Còn gọi là riềng gió, ngải xanh, ngải mặt trời, riềng dại, khưhet phtu, prateal vong atit (Cămpuchia), gingembre fou (Pháp), phong khương (Trung Quốc).
Tên khoa học Zingiber zerumbet Sm.
Thuộc họ gừng Zingiberaceae.
A. Mô tả cây
Cỏ cao 1-1,3m. Thân rễ củ, phân nhánh, màu trắng nhạt, trong ruột màu vàng nhạt.
Lá mọc sít, gần như không cuống, thuôn dài đầu nhọn, phía trên màu xanh lục sẫm, hơi nhạt (phía dưới, bẹ nhẵn, trừ phía trên có lông. Cán hoa dài 30-60cm, phủ đầy vẩy, mép có mang lông. Hoa màu vàng, lá dài hình ống dài 2cm. (Hình 276).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 276 Gừng gió – Zingiber zerumbet
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang dại ở khắp nước Việt nam, còn thấy mọc ở Ấn Độ, Inđônêxya, Malaixia. Thu hái thân rễ củ vào mùa thu, rửa sạch, phơi hay sấy khô. Thân rễ mùi thơm, vị đắng.
C. Thành phần hóa học
Trong gừng gió có tinh dầu, mùi thơm và chất đắng.
D. Công dụng và liều dùng
Mới thấy sử dụng trong nhân dân làm thuốc kích thích, bồi dưỡng và tẩy độc.
Thường dùng chữa những trường hợp trong người thấy nôn nao, chóng mặt, muốn ngất xỉu. Còn dùng cho phụ nữ sau khi đẻ.
Thường dùng thân rễ thái mỏng, ngâm trong rượu 40-50^(o) với liều 40-50g tươi hay sấy khô trong một chai 650ml. Ngâm trong thời gian 15-20 ngày, gạn lấy rượu uống. Mỗi ngày dùng 2- 3 ly nhỏ (mỗi ly 15-20ml).
HẠT SẺN 两面针
Còn gọi là hoa tiêu, hoa tiêu thích, sơn hồ tiêu thích, ba tiêu, sưng, hoàng lực, dã hoa tiêu, lưỡng diện châm, lưỡng phù chắm, xuyên tiêu.
Tên khoa học Zanthoxylum nitidum DC. (Fagara piperita Lour.).
Thuộc họ Cam Rutaceae.
Hạt sẻn hay hoa tiêu (Pructus Zanthoxyli) là quả phơi hay sấy khô của cây sưng hay cây hoàng lực.
A. Mô tả cây
Cây sưng có nhiều cành dài l-2m, có thể dài tới 15m, đường kính thân có thể tới 15cm, cành màu đỏ nhạt, trên cành và cuống lá có những gai ngắn, dẹt, quay về phía dưới. Lá kép lông chim lẻ, có 2 đến 3 đôi lá chét mọc đối. Mặt dưới và mặt trên của gân chính đều có gai, do đó đã có tên lưỡng diện châm (hai mặt có gai). Hoa mọc thành chùm hay chùm xim đơm (glomérule) riêng lẻ hay tập trung ở kẽ lá. Quả có 1 đến 5 mảnh vỏ, thường là 3 tụ họp ở quanh trục, mặt ngoài nhăn nheo, mặt trong nhẵn. Mỗi vỏ cứng có một hạt cứng, đen bóng (Hình 277, Hm 17,3).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 277. Hạt sẻn – Zanthoxylum nitidum
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Mọc hoang khắp nơi ở nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh miền núi như Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hòa Bình, Hà Tây. Còn mọc ở Trung Quốc (Hải Nam, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây).
Đến mùa thu, quả chín, hái cả cành về, cắt lấy quả phơi khô. Khi nhấm quả thấy vị đắng, nóng và thơm. Bề ngoài vị thuốc trông rất đặc biệt: Quả tách thành 3 mảnh cứng, trong mỗi mảnh có một hạt đen bóng, cứng. Nhấm hạt có mùi thơm như chanh.
C. Thành phần hóa học
Trong hạt có 1% tinh dầu, với thành phần chủ yếu là limonen (44%), geranial (12,14%), neral (10,95%), linalol (6,84%) (theo Nguyễn Xuân Dũng, PA Leclerq, Th. Nga, 1990).
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0385.jpg]
Estragola
D. Công dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ: Vị cay, tính ôn, có độc, vào 3 kinh phế, tỳ và thận. Có tác dụng tán hàn, trục thấp, ôn trung, trợ hỏa, sát hồi trùng. Chữa bụng lạnh đau, thổ tà, tẩy giun.
Chỉ mới dùng trong phạm vi nhân dân. Quả được dùng làm thuốc với tên hoa tiêu hay thục tiêu để làm thuốc giúp sự tiêu hóa, trị giun sán, chữa đau nhức răng có khi dùng pha nước cho thơm. Ngày dùng 3-5g dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chú thích:
- Nhân dân ta còn dùng rễ cây này với tên hoàng lực hay rễ cây sưng hay huỳnh lực làn thuốc chữa sốt, thuốc ra mồ hôi, thuốc sốt rét kinh niên, thuốc tê thấp. Ngày dùng 4-8g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Trong rễ một số cây sưng có becberin.
- Ngoài việc nhập vị thuốc trên của ta, Trung Quốc còn dùng quả của nhiều cây khác cùng chi khác loài làm thuốc như sau:
a) Thiên tiêu-tiểu hoa tiêu là quả phơi khô của cây Zanthoxylum schinifolium Sieb. et Zucc. Quả có 1-3 vỏ cứng. Trong quả có tinh dầu, trong tinh dầu có 90% estragola C₁₀H₁₂O và becgaten.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0385.jpg]
Becgaten
Cùng một công dụng như hoa tiêu, ngoài ra còn dùng chữa ho, hen, làm gia vị thay hồ tiêu.
b) Xuyên tiêu hay hoa tiêu là quả phơi khô của cây Zanthoxylum simulans Hance (Zanthoxylum bungei Planch.). Quả có một vỏ cứng. Cùng một công dụng.
HẠT TIÊU 胡椒
Còn gọi là hồ tiêu, cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt.
Tên khoa học Piper nigrum L.
Thuộc họ Hồ tiêu Piperaceae.
Cây hồ tiêu cho ta hai vị thuốc
Hắc hồ tiêu (Fructus Piperis nigrum) là quả chưa chín hẳn, phơi khô của cây hạt tiêu.
Bạch hổ tiêu (Fructus Piperis album) là quả chín phơi khô và sát bỏ vỏ ngoài đi của cây hạt tiêu.
Tiêu là cay gắt; cây có vị cay gắt, sản sinh ở nước Hồ, do đó có tên. Tên cổ nguyệt là do chữ hồ (chữ Hán) đọc làm hai phần: cổ và nguyệt ghép lại thành chữ hồ.
A. Mô tả cây
Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Hình như giữa cây tựa và cây hồ tiêu có một sự sống nhờ nhau, cho nên khi gỡ cây hồ tiêu khỏi cây tựa, phần nhiều cây hồ tiêu bị chết. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: Một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá.
Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu đỏ, khi chín có màu vàng. Đốt cây rất dòn, cho nên khi vận chuyển, cần thận trọng để cây khỏi chết. (Hình 278, Hm 38,2).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây hạt tiêu được trồng ở nhiều tỉnh miền Nam nước ta, nhiều nhất ở Châu Đốc, Hà Tiên, Phú Quốc, Bà Rịa, Quảng Trị. Tại miền Bắc đã bắt đầu trồng ở vùng Vĩnh Linh, hiện đang cố di chuyển dần ra phía bắc miền Bắc nước ta. Tại các nước khác, còn thấy ở Malaixia, Indônêxya, Ấn Độ, Cămpuchia. Trung Quổc trước đây không có, mới thí nghiêm trồng ở Quảng Đông, Hải Nam, Quảng Tây và Vân Nam.
Trồng hồ tiêu bằng cách dâm cành, mỗi gốc cách nhau 2m, mỗi hecta chừng 2.500 gốc. Có thể trồng bằng hạt. Cây trồng bằng hạt khỏe hơn, chịu khô ráo hơn, nhưng ra nhánh chậm hơn. Tại Việt Nam, Malaixia người ta cho cây leo vào những cọc tựa, còn ở Ấn Độ, người ta cho leo vào các cây tươi. Trồng bằng giâm cành cây sẽ bắt đầu ra hoa vào năm thứ 3. Nhưng thường người ta bỏ lớp hoa đầu và chỉ cho quả đậu vào năm thứ 4. Hiệu suất cao nhất vào năm thứ 7-8, rồi giảm dần xuống cho tới năm thứ 20. Trung bình mỗi hecta cho 4.000-4.500kg hồ tiêu khô (mỗi gốc cho chừng 1,75kg).
Mỗi năm thu hoạch 2 lần, tùy theo người ta muốn có hồ tiêu đen hay hồ tiêu trắng, cách thu hái có khác nhau.
Muổn có hồ tiêu đen, người ta hái quả vào lúc thấy xuất hiện một số quả đỏ hay vàng trên chùm quả, nghĩa là lúc quả còn xanh. Những quả còn non quá chưa có sọ, rất giòn, khi phơi sẽ dễ bị vỡ vụn. Còn những quả khác khi phơi khô vỏ sẽ dăn deo lại, màu sẽ ngả đen, do đó có tên hồ tiêu đen.
Muốn có hồ tiêu trắng (còn gọi là hồ tiêu sọ) phải hái vào lúc quả đã thật chín, sau đó lấy chân đạp loại vỏ ngoài, hoặc cho vào rổ, ngâm dưới nước chảy 3-4 ngày, đạp loại vỏ đen rồi phơi khô. Loại này có màu trắng ngà, xám, ít nhăn nheo hơn, ít thơm hơn (vì lớp vỏ ngoài chứa tinh dầu bị loại đi), nhưng cay hơn.
C. Thành phần hóa học
Trong hồ tiêu có tinh dẩu và hai ancaloit. Ngoài ra còn một số chất khác như xenlulôza, muối khoáng.
Tinh dầu chừng 1,5-2,2%. Tinh dầu này tập trung ở vỏ quả giữa cho nên hồ tiêu sọ ít tinh dầu hơn. Tinh dầu màu vàng nhạt hay lục nhạt, gồm các hydrocacbua như phelandren, cađinen, cariophilen và một ít hợp chất có ôxy.
Hai ancaloit là piperin và chavixin.
Piperin C₁₇H₁₉O₃N có trong hạt tiêu từ 5-9%, có tinh thể không màu, không mùi, không tan trong nước sôi, rất tan trong rượu nóng, tính kiềm nhẹ, đồng phân với mocphin. Khi đun với dung dịch rượu kali, cho axit piperic C₁₂H₁₀O₄ và một ancaloit khác lỏng, bay hơi là piperidin C₅H₁₁N.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0387.jpg]
Axit piperic đun với Mn0₄K sẽ cho piperonala dùng chế nước hoa.
Chavixin C₁₇H₁₉O₃N, có người cho là một chất nhựa, có trong hồ tiêu từ 2,2-4,6%. Chavixin là một chất lỏng sền sệt, có vị cay hắc, làm cho hồ tiêu có vị cay nóng, tan trong rượu, ête, chất béo, đặc ở 0^(o). Vì chavixin tập trung ở phía ngoài vỏ cho nên hồ tiêu sọ ít hắc hơn hồ tiêu đen. Chavixin là đồng phân quang học của piperin. Thủy phân sẽ cho piperiđin và axit chavinic C₁₂H₁₀O₄.
Ngoài tinh dầu và ancaloit ra, trong hồ tiêu còn 8% chất béo, 36% tinh bột và 4,5% độ tro.
Do thành phần hóa học trên cho nên muốn kiểm tra xem có phải hồ tiêu không, ta có thể tìm piperin bằng một số phản ứng sau đây:
-
Nhỏ lên bột hồ tiêu axit sunfuric đặc sẽ thấy màu hồng, sau chuyển màu hồng nâu (phản ứng piperin).
-
Nhỏ lên bột hồ tiêu ít giọt cồn 90-95°. Chờ hơi khô nhỏ lên ít giọt nước, đậy kính mỏng lên, sẽ thấy ở mép tấm kính mỏng ít tinh thể pìiperin hình trám.
D. Tác dụng dược lý
Dùng liều nhỏ tăng dịch vị, dịch tụy, hồ tiêu kích thích tiêu hóa, làm ăn ngon cơm, nhưng liều lớn, kích thích niêm mạc dạ dày, gây sung huyết và viêm cục bộ, gây sốt, viêm đường tiểu tiện, đi đái ra máu.
Piperin và piperiđin độc ở liều cao, piperiđin tăng huyết áp, làm tê liệt hô hấp và một số đầu dây thần kinh (50mg/kg thể trọng) piperin tiêm bắp thịt cho thỏ và chuột bạch hoặc cho hít hơi với liều cao thì thấy sau một thời gian kích thích ngắn, có hiện tuợng hơi thở nhanh lên, chân sau tê liệt rồi mê hoàn toàn, co quắp, ngủ gà gật rồi chết do ngừng thở. Khi giải phẫu sẽ thấy các phủ tạng đều có hiện tượng xuất huyết.
Hồ tiêu còn có tác dụng sát trùng, diệt ký sinh trùng, gây hắt hơi. Mùi hồ tiêu đuổi các sâu bọ, do đó hồ tiêu được dùng bảo vệ quần áo len khỏi bị nhậy cắn.
E. Công dụng và liều dùng
Ngoài công dụng làm gia vị, hồ tiêu được dùng làm thuốc kích thích sự tiêu hóa, giảm đau (chữa răng đau), đau bụng. Ngày dùng l-3g dưới dạng bột hay thuốc viên.
Đơn thuốc có hồ tiêu
Đơn thuốc bổ kích thích tiêu hoá:
Hồ tiêu 5g, thạch túi 0,5g (nửa gam). Hai vị tán nhỏ, dùng hồ viên thành 100 viên. Ngày uống 2 đến 4 viên này làm thuốc bổ, kích thích sự tiêu hoá, ăn ngon cơm. Thuốc có độc dùng phải cẩn thận.
Đơn chữa đi lỏng, ăn vào nôn ra:
Hồ tiêu, bán hạ chế, hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Dùng nước gừng viên bằng hạt đâu. Ngày uống 15-20 viên. Dùng nước gừng chiêu thuốc.
HẬU PHÁC 厚朴
Tên hậu phác dùng để chỉ nhiều loại thuốc khác nhau. Chỉ có vị hậu phác nhập của Trung Quốc mới được xác định chắc chắn. Còn hậu phác khai thác tại nhiều tỉnh khác nhau trong nước ta, cần xác định lại.
Vì cây trồng chất phác, vỏ dày (hậu là dày) do đó có tên.
Hậu phác (Cortex Magnoliae) là vỏ thân hay vỏ rễ phơi hay sấy khô của cây hậu phác Magnolia officinalis Rehd. et Wils.
Có khi người ta dùng vỏ thân hay vỏ rễ phơi khô của một thứ khác thuộc loài này là Magnolia officinalis var. biloba Rehd, et Wils. Cả hai đều thuộc họ Mộc lan (Magnoliaceae).
Những cây này chưa thấy ở ta.
Hậu phác Việt Nam-nam hậu phúc. Chưa có ai xác định chắc chắn. Qua những tài liệu cũ thì có thể là vỏ của một trong các cây sau đây:
-
Hậu phác (vối rừng) Magnolia hypoleuca Sieb, et Zucc. Thuộc họ Mộc lan (Magnoliaceae).
-
Bá bệnh (bách bệnh, hậu phác)-Eurycoma longifolia Jack. (Crassula pinnata Lour.) thuộc họ Thanh thất (Simarubaceae).
-
Quế rừng (hậu phác)-Cinnamonum iners Reinw. Thuộc họ Long não (Lauraceae).
-
Vối rừng Syzygium jambolana (Lamk.) Merr. et Perry (Eugenia jambolana Lamk.) thuộc họ Sim (Myrlaceae).
Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu cây hậu phác chính thức để các bạn cùng cố gẳng phát hiện trong nước.
A. Mô tả cây
Cây hậu phác chính thức (Magnolia officinalis Rehd. et Wils.) là một cây to, cao từ 7-15m, vỏ than tím nâu. Lá mọc so le, cuống to, mập dài từ 2,4- 4,4cm, không lông, phiến lá hình trứng thuôn, dài 22-40cm, rộng từ 10-20cm, đầu hơi nhọn, phía cuống hẹp lại. Hoa màu trắng, thơm, đường kính có thể tới 12cm, cuống hoa to thô. Quả kép (gồm nhiều đại rời), hình trứng dài từ 9-12cm, đường kính từ 5-6,5cm.
Thứ hậu phác Magnolia officinalis var. biloba Rehd. et Wils, rất giống loài trên, chỉ khác ở đầu lá hõm xuống chia làm hai thùy (Hình 279, Hm 57,4).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây này hiện chưa phát hiện ở nước ta, nhưng qua địa lý phân bổ của cây này ở Trung Quốc: Những nơi khí hậu mát, ẩm ở Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến, chúng ta có thể tìm tại các tỉnh giáp giới Trung Quốc như Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang.
Vào những ngày tháng 5-6, chọn những cây đã được 20 năm trở lên, lấy vỏ như lấy vỏ quế. Sau đó đem về chế biến sơ bộ. Có nhiều cách chế biến khác nhau. Sau đây là hai phương pháp phổ biến nhất:
-
Cho vỏ vào ngăn gỗ, đun nóng cho bốc hơi nước, rồi phun nước lạnh vào, đun và phun nước lạnh như vậy 31ần là được, đem ra cuộn thành cuộn.
-
Đào hố dưới đất, cho vỏ vào, đậy rơm và ủ trong 3-4 ngày cho ra hơi nuớc, sau đấy cuộn lại thành từng ống. Do cách chế biến khác nhau cho lên hình dáng vị thuốc có khác nhau. Ở nước ta thường chỉ phơi khô, không cuộn gì cả.
C. Thành phần hoá học
Trong hậu phác của Trung Quốc, người ta lấy ra được chừng 5% phennol gọi là magnolola C₁₈H₁₈O₂ độ chảy 103°, chất tetrahydromagnolola độ chảy 144°5 và chất isomagnolola C₁₈H₁₈O₂ có độ chảy 143°5.
Ngoài ra còn có chừng l%tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu là machilola C₁₅H₂₆O.
[C:\Users\User\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0388.jpg]
Magnolola
Năm 1951 và 1952, Masao và Tomita đã chiết được từ một loại hậu phác Nhật Bản. (Magnolia obovata Thunb.) một chất có tinh thể gọi là magnocurarin C₁₉H₂₅O₄.l/4H₂0, có độ chảy 200°.
D. Công dụng và liều dùng
Hậu phác là một vị thuốc dùng trong đông y. Theo đông y, hậu phác có vị đắng cay, tính ôn, không độc, vào 3 kinh tỳ, vị và đại trường, chủ trị bệnh đầy bụng, ăn uống không tiêu, đau bụng, nôn mửa, đại tiện bí, táo. Theo đông y, người tỳ vị hư nhược, chân nguyên bất túc, phụ nữ có thai không dùng.
Liều dùng trong ngày: 6-12g dưới dạng sắc.
Mới đây, tại Trung Quốc, nguời ta phát hiện tác dụng kháng sinh của nước sắc hậu phác đối với vi trùng thương hàn, thổ tả, Staphylococ, Streptococ và lỵ Shiga.
Đơn thuốc có hậu phác
Hậu phác tam vật thang (đơn thuốc của Trương Trọng Cảnh) chữa đau bụng, viêm ruột, đi lỵ:
Hậu phác 6g, chỉ thực 3g, đại hoàng 3g, nước 600ml, sắc còn 300ml chia làm 3 lần uống trong ngày.
Đơn thuốc chữa đau bụng:
Hậu phác, tẩm nước gừng rồi nướng hay sao vàng, tán nhỏ. Ngày uổng 2 hay 3 lần, mỗi lần 3- 4g bột này.
Bình luận