Cồn gọi lủ bông xanh, đại hoa lão nha chủy, madia (Mèo).
Tên khoa học Thunbergia grandiỳlora (Rottl. et Willd.) Roxb.
Thuộc họ 0 rò Acanthaceae.
A. Mô tả cây
Bồng báo là một loại dây leo, thân có thể dài 10-15m. Thân hình Crụ có lông. Lá mọc đối, có cuống dài 3-4cm, phiến lá hình tim hoặc bầu dục, đầu nhọn, chia nhiều thùy không đều, dài 10- ]5cm, rộng 5-10cm, gân lá hình chân vịt nổi rõ ở mặt dưới, hai mặt lá đều có lông, mặt dưới nhiều hơn. Cụm hoa mọc thành chùm, mọc ở kẽ lá hay đầu cành. Hoa to màu xanh (Hình 420, Hm 55,3).
Mùa hoa vào mùa hè và thu.
B. Phán bố, thu hái và chè biến
Cây bông báo mọc hoang và được trồng tại nhiều vùng ở nước ta, thường thấy ở những nơi dãi nắng, thoáng. Nhiều nơi trồng làm cảnh. Còn thấy mọc hoang ở Ân Độ, miền Nam Trung Quốc có trồng với tên đại hoa lão nha chùy. Trồng bằng những mẩu thân dài 15-30cm.
Người ta thường hái lá dùng tươi hay phơi hoàc sấy khô làm thuốc.
C’ Thành phần hoá học
Chưa thấy tài liêu nghiên cứu.
Vỏ còn dùng sắc uống chữa đi ỉa, lỵ.
Nước ngâm vỏ bời lời bào thành từng mảnh mỏng có thể dùng bôi đầu cho tóc bóng và im.
Dầu bời lời dùng làm sáp, chế xà phòng.
Gổ bời lời mịn, khá rắn, bảo quản tốt có thổ dùng làm các đồ dùng trong nhà.
Liều dùng: Ngày dùng 10 đến 20g vỏ dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài khồng kể liểu lượng.
Đơn thuốc có bời lời
Chữa thiên đầu thống.
Lá khô 16g sắc uống trong ngày.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 420. Bông báo - Thunbergia grandiflora
D. Công dụng và liều dùng.
Bông báo là một vị thuốc chữa rắn cắn rất phổ biến trong nhân dân. Khi bị rắn cắn dùng khãn buộc trên nơi rắn cắn theo như thường áp dụng khi bị rấn cắn để tránh cho nọc độc khỏi lan khắp cơ thể, nận cho máu chảy ra và nọc độc theo ra. Hái một nắm lá bổng báo tươi, bỏ cuống, rủa sạch, giã nhỏ, thêm ít nước vào, vắt lấy nưóc. Lấy nước này xoa bóp từ trên xuòng
Còn gọi là hoàng lồ, vàng [ổ, xuyên phá thạch.
Tên khoa học Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur (I).
Thuộc họ Dâu tàm Moraceae.
A. Mò tả cây
Cây nhỏ thân mềm yếu nhiều cành, tạo thành bụi, có khi mọc thành cây nhỡ, chịu khô hạn rất khoẻ, có nhựa mủ trắng, rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang, rất dài, nếu gặp đá có thể xuyên qua được (do đó có tên Xuyên phá thạch có nghĩa là phá chui qua đá), vỏ thân màu tro nau, (rên có nhiều bì khổng màu trắng, thân và cành có rất nhiều gai, gai già hơi cong xuống trồng như mỏ con quạ (do đó có tên cây mỏ quạ). Lả mọc cách, hình trứng thuòn, hai đầu nhọn, mặt lá nhắn, bóng, mép nguyên. Nhấm có vị tê tê ở lưỡi {đặc điểm). Cụm hoa hình cầu, đường kính 7-1 Omni, màu vàng nhạt, mọc thành đồi hay mọc đơn độc ở kẽ lá. Hoa đơn tính, đực cái khác gốc. Mùa hoa tại Hà Nội là tháng 4, Quả màu hồng họp thành quả kép. Mùa quả tháng 10-11 (Hình 421).
B. Phân bố, thu hái và chè’ biến
Cây mỏ quạ mọc hoang và được trổng làm hàng rào ở những đồi hoang hay đất vườn, cắt lẩy nhừng đoạn thân bánh tẻ đường kính ]-2cm, dài 15-25cm, cắm nghiêng, thường xuyên tưới nước cho tới khi bén rẻ thì thôi.
Thường dùng lá tươi, có khi hái cả cành về nhà mới bứt ]á riêng. Còn dùng rễ, đào về rửa sạch đất, cắt thành từng mẩu 30-50cm, phơi hay sấy khỏ. Vỏ ngoài màu vàng đất, vết cắt màu vàng nhạt, vị hơi tê tê.
C. Thành phần hoá học
Mới biết có hợp chất ílavonoit
D. Cóng dụng và liều dùng
Lá mỏ quạ tươi gần đây được dùng chữa vết
TODO: thêm hình ảnh
Hình 42]. Cây mỏ quạ - Cudrania tricuspìdata
thương phần mểm theo kinh nghiệm của cụ lang Long (Hải Dương) như sau: Chủ yếu dùng lá mỏ quạ tươi, rổi tùy theo vết thucmg, thêm một hai vị khác. Lá mỏ quạ tươi lay về rửa sạch, bỏ cọng, giã nhỏ đáp vào vết thương. Nếu vết thương xuyên thủng thì phải đắp cả hai bên, băng lại. Mỗi ngày rửa và thay bảng một lần. Thuốc rửa vết thương dùng là ưầu không nấu với nước (40g lá tráu, 2 lít nước, nấu sôi đề nguôi thêm vào đó 8g phèn phi, hoà tan, lọc và dùng rửa vết thương). Sau 3-5 ngày đã đỡ, khi đó hai ngày mới cần rửa và thay băng một lần.
Trường hợp vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thì thay thuốc sau: lá mỏ quạ tươi và lá thòng bong (xem vị này) hai vị bằng nhau giã ỉản cả hai thứ đấp lên vết thương, mỗi ngày rửa
và thay băng một lần. 3-4 ngày sau lại thay thuốc sau: lá mỏ quạ tươi, là thòng bong, lá hàn the (Desmodium heterophylỉum DC.) ba thứ bằng nhau, cứ 3 ngày mới thay băng một lần để vết thương chóng lèn da non.
Sau 2-3 lẩn thay băng bàng 3 vị trên thì rắc lên vết thương thuốc bột chế bằng phấn cây cau (sao khô) 20g, phấn cây chè (sao khô) 16g, ố long vĩ (bổ hóng) 8g, phèn phi 4g. Các vị tán mịn, trộn đều rắc lên vết thương rồi để yên cho vết thưcmg đóng vẩy và róc thì thôi (Tạp chí đóng ỵ vá Sức khoẻ , 4/1966, 5/1966).
Rễ được dùng trong nhân dần ta và nhân dân Trung Quốc (Quảng Tầy) làm thuốc khứ phong, hoạt huyết phá ứ, chữa ứ tích lâu nãm, bị đánh bị thương, phụ nữ kinh bế. Ngày dùng 10 đến 30g rẽ dưới dạng thuốc sắc. Theo kinh nghiệm nhân dàn, phụ nữ có thai không dùng được.
Chú ý nghiẽn cứu.
Bình luận