Hiện nay ở nước ta có khai thác một số rễ cây với tên phòng kỷ. Chúng tôi chưa có dịp xác định. Phòng kỷ khai thác ở Quảng Ninh không những dùng trong nước, lại còn được xuất sang Trung Quốc. Cần chú ý nghiên cứu.
Qua các tài liệu cũ, ở ta có một loại dây leo gọi là dây xanh hay dây một Cocculus sarmentosus Diels thuộc họ Tiết dê (Aíenispermaceae). Còn gọi là dây cót ken-dây sâm-hoàng thanh. Đây là một loại dây leo, có cành nhỏ, mang lông. Lá nhiều hình dạng, khi thì nhọn, khi thì tròn có khi lại bằng đáy, hai mặt có lông, nhung mặt dưới nhiều lồng hơn. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Chùm hoa dài 2- 5cm: Khi hoa mọc ở đầu cành thì dài hơn. Quả hạch, màu đen đường kính 5-6cm, hạch dẹt, trên mỗi mặt có một vết lõm hình liềm. Phôi nhũ hình móng ngựa.
Có tài liệu cho rằng đây chính là loài Cocculus trilohus nói trên.
Ngoài vị phòng kỷ nói trên, một số nơi còn
TODO: thêm hình ảnh
Hỉnh 396. Hán trung phàng kỷ - Aristoỉochia heterophylla Dây mang lá và hoa
dùng rễ cây gấc Momordica cochinchìnensìs với tên phòng kỷ. Việc thay thế này không có căn cứ. Có lẽ chỉ vì người ta thấy vết cắt ngang của rễ gấc hơi giống vết cắt ngang của vị phòng kỷ thật cho nên nhầm lẫn chăng.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 397. Tầm duột - Phyỉlanthus distichus
Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.
A. Mò tả cây
Tám duột là một củy nhỏ, thân nhẵn. Cành có vỏ màu xám nhạt, ưên có nhiều vết sẹo của lá cũ. Cành non màu xanh nhạt nhẩn. Lá mềm, mỏng, mặt trên màu xanh nhạt, mặt dưới màu nhạt hơn, dài 4-5cm, rộng 18-20mm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu phiến nhọn. Hoa mọc thành xim đơm nhị lệ trên những cành gầy nhỏ, dài 6-15cm, tụ thành tìmg cụm 4-7 hoa trên những mấu tròn, ở kẽ những lá đã rụng. Quả nang, 4 mảnh, khi chín có màu đen nhạt, đường kính 5mm có đài hơi đồng trưởng, cuòng quả đài chừng 7mm (Hình 397).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Thường mọc hoang và được ưồng ở miền Nam
LÁ
Còn gọi là ana klùa táo (Buôn Mê Thuột).
Tên khoa học Pìper lolot c. DC.
Thuộc họ Hồ tiêu Piperaceae.
A. Mô lả cây
Lá lốt là một loại cây mềm, mọc cao tới lm, thân hơi có lông. Lá hình trứng rộng, phía gốc
để ãn quả. Có mọc và được trổng ở Lào. Tại miền Bắc (Hà Nội), một vài nhà cũng trồng để làm cảnh. Chúng tôi chưa thấy cây mọc hoang.
Còn mọc ở nhiều nơi vùng nhiệt đới châu Á (Malaixia, Ân Độ, Inđônêxia, Philipin) và ờ đảo Mangat.
Tại Sài Gòn, người ta bán những quả chưa chín để ăn sông hoặc nấu chín, vỏ quả khi ấy có màu trắng vàng nhạt, trông như sáp, khía thành
4- 6 múi, vị chua.
Người ta còn dùng các bộ phận khác làm thuốc như vỏ thân, rễ, lá.
C. Thành phần hoá học
Trong quả có 89-91% nước, 0,73-0,90% chất protit, 0,61-0,76% chất lipit, 5,89-7,29% chất gluxit, độ chua biểu thị bằng axit axetic chừng 1,7%. Độ tro chừng 0,52-0,84%. Ngoài ra còn có chững 40mg vitamin c trong lOOg quả (gẩn như trong bưởi và chanh).
Các bộ phận khác chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.
D. Cồng dụng và liều dùng
Quả được dùng để ăn sống hoặc nấu canh cho mát, giải nhiệt chữa được chứng nhức đầu.
Những bộ phận khác, nhân dân có dùng nhưng thường để chữa ngoài da. Lá giã với hột tiêu đáp lên những chỗ đau ở hông (lumbago) và ở háng.
Rễ có độc tính, thường được nhân dân Malaixia dùng để xông chữa nhức đầu và ho, nhân đảo Giava dùng chữa hen (với liều rất nhỏ). Tại Ấn Độ, vỏ rẽ thường được dùng để đầu độc. Người bị ngộ độc nhức đầu, ngây ngất, chết với những triệu chứng đau bụng mạnh.
LỐT
hình tim, đẩu lá nhọn, soi lên có những điểm trong, phiến lá dài 13cm, rộng 8,5cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông ò gân, cuống lá dài chừng 2,5cm. Cụm hoa mọc thành bông, bông hoa cái dài chừng lcm, cuống dài lcm (Hình 398, Hm 38,1).
B. Phàn bố, thu háí và chê biến
Cây lá lốt mọc hoang và đuợc trồng tại nhiểu
nơi ở miển Bắc nước ta, thường trổng bằng mẩu thân cắt thành từng khúc 20-25cm, giầm vào nơi ẩm ướt, dưới bóng cây mát. Thường nhân dân trồng lấy ỉá làm gia vị hay làm thuốc. Lá hái
quanh nãm, có thể dùng thân, hoa hay rễ. Hái về dùng tươi hay phơi khò để dành, nhưng thường dùng tươi. Nếu dùng rễ thường hái vào tháng 8-9.
C. Thành phần hoá học.
Trong lá lốt có tinh dầu. Hoạt chất khác chưa rõ. •
D. Công dụng và liều dùng
Lá lốt là một vị thuốc còn được dùng trong phạm vi nhân dân.
Trong nhân dân đùng lá lốt làm gia vị hay làm thuốc sắc uống chữa đau xương, thấp khớp, tê thấp, đổ mồ hôi tay, chân, bệnh đi ngoài lỏng. Ngày đùng 5-10g lá phơi khô hay 15-30g lá tươi. Sắc với nước chìa 2'3 lần uống trong ngày.
Người ta còn dùng dưới dạng thuốc sắc rồi gho ngâm chân hay tay hay đổ mồ hởi, ngâm đến khi nguội thì thôi.
Đơn thuốc có lá lốt dùng trong nhân dân
Chữa chân tay đau nhức:
Lá lốt, rể bưởi bung, rỗ cây vòi voi, rễ cỏ xước tất cả đểu dùng tươi thái mỏng sao vàng, mỗi vị đều nhau 15g khô, sắc với 600ml nước. Cô còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.
LÂU
Còn gụi là lấu đực, huyết ti la tản, sa huenk (Lào), ko sa mat (Lào), đại la tản (Quảng Tây).
Tên khoa học Psychotria montanơ Bl.
Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.
A. Mô tả cây
Lấu là một cây nhỏ cao l-9m, thân nhẵn. Lá mọc đối, hình trứng thuôn hẹp ở 2 đầu, dài 8-20cm, rộng 2-7,5cm, màu xanh lục. Hoa mọc thành xim nhiều nhánh ở đầu cành, hoa nhỏ, cánh hoa màu trắng, hình chuông phía trong tràng ở họng có nhiều lông nhỏ màu ưắng. Quả hạch hình cầu hay hơi hình trứng, trên quả còn đài tồn tại, dài 5-7mm, màu đỏ, trong chứa 2 hạt màu đen (Hình 399).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc phổ biến ở khấp các tỉnh trong nước ta từ Bắc đến Nam. Còn thấy mọc ở Lào, Cămpuchia.
Người ta dùng rễ hay lá tươi hay phơi khô làm thuốc. Hái quanh năm, rửa sạch đất cát, dùng tươi hay phơi sấy khô. Không phải chế biến gì khác. Nếu hái rễ thì có thể thái mỏng, phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Chưa có tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy có phản ứng ancaloit.
D. Còng dụng và liều dùng
Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Thường chỉ thấy dùng ngoài. Theo nhân dân, lấu có tác dụng tán ứ, hết đau, tiêu thũng (sưng) chữa ngã hay bị đánh sưng đau, gãy xương sưng đau, đau do phong thấp.
Dùng ngoài da không kể liểu lượng: Thường lấy lá tươi hay rễ về nấu với nước để xông và ngâm chân sưng đau, bị cước sưng đau.
Chú thích:
Ngõài cây lấu kể trên, trong nhân dân còn dùng một sô’ cây lấu khác như Psychotria morindoides Hutch. hay Psychotrìa poìỉanei Pitard. với những tẽn lấu ông, lấu bà, lấu đực, lấu cái.
Bình luận