Còn gọi là vuốt hùm, bonduc, eniquier, pois- quenique, yeux de chat.

Tên khoa học Caesalpinia bonducella Flem.

Thuộc họ Vang Caesalpiniaceae.

A. Mô tả cây

Cây nhỡ leo, có khi mọc rất dài. Cành khỏe, hình trụ, có nhiều gai nhỏ hình nón. Lá kép hai lần lông chim chẵn, có lá kèm kép gồm 3 lá chét, cuống lá có gai.

Hoa mọc thành chùm ở trên nách lá. Lá bắc hình dùi dài độ 1 cm, làm cho ngọn chùm trông như có tóc. Đài 5, tràng 4, hình trái xoan ngược, cánh hoa thứ 5 gấp góc thước thợ ở giữa. Nhị 10, nhụy ngắn, có rất nhiều lông. Quả lồi, có nhiều gai nhọn, đựng 2 hạt gần hình cầu, rất rắn. Mùa hoa quả: Mùa thu (Hình 538).

B. Phân bố thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại phổ biến ở khắp nơi trong nước ta, có khi được trồng làm hàng rào. Khi mọc hoang ở bãi biển, các hạt bị sóng mài trở thành nhẵn bóng giống như viên ngọc màu trắng xám như sừng. Người ta dùng hạt làm thuốc: Hái quả phơi khô, đập lấy hạt, phơi lại cho thật khô. Hạt gần hình cầu đường kính 15- 13 mm, vỏ dày 2 mm, rất rắn.

C. Thành phần hóa học

Trong hạt có 23,92% dầu béo, 1,888% nhựa đắng, 5,452% đường, 4,521% muối vô cơ, chất đạm tan được 3,412% và 18,2% chất đạm không tan, 37,795% tinh bột, 50% độ ẩm.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 538. Móc mèo núi - Caesalpinia bonducella

Dầu màu vàng nhạt, mùi khó chịu, vị hơi đắng do một ít chất nhựa (có thể dùng cồn để loại). Nhựa là thành phần hoạt chất đắng đướí dạng bột vô định hình, trắng, đắng, tan trong các dung môi thông thường nhưng ít tan trong ête dầu hỏa. Có tác giả gọi nhựa này là bondixin và cho rằng đây là hoạt chất của hạt.

L. Canonica và cộng sự (Gazz. Chim Ital., 96, 698, 66, 1966) và M. Erfan Ali và cộng sự (Chem. Ind., 1960, 463) đã thấy trong hạt móc mèo núi có nhiều hoạt chất đắng đật tên là α, β, γ, δ, ε, caesalpin.

D. Công dụng và liều dùng

Nhân dân dùng hạt móc mèo làm thuốc chữa sốt, và thuốc bổ với liều 0,5-1g một lần, ngày uống 2 hay 3 lần. Còn dùng chữa lỵ, tẩy giun và chữa ho. Nhân dân Ấn Độ, Philipin và đảo Rêuynion cũng dùng với cùng một công dụng. Thường dùng phối hợp với hồ tiêu.

Bác sĩ Isnard ở Marseille (Pháp) đã dùng bondixin với liều 0,10-0,20g dưới dạng viên để chữa sốt rét.

CÂY CỔ BÌNH

Còn gọi là hố lô trà, cây mũi mác, cây cổ cò, thóc lép.

Tên khoa học Desmodium trique-trum (L.) DC.

Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

A. Mô tả cây

Cây nhỡ hóa gỗ ở gốc, cao 0,50-2m. Thân cành ba cạnh, có vài lông cứng trên các cạnh. Lá một lá chét, có hai mũi nhọn cong thành hình kim ở gốc của lá chét, lá chét hình ba cạnh, dài, cụt, hình tim ở gốc, lá kèm hình ba cạnh nhọn, dạng vẩy. Cụm hoa ở nách hay ở ngọn thành chùm làm thành một chùy ở ngọn. Hoa màu hồng, xếp 1-2 cái một. Đài nhẵn chia 4 thùy. Cánh cờ hình mắt chim, cánh bên hình trái xoan ngược, cánh thìa nhỏ hình mỏ cong. Nhị một bó, bầu có lông mềm, quả thẳng có lông màu tro mềm hơi cong ở các mép, chia 6-8 đốt. Mùa hoa: Tháng 6-9 (Hình 359).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang dại phổ biến trên các đồi cỏ và đồi sim mua khắp mọi nơi ở nước ta. Còn thấy ở Trung Quốc, Ấn Độ. Người ta thu hái toàn cây vào mùa hạ và thu. Dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô mà dùng.

C. Thành phần hóa học

Trong cây có cumarin, hợp chất phenol axit hữu cơ và tanin (Quảng Châu thị dược phẩm kiểm nghiệm sở, Nông thôn trung thảo dược chế tễ kỹ thuật, 1971, 250).

D. Công dụng và liều dùng

Cây thuốc này hầu như chưa thấy ghi trong những tài liệu cổ mà chỉ thấy trong nhân dân người ta dùng cây này với tính chất một vị thuốc có vị đắng, tính hơi mát, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, hóa đờm, tiêu tích, sát trùng.

Trẻ con tiêu hóa kém, cam tích: Dùng riêng hay phối hợp với bạch mao căn, cam thảo, tất cả tán bột cho uống.

Ngày dùng 10-20 g dưới dạng thuốc sắc.

Chữa phế ung (ho có đờm xanh (mủ): Ngày dùng 10-15g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với xạ can, qua lâu.

Chữa viêm gan, viêm thận, thủy thũng, viêm ruột đị ỉa lỏng.

TÍA TÔ DẠI 山香

Còn gọi là é lớn tròng, tía tô giới ballote camphrée.

Tên khoa học Hyptis suaveolens (Linn). Poir

Thuộc họ Hoa môi Labiatae (Lamiacae).

A. Mô tả cây

Cò cao 1-1,5m, thân đứng phân nhánh, lúc mới hơi tròn, sau vuông, có nhiều lông. Lá có cuống dài, phiến lá hình trứng, đầu tù, phía dưới hình tim, dài 2-6cm, rộng 1,5-2cm, mép có răng cưa, hai mặt đều phủ lông gân không nổi rõ. Hoa mọc thành xim thưa hoa ở kẽ lá. Hoa nhỏ có cuống dài, đài hình chuông 10 gân, 5 răng. Tràng màu xanh hơi tím, thò ra ngoài đài, ống hình trụ, họng hơi phồng, phiến hai môi, môi dưới hình túi, 4 nhị, 2 trội. Quả đóng tư dẹt, rốn rộng (Hình 340).

B. Phân bố thu hái và chế biến

Mọc hoang dại ở khắp nơi trong nước ta, nhiều nhất ở miền trung và miền nam. Thường ít thấy sử dụng. Một số nơi nhân dân hái toàn cây tươi, cắt bỏ rễ, phơi hay sấy khô dùng dần

C. Thành phần hóa học

Trong cây tươi có 1-1,5% tinh đầu. Theo phân tích của Nayak U. G. và Guha P. C. (Indian Chem. Soc., 1952, 29 (3), 183-186) trong tinh dầu có 31% l.sabinen, 12% d.limonen, 17% azulen sesquitecpen, 40% sesquitecpen và ancol sesquitecpenic.

Theo Acta ci venzolana 21, 161 (1970) C. A. 74, 12-57200 (1971) trong lá tươi cất theo hơi nước có chứa 0,048% tinh dầu, trong tinh dầu có 0,8% camphen, 5,1% γtecpinen, 3,2% β pinen, 13,5% limonen, 42,3% fenchon, ngoài ra còn 5 tecpen chưa xác định, 11 sesquitecpen chưa xác định và 3 ditecpen. (Miltitzer berichte, 1971, 25)

D. Công dụng và liều dùng

Cây lá tươi được một số vị lương y quanh thành phố Hồ Chí Minh sử dụng như vị bạc hà mọc hoang để chữa cảm cúm, sốt. Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc, thuốc hãm cùng với một số vị thuốc khác như hương nhu, kinh giới …

Còn dùng lá tươi giã nát đắp lên những nơi viêm tấy, sưng đò, lở loét.

Một số người dùng cho phụ nữ sau khi đẻ uống cho lợi sữa.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 540. Tía tô dại - Hyptis suaveolens