Còn gọi là hán phòng kỷ, quảng phòng kỷ, mộc phòng kỷ, phấn phòng kỷ, hán trung phòng kỷ.

Tên khoa học (xem ờ dưới).

Phòng có nghĩa là phòng ngùa, kỷ là cho mình, ý nói là vị thuốc có tác dụng phòng ngừa tật bệnh cho mình.

Phòng kỷ là tên dùng để chỉ nhiều vị thuốc, nguồn gốc thực vật khác hẳn nhau. Sau đây chỉ kể một số vị thường dùng:

/. Phấn phòng kỷ hay phòng kỷ

Radix Stephaniae là rễ phơi hay sấy khô của cấy phấn phòng kỷ {Stephania tetrandra s. Moore) thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.

  1. Quáng phòng kỷ hay mộc phòng kỷ, đầng phòng kỷ, phòng kỷ (Quảng Tây) là rễ phơi hay sấy khồ của cây quảng phòng kỷ (Aristoỉochia westlandii Hemsl.) thuộc họ Mộc thông Aristoỉochiaceae.

  2. Hán trung phòng kỷ

Radix Aristolochiae heterophyllae là rễ phơi hay sấy khô của cây hán trung phòng kỷ hay thành mộc hương (Aristolochia heterophylỉa Hemsl.) cùng họ Mộc thông Aristolochiaceac.

  1. Mộc phòng kỷ.

Là rễ phơi hay sấy khô của cây mộc phòng kỷ (Cocculus trilũbus DC.) thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.

Cần chú ý khi dùng để theo dõi tác dụng có thể khác nhau do dùng vị thuốc khác nhau tuy mang cùng một tên.

màu nâu. Thân mềm, có thể dài tới 2,5-4ra, vỏ thân màu xanh nhạt, phía gốc hơi đỏ. Lá mọc so le, hình khiên, dài 4-6cm, rông 4,5-6cm, gốc lá hình tim, đầu lá nhọn, mép nguyên, hai mặt đều có lởng ngán, mểm, mặt trên màu xanh, mặt dưới màu tro. Cuống lá dài gần bằng chiều đài của lá, không đính vào đáy lá mà vào phía trong phiến lá. Hoa nhò, đực cái khác gốc, màu xanh nhạt. Ọuã hạch, hình cầu hơi dẹt. Mùa hoa tại Trung Quốc vào các tháng 4-5; mùa quả vào các tháng 5-6 (Hình 394).

B. Phàn bò, thu hái và chế biến

Cây này chưa thấy mọc ở Việt Nam. Tại Trung Quốc cây này mọc hoang ờ các đồì, ven rừng thấp, cỏ rậm ở các tỉnh Triết Giang, An Huy, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây.

Qua địa lý của cây ở Trung Quổc, ta có thể chú ý tìm và phát hiện cây này tại các tình biên giới của ta.

Vào các tháng 9-10, người ta đi đào rễ về, cắt bỏ rễ con, có khi cạo bỏ vỏ ngoài, bổ dọc rồi phơi khô, cắt thành từng đoạn 5-10cm.

C. Thành phần hoá học

Từ vị phòng kỷ này người ta đã chiết xuất được nhiều ancaloit khác nhau, trong đó chủ yếu là tetrandrin C₃KH₄₂N₂₀₆, demetyl tetrandrin và một ancaloit có tính chất phenol với công thức C₃₂H₄₂₀₆N₂.

D. Tác dụng dược lý

Thí nghiệm trên chuột, vị phòng kỷ có tác dụng kích thích đối với thần kinh trung ương và hô hấp.

33 - CTVN

Demetyỉteírandrin

Một số ancaloit có tác dụng hạ thân nhiệt, gây co bóp ruột thò và chuột. Trên mèo, thuốc có tác dụng hạ huyết áp.

E. Công dụng và liéu dùng

Vị thuốc mới được dùng trong phạm vi nhân dân. Theo tài liệu cổ, phòng kỷ vị rẵt đắng, cay và lạnh, ’ vào kinh bàng quang. 05 tác dụng khử phong, hành

thủy, tả hạ, tiêu huyết phận tháp nhiệt. Thường dùng chữa những bệnh như thủy thũng, cước khí, thấp thũng, khớp xương đau nhức. Sách cổ nói những người âm hư không thấp nhiệt không dùng được.

Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sấc, phối hợp với nhiều vị thuốc khác như bạch truật, cam thảo, sinh khương, quế tâm, ô đầu v.v…

  1. QUẢNG PHÒNG KỶ (RAĐIX ARISTOLOCHIAE WESTLANDII) Ms

A. Mô tả cày

Cây leo, sống lâu năm, có thân màu tro nâu hoặc nâu đen. Lá mọc so le, cuống lá dài 1 -3,5cm, phiến lá hình trứng dài, chiều dài 3-17cm, rộng ]-6cm, mép nguyên. Hoa đơn độc, mọc ở kẽ lá, tràng hình ống, màu tím, cong ỏ phía gần giữa (Hình 395).

B. Phân bố, thu hái và chê biến

Hiện cũng chưa thấy cây này tại Việt Nam. Ta vẫn phải nhập của Trung Quốc. Tại Trung Quốc, cây này mọc hoang ở rừng núi các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Do đó ta có thể để ý phát hiện tại các tình biên giới nước ta.

Mùa thu, đào rễ về, cạo vỏ ngoài hay không, cắt thành từng đoạn ngắn 14-25cm, (những củ to đem bổ làm đôi, xông diêm sinh, có nơi không xông diêm sinh) rồi phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hoá học

Trong quảng phòng kỳ, người ta cũng đã tìm thấy một số ancaloit, chủ yếu là muíongchin A: C₃₂H₂₄OnN.,, mufongchin B: C₁₄H₂₂OnN₁₄ và muíongchin C: ClsH2|O|0-

D. Công dụng và liều dùng

Cũng như phấn phòng kỷ, quảng phòng kỷ được dùng chữa các chứng thủy thũng, phong thũng, lãm bệnh, tiểu tiện khó khăn, phong tì thống, cước khí thấp thũng, hạ bộ ung thũng thấp thương. Tuy nhiên trong đông y người ta cho rằng