Cò tỉ gọi là bạch đậu khấu, viên đậu khấu.

Tên khoa học Amomum cardamomum L.

Thuộc họ Gừng Zingiberaceae.

nghiên cứu thấy trong loài sa nhân Amomum villosum Lour. có saponin với tỷ lệ 0,69%.

D. Còng dụng và liều dùng

Sa nhân là một vị thuốc kích thích và giúp sự tiêu hóa, thường dùng làm gia vị và chế rượu mùi.

Về căn bản, sa nhân mới thấy dùng trong phạm vi đông y.’ Theo tài liệu cổ, sa nhân có vị cay, tính ôn, vào các kinh tỳ, thận và vị, có tác dụng hành khí, điều trung, hòa vị, làm cho tiêu hóa được dể dàng. Dùng trong những trường hợp đau bụng, đầy bụng, ăn không tiêu, tả lỵ.

Hiện nay ngoài cồng dụng như trên, sa nhân được xuất sang một số nước dùng làm gia vị.

Liều dùng hàng ngày: 1 đến 3g dưới dạng thuốc viên, thuốc sắc.

Đơn thuốc có sa nhăn dùng trong đông y

Răng đau nhức: Ngâm sa nhân.

Bài thuốc chữa ăn uống không tiều, nôn mửa, bụng đầy, đau (hương sa chỉ truật hoàn): Sa nhân 4g, mộc hương 6g, chỉ thực 6g, bạch truật 4g, các vị tán nhò, dùng nước sắc bạc hà nấu với gạo làm hồ viên thành viên, mỗi viên nặng

0, 25g; ngày uống 2 hay 3 viên.

Ở miền Bắc nước ta chỉ khai thác để dùng trong nước và xuất loại sa nhân nói trồn.

Ngoài 2 cây dương xuân sa và sa nhân nói trên, tại Trung Quốc người ta còn khai thác một số cây khác với tên sa nhân, ví dụ:

ỉ. Sa nhân Hải Nam là quả của một loài Amomum sp. ò đảo Hải Nam.

  1. Thổ sa nhân ở Hải Nam là quả của một loài Amomum sinensis Rosc.

  2. Thổ sa nhân ở Phúc Kiến là quả của loài Aỉpỉnia ịaponica Miq. tên gọi ở địa phương là hòa sơn khương, có quả ở trên ngọn cùa thân mang lá, khác những cây ưên có quả trên một trục riêng ở sát mặt đất.

Sai

Đậu khấu (Fructus Amomi cardamomi hay Pructus Cardamomỉ rotundi) là quả gần chín phơi hay sấy khô của cây bạch đậu khấu hay viên đậu khấu {Amomum cardamomum).

A. Mò tả cây

Đậu khấu là một loại cỏ mọc lau năm. Thân rễ có vẩy, từ than rễ những trụ mang lá và trục mang hoa và quả ló lên mặt đất. Thân mang lá có thể cao 2-3m. Lá mọc so le, không cuống, phiến lá hình mác dài 23cm, rộng 7,5cm. Cụm hoa hình bông mọc ở gốc, cả cuống hoa và hoa dài 8cm; tràng hoa màu vàng, hình ống hẹp, dài 2cm, trên tràng hoa màu vàng, có điểm tím hay đỏ tía. Quả hình cầu dẹt, màu tím trắng, đường kính ],5cm (hình 303).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 303. Hạt đậu khẩu - Amomum cardamomum

!-2. Hình ngoài 3. Bổ dọc 4.cẳtngang: a.rtíỊoạinhũ, h. nội nhũ, c.phôi,

d. vỏ hạt, e. rễ phôi.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Đậu khấu mọc hoang và được trổng ở Việt Nam, Cămpuchia, Thái Lan, Xrìlanca, Nam Mỹ, Trung Quổc chủ yếu nhập đậu khấu của các nước ké trên, mới đây mới thử trổng ờ Vân Nam.

Thường thu hái ở những cây đã được 3 nãm, khi quả từ màu xanh chuyển sang màu vàng xanh thì hái, hái về phơi hay sấy khô, loại bỏ cuống, rồi xông diẽm sinh cho vỏ trắng ra là được. Khi dùng, bóc vỏ lấy hạt.

C. Thành phần hóa học

Trong đậu khấu có chừng 2,4% tinh dẩu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là d.bocneola và d.campho.

D. Công dụng và liều dùng

Đậu khấu là một vị thuốc chủ yếu dùng trong đông y. Tính chất theo đông y là vị cay, ôn, vào các kinh phế, tỳ và vị, có tác dụng hành khí, ấm dạ dày, tiêu thực khoan trung, trừ hàn hóa thấp, giải độc rượu. Dùng chữa đau dạ dày, đầy bụng, nôn ọe, ăn không tiêu, và chữa các bệnh về phổi.

Ngày dùng 2 đến 4g.

Đơn thuốc có đậu khấu

ỉ. Chữa trẻ con bú vào lại trớ ra:

Bạch đậu khấu 14 nhân, sa nhân 14 nhân, cam thảo 8g, các vị tán nhỏ, dùng bột này sát vào miệng trẻ em.

  1. Chữa chứng lợm giọng buồn nôn:

Nhấm hạt bạch đâu khấu, nuốt nước.

Chứ thích:

Ngoài vị đậu khấu kể trên, trong đông y còn dùng vị tiểu đậu khấu là quả gần chín phơi hay sấy khô của cây tiểu đậu khấu (Elettaria cardamomum Maton), vị thổ bạch khấu (Fruc- tus Alpiniae tupaikou) là quả phơi khô của cây thổ hương khấu (Alpinia sp.) mọc hoang ờ Quảng Tây (Trung Quốc).

Còn gọi ỉà thảo khấu nhân, ngẫu tủ.

Tẽn khoa học Alpinia katsumadai Hayt.

Thuộc họ Gừng Zingìberaceae.

Thảo đậu khấu {Semen Alpiniae katsumadai) là hạt phơi hay sấy khô lấy từ quả gần chín của cây thảo đậu khấu (Aỉpinia katsumadaĩ).

A. Mô tả cây

Thảo đậu khấu là một loại cỏ sống lâu năm cao l-2m. Thân rễ màu nâu đỏ. Lá mọc so le, hình mác, dài 30-55cm, rộng 2-9cm. Cụm hoa hình chùm, dài 30cm, ở đầu cành. Hoa màu trắng, hình ống, dài 1,2cm, trong có đốm màu tím đỏ nhạt. Quả hình cầu đường kính 3,5cm, còn đài tồn tại, khi chín có màu vàng (Hình 305).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Chưa thấy ở Việt Nam. Chỉ mới thấy khai thác ở đảo Hải Nam, Quảng Đông (Trung Quốc). Vào các tháng 8-9, hái quả vể phơi gần khô thì bóc bỏ vỏ rồi phơi cho thật khô, có khi hái về nhúng vào nước sôi, phơi gân khô, lấy ra bóc vỏ rồi phơi cho thật khô. Tại một vài nơi ở đảo Hải Nam, người ta còn hái về, đun hay đồ với nước sôi trong 2-3 giờ, lấy ra bỏ vỏ phơi khô. Làm như vậy hạt chắc không rời nhau ra nhưng tinh dầu bị giảm bớt.

C. Thành phần hóa học

Trong thảo đậu khấu có chừng 4% tinh dầu mùi long não (theo Wehmer, 1929., Die Pfỉanzenstoffe Bd. /: 182).

D. Công dụng và liều dùng

Thảo đậu khấu chỉ mới thấy dùng trong đông y. Tính vị theo đông _y là vị cay, chát, tính ôn,

3 4

TODO: thêm hình ảnh

Hình 305, Hạt thảo đậu khấu - Aìpnia katsurnadai ỉ-2, Hình ngoài; 3. Thảo đậu khấu cắt dọc; 4. cắt ngang: a. ngoợi nhũ, b. nội nhũ, c. phôi, d. vỏ hạt.

có tấc dụng khử hàn táo thấp, ôn trung khai vị, giải độc. Dùng chữa dạ đày lạnh đau, nôn ra nước chua, nôn mửa, tả lỵ, có tác dụng chữa say rượu và giải độc cá độc.

Ngày dùng 3-6g.

Chú thích:

Ngoài vị thảo khấu nói trên, tại Quảng tây (Trung Quốc) người ta còn dùng với tên thảo khấu (quả cây sẹ) (Alpinia globosa Horan). Ở Việt Nam ta có cây này. Tại Vân Nam ngưdi ta thu mua quả cây Alpinỉa blepharocalyx K. Schum làm vị thảo khấu, quả cây Globba chinensis K. Schum làm vị tiểu thảo khấu.