Acanthozit D R=R₁=bD glucoza
D. Công dụng và liều dùng
Đông y coi ngũ gia bì là một vị thuốc có tác dụng mạnh gân cốt, khu phong hoá thấp chủ trị đau bụng, yếu chân, trẻ con lên 3 tuổi chưa biết đi, con trai âm suy (dương sự bất cử), con gái ngứa âm hộ, đau lưng, tê chân, làm mạnh gân cốt, tăng trí nhớ, ngâm rượu uống rất tốt. Theo tài liệu cổ: Ngũ gia bì vị cay, tính ôn vào 2 kinh can và thận.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Đơn thuốc có ngũ gia bì
Rượu ngũ gia bì:
Ngũ gia bì sao vàng 100g, rượu 1lít. Ngâm trong 10 ngày, thình thoảng lắc đều. Ngày uổng một cốc con vào buổi tối trước bữa cơm chiều, chữa đau người, đau lưng, đau xương.
Đơn thuốc dùng cho phụ nữ:
Ngũ gia bì, mẫu đơn bì, xích thược, đương quy, mỗi vị 40g. Tán nhỏ. Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g chữa những người phụ nữ bị lao lực, bị mệt mỏi hơi thở ngắn, sốt, ra nhiều mồ hôi, không muốn ăn uống.
Chú thích:
Tên ngũ gia bì còn dùng để chỉ nhiều vị thuốc khác nhau, cần chú ý để tránh nhầm lẫn.
- Ngũ gia bì nhập của Trung Quốc: Bản thân nhũng vị này lại chia ra:
a) Bắc ngũ gia bì- Cortex Periplocaer adicis-vỏ rễ phơi khô của cây hương gia bì, xú ngũ gia bì Periploca sepium Bunge thuộc họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây này chưa thấy ở Việt Nam.
b) Nam ngũ gia bì- Cortex Acanthopanacis gracilistyli-là vỏ rễ phơi khô cùa cây tế trụ ngũ gia bì Acanthopanax gracilistylus W. W. Smith thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae). Cây này cũng chưa thấy ở nước ta.
c) Hồng mao ngũ gia bì- Cortex Acanthopanacis giraldii-là vỏ rễ phơi khô của cây hồng mao ngũ gia bì Acanthopanax giraldi Harms cùng họ.
Một số cây Acanthopanax khác cũng được dùng ở Trung Quốc trong đó có cây của ta Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr.
-
Liên Xô cũ có nghiên cứu và khai thác một loại ngũ gia bì Acanthopanax senticosus tên dùng phổ biến ở Liên Xô cũ là Eleutherococcus senticosus Rupr. et Maxim. Theo nghiên cứu của I.I. Brekhman cây này tốt hơn nhân sâm về một số điểm như có nhiều tác dụng không phụ thuộc vào mùa.
-
Tại Việt Nam, ngoài cây nói trên, còn dùng với tên ngũ gia bì các vị thuốc sau đây:
a) Vỏ cây chân chim Vitex heterophylla Roxb. (Vitex quinata Williams), còn gọi là cây mạn kinh thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây cao chừng 25m, cành hơi hình vuông. Lá kép chân vịt gồm 3-5 lá chét, mặt trên trắng, mặt dưới vàng, có những hạch nhỏ, lá chét hai bên nhỏ hơn lá chét ở giữa. Hoa vàng nhạt, môi dưới trắng, mọc thành chùy ở đầu cành. Quả hạch, hình lê, màu đen xám, có đài tồn tại. Cây này mọc nhiều vùng rừng núi miền Bắc, nhiều nhất ở vùng Hoà Bình. Nhân dân dùng vỏ sắc uống hay ngâm rượu vì cho rằng vị thuốc làm cho ăn ngon cơm, dễ tiêu (Hình 285).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 285. Chân chim - Vitex heterophylla
b) Lá và cành cây đùm đũm hay ngấy chĩa lá hay ngũ gia bì hoặc đũm hương (Rubus cochinchinensis Tratt. Rubus fruticosus Lour. thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae). Xem vị đùm đũm.
ỚT 辣椒
Còn gọi là ớt tàu, ớt chỉ thiên, ớt chỉ địa, lạt tiêu.
Tên khoa học Capsicum annuum L.
Thuộc họ Cà Solanaceae.
Ớt (Fructus Capsici) là quả chín phơi khô của cây ớt Capsicum annuum L. và những cây ớt khác. Ta còn dùng cả lá tươi (Folium Capsici).
Tên khoa học do chữ Capsa là túi, ý nói quả ớt giống cái túi, annuum có nghĩa là mọc hàng năm.
A. Mô tả cây
Cây loại cỏ mọc hàng năm tại nhũng nước ôn đới, sống lâu năm và thân phía dưới hoá gỗ ở những nước nhiệt đới. Cây có rất nhiều cành, nhẵn. Lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn, phía cuống cũng thuôn hẹp, có cuống, phiến lá dài 2-4cm, rộng 1,5-2cm. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả mọc rủ xuống hay quay lên trời (chỉ thiên), hình dáng thay đổi, khi thì tròn, khi thì dài, đầu nhọn, màu vàng hay đỏ. Có loại rất cay, có loại ít cay, tuỳ theo nhiều điều kiện (Hình 286).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 286. Ớt - Capsicum annuum
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Được trồng ở khắp nơi tại Việt Nam. Có những cây mọc hoang, nhưng có lẽ đó cũng là do gần đấy có nhà trước trồng sau bỏ đi nơi khác, còn sót giống lại.
Tuy nhiên việc trồng ớt ở nước ta chưa phát triển lắm. Tại nhiều nuớc như Nhật Bản, Inđônêxya, Ấn Độ, nhất là Hungari người ta trồng hàng nghìn hecta, mỗi năm xuất cảng từ 2.500 đến 3.000 tấn ớt khô. Có những cơ quan chuyên nghiên cứu, trồng ớt, chọn giống, hướng dẫn cách thu hái, chế biến và có xí nghiệp chuyên môn chế biến ớt. Chủ yếu hái quả dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô. Lá thường dùng tươi.
C. Thành phần hoá học
Trong ớt có những chất chủ yếu sau đây:
- Capsicain C₁₈H₂₇NO₃ là một ancaloit chừng 0,05-2%, phần lớn tập trung ở biểu bì của giá noãn (Placenta), khi tán bột giá noãn, nhỏ nước lên rồi soi kính sẽ thấy các tinh thể hình vuông của capsicain. Độ chảy của capsicain là 65°, khi nhiệt độ hơi cao thì bổc hơi và kích ứng rất mạnh gây hắt hơi rất khó chịu. Cấu tạo hoá học của nó đã được xác định là axit isodexenic vanilylamit.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0398.jpg]
Tính chất cay này gặp kiềm không bị mất đi như chất cay của hồ tiêu. Nhưng nếu bị ôxy hoá bởi kali bicromat, hoặc kali pecmanganat thì tính chất cay sẽ bị mất đi.
Trong đó tính chất cay do gốc -CO-NH-CH-CH₂- quyết định.
Chất này với nồng độ 1/100.000 vẫn còn cay.
-
Một ancaloit nữa không có vị cay, ở dạng lỏng.
-
Chất capsaixin là hoạt chát gây đỏ nóng, trạng thái dầu lỏng, xuất hiện khi quả chín. Cấu tạo hoá học chưa xác định được. Tỷ lệ từ 0,01% ở những ớt thường đến 0,10% ở những ớt paprika.
-
Vitamin C, tỷ lệ khoảng chừng 0,8%-1,0% trong ớt của ta (Việt Nam-Bộ môn dược liệu, 1957). Có những tác giả nghiên cứu ớt ở châu Phi, Hungari, thấy lượng vitamin C lên tới 1,17%; 2,66%; 4,98%.
Ngoài ra trong ớt còn có chất khác như capsanthin-chất màu có tinh thể thuộc loại caroten-vitamin B₁, B₂, axit xitric, axit malic v.v …
D. Tác dụng dược lý
Gây xót da và niêm mạc: Gây đỏ mà không gây phồng da, làm ta có cảm giác nóng ở môi và dạ dày.
Tay mó vào ớt cần tránh dụi vào mắt. Bột ớt gây hắt hơi rất khó chịu, khi đốt ớt, khói ớt gây hắt hơi rất mạnh.
E. Công dụng và liều dùng
Ngoài công dụng làm gia vị, ớt có thể là một vị thuốc làm giúp sự tiêu hoá, làm ăn ngon chóng tiêu.
Dùng ngoài, ớt là một vị thuốc gây đỏ, kích thích tại chỗ, những trường hợp đau do phong thấp, đau lưng, đau khớp.
Ngày dùng 0,05g chia làm nhiều lần uống. Dùng ngoài không có liều lượng.
Đơn thuốc có ớt
Chữa rắn rết cắn:
Giãă nhỏ lá ớt, đắp vào nơi bị thương. Hết đau nhức thì bỏ đi. Ngày làm một đến hai lần cho đến khi hết đau. Thường 15-30 phút hết đau, 2-3 giờ là khỏi hẳn.
Bình luận