Còn gọi ỉà hoàng mù-hoàng mộc.
Tên khoa học Berberis waỉlỉchiana DC.
Thuộc họ Hoàng liên gai Berheridaceae.
()(*)()Cây bụi, cao 2-3m có những cành vươn đài, vỏ thân màu vàng xám nhạt, mỗi đốt, dưới chùm lá có gai ba nhánh, dài l-1,5cm. Lá mọc thành chùm 3-4 lá, có khi tới 8 lá ờ một đốt. Cuống lá ngắn 0,5-1 cm, phiến lá nguyên, hình mác, mép có răng cưa to, cứng, dài 16-17cm, rộng 4-6cm, mặt trên màu xanh lục nhạt, mặt dưới màu trắng. Hoa màu vàng, mọc thành chùm. Quả mọng hình trái xoan, dài khoảng lcm mọc trên một cuống dài 30-35mm, khi chín có màu tím đen trong chứa 3, 4 hạt đen dài 5-6 mm, rộng 2-3 mm.
Mùa quả ò Sapa: tháng 5-6 (Hình 132, Hm 8,3).
()(*)()Cây hoàng liên gai mọc hoang ở Sapa (quanh thị trấn) và trên những vùng núi cao tỉnh Lào Cai. Theo .tài liệu cũ, nhân dân Sapa gọi cây này là hoàng mù (có lẽ do chữ hoàng mộc là gỗ màu vàng) nhưng trên thực tế điều tra, chúng tôi thấy ít người biết tên này. Cho nên vào nãm 1961, khi chúng tôi phát hiện lại chúng tôi tạm đặt tên là hoàng liên gai (để phân biệt với cây hoàng liên cũng mọc ở đây nhưng thuộc họ Mao lương, xem vị này). Ta có thể dùng thân cây và rễ cây. Thân và rễ đào về cắt ngắn, thái mỏng hay phơi hay sấy khô mà dùng. Không phải chế biến gì khác. Có thể trồng cây này bằng hạt, cây mọc rất dễ dàng tại quanh thị trấn Sapa. Cho tới nay chua ai chú ý phất triển trồng. Chỉ dựa vào nguồn mọc hoang. Cần đặt vấn đề trồng để bảo đảm nguồn lợi lâu dài.
()(*)()Trong thân và rễ hoàng liên gai đều chứa
becberín. Hàm lượng đạt tới 3-4% (Đỗ Tất Lợi, 1963).
D. Công dụng và liều dùng
Hoàng liên gai được dùng làm thuốc chữa đi lỵ, đau mất, ăn uống kém tiêu. Dùng dưới dạng thuốc sắc, mỗi ngày uống 4 đến 6 gam. Có thể tán bột mà uống. Còn dùng làm nguyên liệu chiết xuất becberin.
Hoàng liên gai ngâm rượu uống chữa những triệu chứng của huyết áp cao như hoa mắt, nhức đẩu, chóng mặt, đau ngang lưng. Rượu hoàng liên gai ngậm chữa đau răng.
()(*)()Chữa đì lỵ:italic2 Hoàng liên gai 4g, nước 150ml,
Còn gọi ỉ à thập đại công lao (Trung Quốc).
Tên khoa học Mahonia healii Cam
Thuộc họ Hoàng liên gai Berberidaceae.
()(*)()Cây nhỏ cao 3-4m, cành không có gai. Lá kép dìa lẻ, đài 30 cm có hai gai nhỏ ở phía cuống lá, 5-7 lá chét hình trứng Hình 131. Hoàng liên ô rô đầu nhọn sắc, phía cuống tròn, dài 6- lOcm, rộng 20-45mm, mỗi bên 3-8 răng sắc ngắn dài 3-6mm. Cụm hoa tận cùng mọc thành bông, phân cành ờ phía dưới, nhiều hoa. Lá bắc hai lần ngắn hơn cuống hoa phụ. Hoa màu vàng nhạt. Lá đài 9 xếp thành 3 lớp, mỗi lớp 3. Cánh tràng 6. Nhị 6. Bầu hình nón, phình ở giữa. Quả mọng màu xanh hình cầu (Hình 133).
Hình J(33. Hoàng lién ô rô - Mahonia bealii
()(*)()Năm 1967, cây này mới được đoàn điều tra dược liệu của tỉnh Lào Cai, do Trường đại liọc dược khoa giúp về chuyên môn phát hiộn Lần đầu tiên ờ vùng núi cao huyộn Bát Xát. Nhân dân ở đây vẫn dùng như vị hoàng liên hay hoàng bá. Tên hoàng liên ô rô chúng tôi đặt cho vì lá giống cây ô rô, tác dụng như hoàng liên. Thường hái thân về, thái thành từng đoạn ngắn phơi khô, hoặc sắc uống hay tán bột uống. Khỏng có chế biến gì khác.
Theo tài liệu cũ, chỉ nói thấy phát hiện ỏ miền nam, vùng cao nguyên Langbiang (Lâm Đồng), và được xác định tên khoa học là Mahonia annamica Gagne. cùng họ.
()(*)()Trong thân cây hoàng liên ô rô có từ 0,35 đến 2,5% becberin.
Trong một loài hoàng liên ô rô Mahonia /ortunei (Fort.) Caư. có khoảng 0,3% ancaloit, trong đó chủ yếu là becberin, panmatin, jatrorrhizin, magnof]orin, oxyacanthin, và becbamin (Dược học tạp chí , 1952, 72, 773).
()(*)()Hoàng liên ô rô được nhân dân dùng chữa lỵ, án uống không tiêu, vàng da, đau mắt. Dùng ngoài chữa mẩn ngứa mụn nhọt. Mỗi ngày dùng
4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột.
Chú thích:
Cây này tại địa phương thường khỏng có tên, hoặc được nhân dân gọi ỉà cây hoàng liên, thổ hoàng liên hay thổ hoàng bá v.v… Để tránh nhầm lẫn và vì lá của cây này giống lá ô rô lại có công dụng gần như vị hoàng licn cho nên từ năm 1967, chúng tôi mới đặt tên cây này là hoàng liên ô rô. Tại Trung Quốc cây này có tên thập đại công lao.
Còn gọi tà nam hoàng liên, thích hoàng liên.
Tên khoa học Fibraurea tìnctoria Lour. (Fibraurea recisa Pierre).
Thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.
()(*)()Có tác giả gộp hai cây hoàng đằng Pibraurea iinctoria và Fibraurea recisa làm một loài; nhưng có tác giả phân thành hai loài khác nhau.
- Cây hoàng đầng Fibraurea recisa là một loài cây mọc leo, thân rất cứng to. Lá mọc so le, dài 9-20cm, rộng 4-10cm, cống, nhẵn phiến lá
TODO: thêm hình ảnh
Hình 134. Hoàng đáng- Pihraurea tinctoria
hình ba cạnh dài, phía dưới tròn, có ba gân chính rõ và hai gân cong; cuống dài 5-14cm có hai nốt phình lên, một ò phía dưới, một ố phía trên. Hoa mọc thành chùy, 2-3 lẩn phân nhánh, dài 30-40cm ở kẽ các lá đã rụng. (Hình 134, Hm 9,1)
- Cây Fibraurea tinctoria theo các tác giả chia làm hai loài thì khác cây trên ở chỗ lá nhọn, chùy hai đến bón lần ngắn hơn, chi phân nhánh hai lần ihôi.
()(*)()Mọc hoang khắp nơi ở vùng núi nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà Bình, Thanh Hóa, Hà Giang, Tuyên Quang, Nghệ An, Hà Tỉnh, v.v…
Mùa thu hoạch gần quanh nãm. Có thể thu hoạch cả cây, cắt thành từng đoạn thân hoặc có thể chỉ lấy rễ thỏi. Nhưng (hường dùng cả thân và rễ cắt thành từng đoạn ngắn 15 20cm, phơi hay sấy khô. Không phải chế biến gì khác.
()(*)()Trong hớàng đằng chủ yếu là panmatin với tỷ lệ 1 đến 3%. Ngoài ra còn có một ít jatrorrhizin, columbamin.
Theo Irokawa và cộng sự (Phytochemistry, 28,
4, 905-908, 1986) còn phát hiện 3
diterpenglycosìt là tenophylloloside 3, fibleucìnosiđe 4 và íibraurinosìde 5. Trước đó một số tác giả đã phát hiện 2 diterpen khác là fibleucine 1 và fibraucine 2.
()(*)()Theo Phạm Duy Mai và cộng sự thì panmatin clorua chỉ có tác dụng ức chế đối với vi trùng Staphyỉlococ và Streptacoc, còn đối với các loại vi trùng khác (lỵ, thương hàn…) thì không thấy có kết quả rõ rệt. Tác dụng ức chế vi trùng của panmatin clorua kém các loại kháng sinh thông thường (1962).
Liều độc DL-50 trên chuột nhắt trắng (tiêm mạch) là 18mg/kg thể trọng. DL-50 uống đối với chuột nhắt trắng là 57 V,5mg/kg. Đến nãm 1968, thí nghiệm lại, Phạm Duy Mai lại thấy DL-50 uống đối với chuột nhắt trắng lên tới ỉ ,260mg/kg.
Năm 1973, chúng tôi tìm thấy liều tác dụng trên người là 2,4-8mg/kg. Như vậy so với liều DL-50 của Phạm Duy Mai đã có mức độ an toàn từ 500 đến 1.660 lần (Đỗ Tất Lợi và cộng sự, Dược hục , 3-1974).
Như vị hoàng liên: Làm thuốc chữa đau mắt, sốt rét, lỵ, bệnh về gan, thuốc bổ đắng, chữa viêm ruột, dạ dày, ỉa chảy.
Ngày dùng 0,20 đến 0,40g làm thuổc bổ đấng, hay 2-4g dưới dạng thuốc viên, xirô chữa viêm ruột, ỉa chảy, dạ dày.
Panmatin clorua chiết từ hoàng đằng có thể dùng chữa đau mắt, ỉa chảy, lỵ như hoàng đằng. Sau công trình nghiên cứu của Đỗ Tất Lợi và cộng sự, panmatin clorua đã được Bộ y tế cho sản xuất dưới dạng viên 0,02g và dạng viên 5mg để chữa lỵ, ỉa chảy cho người lớn và trẻ em.
Liều dùng của viên panmatin như sau: Người lớn dùng viên 0,02g. Ngày uống từ 4 đến 10
Bình luận