarin phức có độc tính đặt tên là aflatoxin B và G (do những chất này dưới tia ngoại tím cho huỳnh quang xanh tím (bleu violace) gọi là aflatoxin B và huỳnh quang xanh lá cây (green) gọi là aflatoxin G. Những nấm mốc này còn phát triển cả trong vỏ những quả lạc phơi chưa kỹ có những vết thâm đen. Ta có thể phát hiện những chất aflatoxin này sau khi chiết bằng clorofoc, tinh chế bằng sắc ký cột rồi soi huỳnh quang trên sắc ký lớp mỏng.

Trong cởng nghiệp chế biến thuốc dầu lạc được dùng làm dung môi trong dầu tiêm, dầu xoa ngoài, xà phòng, thắp đèn, bôi máy.

TỤC TÙY TỬ 续随子

Còn gọi là Thiên kim tử.

Tên khoa học Euphorbia lathyris L.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

A. Mô tả cây

Cỏ sống hai năm, cao 1m thân rỗng, lá ở thân không cuống, không có lá kèm, hình giáo nhọn, mọc đối chéo chữ thập, chỉ có gân giữa nổi lên rõ rệt thôi. Ở phần ngọn thân, lá ngắn hơn, gần hình tim. Ở kẽ lá có một tán chia thành 2-5 nhánh, mỗi nhánh kết thúc bởi một cụm hoa hình chén, nom giống một hoa đều lưỡng tính. Mỗi chén gồm có một tổng bao 5 lá bắc liền nhau gốc, rời và nhọn. Trong những chỗ lõm ngăn cách ngọn các lá bác có 4 tuyến hình lưỡi liềm. Từ miệng chén mọc ra vô số hoa đực và mỗi hoa một hoa cái ở giữa, mang bởi một cuống dài, thoạt tiên đứng, về sau cong xuống đất. Mỗi hoa đực giảm chỉ còn mỗi một nhị, chỉ ngắn mang bao phấn 2 ô mở bởi kẽ nứt dọc hướng ngoài. Chỉ nhị đặt trên một cái chân hình trụ, giới hạn bởi một chỗ thắt vòng quanh gọi là khớp. Hoa cái trần, giảm thành một nhuỵ cấu tạo bởi 3 lá noãn, bầu 3 ô mang 3 vòi gần rời nhau, chẻ đôi ở ngọn. Mỗi ô đựng một noãn có nút úp lên trên. Quả nang có 3 mảnh vỏ, tách rời khỏi trụ quả và mở bởi một kẻ nứt ở giữa lưng. Hạt có mồng, vỏ ngoài màu nâu mờ, trong đựng cây mầm và nội nhũ (Hình 367).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mới di thực vào nước ta khoảng 20 năm nay, nhưng mới chỉ được trồng lẻ tẻ tại một vài vườn thuốc địa phương. Mùa hoa vào các tháng 4-7, mùa thu hái hạt dùng làm thuốc với tên tục tùy tử hay thiên kim tử vào các tháng 8-9.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 367. Tục tùy tử - Euphorbia lathyris

Hạt hái về bỏ tạp chất, phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hoá học

Trong hạt tùy tục tử có từ 40-46% dầu béo, chất gôm. Ngoài ra còn có euphorbiasteroit (độ chảy 199°5C là dẫn xuất của epoxylathyrol và những dẫn xuất của cumarin như aesculin, daphnetin, daphnin và biaesculetin (còn gọi là euphorbetin)

D. Công dụng và liều dùng

Tục tùy tử là một vị thuốc[7] lợi tiểu, tẩy mạnh có tác dụng hành thuỷ, phá huyết.

Theo tài liệu cổ, tục tùy tử có vị cay, tính ôn và có đọc vào hai kinh can và thận. Có tác dụng hành thuỷ, phá huyết, công tích, trục ẩm. Thường dùng chữa thuỷ thũng trướng mãn, huyết kết làm kinh nguyệt bế tắc, đàm ẩm trưng kết.

Thường dùng dưới dạng thuốc sương nghĩa là đã bỏ vỏ, lấy nhân ép vào giữa hai tờ giấy bản, ép bỏ dầu dùng bã. Ngày dùng 0,3 đến 0,6g bã này (sương). Dùng ngoài đắp lên chỗ mẩn ngứa.

THANH LONG

Còn gọi là cây mắt rồng, oeil de dragon (Pháp).

Tên khoa học Hylocereus undulatus (Haw.) Britt & Rose.

Thuộc họ xương rồng Cactaceae.

A. Mô tả cây

Thanh long có thân bò với 3 cánh dẹt, màu xanh lục nhạt, nhiều lá đài và cánh hoa dính vào nhau thành ống. Nhiều tiểu nhuỵ, bầu hạ cho quả thịt với lớp vỏ ngoài màu đỏ tươi với những phiến hoa còn lại. Quả dài 18-20cm, đường kính từ 12-15cm. Sau lớp vỏ hơi dầy mầu đỏ là phần thịt mầu trắng xanh với rất nhiều hạt màu đen nhỏ hơn hạt vừng. Ăn mát và ngọt (Hình 368, Hm 38,4).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây thanh long chỉ mới thấy được trồng ở một số tỉnh miền Nam nước ta có nhiệt độ cao, nóng, nhiều nhất ở vùng Phan Rang, Phan Thiết, Nha Trang, một số xã như Long Trì, Dương Xuân Hội, thuộc huyện Châu thành tỉnh Long An. Không mọc ở những nơi lạnh. Mùa quả vào các tháng 6-9. Mặc dầu thanh long chỉ ăn tươi, nhưng do quả có lớp vỏ tương đối dầy, để tương đối lâu không bị hư thối nên không những được sử dụng trong nước, mà còn xuất khẩu sang Đài Loan, Hồng Kông, Singapo, một ít sang Pháp, Úc, đặc biệt năm 1989-1990 giá tăng cao nên nông dân các tỉnh trên tích cực trồng để lấy quả xuất khẩu. Những quả xuất khẩu phải đạt trọng lượng 300g trở lên. Những quả nhỏ hơn chỉ tiêu thụ trong nước. Muốn trồng thanh long phải chọn hom trồng ở những cây thanh long có 3-5 tháng tuổi. Chọn hom từ các cành đã có trái. Trồng 6 hom trên một nọc (cây tựa cho thanh long leo), khoảng cách giữa các nọc là 3x3m. Hàng năm bón mỗi nọc một gánh (40kg) phân chuồng chia làm 3 lần: Đầu mùa mưa, cuối mùa mưa và giữa mùa nắng. Thanh long trổ hoa chỉ sau một đêm là tàn. Từ khi trổ hoa đến khi trái chín là 25 ngày. Từ khi trái hơi chín đến chín ăn ngon là 10-15 ngày. Mùa chín thanh long ở Ninh Thuận, Bình Thuận là tháng 6-7. Nếu trồng tốt, mỗi nọc cho 200-250 trái, trong đó 50-60% nặng từ 400g trở lên.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 368. Thanh long - Hylocereus undulatus

C. Thành phần hoá học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ chúng tôi thấy có nhiều chất nhầy (Đỗ Tất Lợi).

D. Công dụng và liều dùng

Chỉ mới thấy sử dụng trong nhân dân làm quả ăn tươi cho mát, đỡ khát nước, rất tốt đối với những người nhiều rôm sẩy, táo bón