Cỏn gọi là cà pháo, trăng lao (Buôn ma thuột).
Tên khoa học Solanum torvum Swartz.
Thuộc họ Cà Solanaceae.
A. Mò tả cây
Cây nhỏ, cao 2-3m, thân ít gai, trên phủ nhiều lông hình sao mang nhiều cành mềm, có lông. Lá mọc so le, hình trứng, không đểu và lệch ở phía dưới, phiến lá dài 8-20cm, rộng 6-18cm, chia thùy nông, cuống lá dài 1,5-10cm. Hoa tráng, mặt ngoài có lông, mọc thành chùm nhiều nhánh ở kẽ lá. Quả hình cầu, đường kính 12- 15mm, nhẵn khi chín có màu vàng. Hạt hình íĩĩa, có những đường nhăn nhỏ, đường kính 1,5- 2mm. Mùa hoa quả: tháng 4-7 (Hình 422).
B. Phân bố, thu hái và chè biến
Mọc hoang dại ở khắp nơi, tại những bãi trống, ven đường.
Người ta dùng rẽ thu hái quanh năm. Đào về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô. Người ta còn dùng quả hái khi chưa chín hẳn.
C. Thành phần hoá học
Quả chứa mọt lượng nhỏ sitosterol, một dầu béo và một ancaloit gần như solasonin (theo Krishnamurti G. V. et T. R. Seshadri, 1949, J Sci. lndusir. Res. Part. B, ỉnde, 8: 97-99).
TODO: thêm hình ảnh
Hình 422. Cà dại hoa trắng - Solanum torvum
D. Công dụng và liều dùng
Tại Malaixia nhân dân dùng quả còn xanh để chế bột cary.
ở nước ta chỉ mới thấy dùng ngoài, giã nát lấy nước bôi lên chân tay nứt nẻ, nước ăn chân, nơi sâu bọ đốt.
A. Mô tả cày
Cây nhỏ mang nhiểu cành ngang, có lông và gai ngán quàp vể phía dưới. Lá hình bầu dục, đầu nhọn, mặt xù xì, mép có răng cưa, mặt trên có lổng ngăn, cứng, mặt dưới lông mềm hơn, phiến lá đài 3-9cm, rộng 3-6cm, cuống lá ngắn, phía trên cuống có dìa. Hoa không cuống, màu tráng, vàng, vàng cam hay đỏ mọc thành bông hình cầu gần giống như hình đầu. Hoa có lá bắc
TODO: thêm hình ảnh
Hình 423. Bông ổi - Lantana camara
Tơ MÀNH
Còn có tên là mạng nhện, đây chỉ.
Tên khoa học Hiptage madablota Gaertn,
(Hiptage benghalensis (1.) Kurz.).
Thuộc họ Mãng rô Maỉpighiaceae.
A. Mỏ tả cằy
Tơ mành là một loại cây mọc thành bụi có cành vươn dài, dựa vào cây khác, có lông mịn. Lá mọc đối, hình thuôn dài, phiến lá dài 9-10cm, rộng 2,5-5cm, hai mạt đều có lông, gốc gân
hình mũi giáo. Đài hình chuông, có hai môi. Tràng hình ống có 4 thùy không đều. Quả hình cầu, màu đỏ nằm trong lá đài, mang hai hạch cứng, xù xì (Hình 423).
B. Phân bố, thu háỉ và chế biến
Cây nguổn gốc các nước Trung Mỹ, sau được phổ biến đi khắp các nước vùng Viễn Đông, Mangat, Tân Calêdônia. Tại Tân Calêđônia cây mọc hoang và phát triển tới mức độ chính phủ ở đây phải ra lệnh triệt hết những cây này dù chỉ giữ một gốc để làm cảnh cũng không được phép.
Tại Việt Nam cây được trổng làm cảnh và mọc dại. Toàn thân cây tòa ra một mùi đặc biệt có người ưa nhưng cũng có người không ưa.
Lá và cành được dùng làm thuốc; hái về phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hoá học
Năm 1943 Low đã chiết được từ cây bông ổi một chất gọi là lantanin.
D. Công dụng và liều dùng
Một số nơi nhân dân dùng lá cây bông ổi giã nát đáp lên những vết thương, vết loét, người ta cho lá bông ổi có tính chất sát trùng lẻn da, cầm máu. Người ta còn dùng đắp nơi rân cắn và cho vào nồi nước xông chữa cảm mạo, sốt.
Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chá thích:
Cây này không có tác dụng chữa viêm xoang mũi như cây cứt lợn Ageratum conyzoỉdes. Chú ý tránh đùng lầm.
mmm
chính có hai hạch, cuống lá dài 5-6mm. Hoa trắng, mọc thành chùm ò kẽ lá. Quả có ba cánh nhẵn hơi có lông. Thân và lá khi bẻ ra có những sợi mành như chỉ (do đó có tên tơ mành hay dây chỉ, hay mạng nhện) (Hình 424).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại ở khấp miển rừng núi nước ta. Mùa quả vào tháng 9-11.
Người ta dùng thân và lá tươi, thu hái quanh
C. Thành phần hoá học
Theo Gorter (1920. Buỉỉ. Jard. Bot. Buitenzorg, ser. 3,2: 187) trong vỏ cây tơ mành có một chất glucozit gọi là hiptagin. Khi tác đụng chất kiềm loãng hay axit lên, hiptagin sẽ giải phóng axit xyanhydric.
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân Việt Nam thường dùng lá tơ mành tươi giã nát đáp lên vết thương, vết thương gẫy xương, không có liều lượng (dùng ngoài).
Nhân dân Ấn Độ dùng lá tươi làm thuốc diệt côn trùng và dùng ngoài chữa những bệnh ngoài da.
BÁT GIÁC LIÊN f\ftm
Còn gọi là độc diệp nhất chi hoa (một lá, một hoa) độc cước liên, pha mỏ (Thổ).
Tên khoa học Podophyỉỉum tonkìnense Gagnep.
Thuộc họ Hoàng liên gai Berberidaceae.
A. Mô tả cây
Cỏ nhỏ sống lâu nãm do thân rễ. Cao 30- 50cm. Rể phát triển thành củ mẫm, màu trắng, trong chứa nhiều tinh bột, trên mặt đất có một thân một lá, rất hãn hữu mới thấy trên một thấn có hai lá. Lá hình 4 đến 9 cạnh nhưng phổ biến là 6 đến 8 cạnh, đường kính 12-25CIĨ1, mép có răng cưa nhỏ, khi non có vân, mạch chính 6 đến 8 hoặc 9 tùy theo số góc của phiến lá, cuống lá dài 13-18cm. Hoa mọc đơn độc hay từng 4-12 hoa trên một cuống ngắn 3-4cm, 5 lá đài, 5 tràng màu đỏ, 6 nhị. Quả mọng, hình trứng, đường kính 12mm, màu đen, trong chứa nhiều hạt. Mùa hoa quả: tháng 3-5. (Hình 425).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây bát giác liên mọc phổ biến ở những rừng ẩm thấp vùng núi cao mát như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu.
Đào củ vào mùa thu đông, rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô là được. Có khi dùng tươi.
C. Thành phần hoá học
Trong loài bất giác liên Dysosma pìeìantha (Hance) Woodson người ta chiết được podophyl- lotoxin C,:H₂₂Os, desoxypodophyllin C₂₂H₂₂₀₇, astragalin, hyperin, quexetin, kaempíeritrin
C₂₇H₃₀O₁₄ và (3 sitosterol (Dược học học báo, 1962,82,777):
D. Công dụng và liều dùng Hiện nay ở nước ta ít sử dụng, nhưng nơi nào đùng thường chỉ đề chữa rắn cắn sưng tấy, áp
liên là Dysosma chengii, tại Quảng Tây (Trung Quốc) nhân dân còn dùng cây Dysosma pleiantha Woods cũng gọi ỉà bát giác liên vói cùng một công dụng, chữa rắn cắn, nhưng thêm tác dụng chữa ho. Lá hình dáng hơi khác, nhiều
OH
Podophyllotoxin
xe, mụn nhọt. Lấy củ giã nát nuốt lấy nước, bã đắp lên vết ran, rết cắn. Ngày dùng 1 củ chừng
8- 12g. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Chú thích:
Tại Trung Quốc người ta xác định bát giác
cạnh hơn, có nhừng góc ăn sáu vào phiến, hoa nhiểu, hơn, thân rễ dài hơn. Cây này chúng tôi chưa thấy ở ta, nhưng có thể có vì nhiều tỉnh nước ta giáp giới với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Bình luận