Tên khoa học Thaỉicírum ỷoỉioỉosum D.c. Thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.
Thổ hoàng ỉiên {Rhiioma Thalictri) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây thổ hoàng liên Ợhalictrum ỷoỉiolosum D.c.) và nhiều loài khác thuộc giống Thalictrum.
A. Mô tả cây
Thổ hoàng liên là một loại cây nhỏ, cao 40- 50cm, thân mỏng, mềm nhẵm. Lá kép 3 lần lông chim có bẹ, cuống lá chính dài 10-15cm, cuống lá bậc 2 dài 5-7cm, cuống bậc 3 dài 1- 3cm. Lá chét hình tròn hay bầu dục, mép khía
TODO: thêm hình ảnh
Hình 137. Thổ hoàng liên - Thaỉictrum ỷoỉiolosum
tai bèo, phiến lá dài, lá màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn. Hoa nhỏ, cánh mỏng hơi phớt tím. Quả nhỏ, hình hạt thóc, đầu hơi có mỏ. Thân rễ to, thô đường kính 0,3-0,5cm có nhiều mấu, mấu cách nhau chừng 0,5-lcm, bẻ ngang thấy rất nhiều xơ, thịt màu vàng tươi, vàng trắng (Hình 137).
()(*)()Mới phát hiện mọc nhiều ờ vùng Tây tìắc nhiều nhất ở vùng Tủa Chùa. Đã đem trồng thí nghiệm tại vườn thuốc Sapa (Lào Cai) và Tầm Đảo (Vĩnh Phúc). Cây mọc tốt, ra hoa kết quả, rất đễ phát triển. Tuy nhiên cho đến năm 1967 chưa được đạt thành vấn đề trồng trên quy mô lớn. Chúng lôi cũng đã thí nghiệm trổng ờ đồng bằng, nhưng sang mùa nóng cây khô héo và chết.
Thu hoạch tốt nhất vào thu đông, nhưng vì mùa này cây lụi đi khó tìm, khí hâu lại rét quá, ít ai đi tìm đào, cho nên thường khai thác vào các tháng 6, 7,8. Háì về rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ nhỏ, phơi hay sắy khô. Không phải chế biến gì đặc biệt. Ta nên nghiên cứu trồng phát triển tại những vùng có khí hậu mát ở nước ta. ()(*)()
VỊ thuốc tiêu thụ trên thị trường ở nước ta là những mẩu thân rễ cắt thành từng đoạn ngấn, 2-4cm, đưòmg kính 0,2-0,5cm. Mặt ngoài màu nâu sẫm, còn mang những đoạn thân ngấn, rỗng, đường kính 0,3-0,5cm. Trên có những rể nhỏ màu vàng trắng dài hay sẹo của rẻ nhỏ. Thân rễ rắn cứng, mặt bẻ gẫy không phảng, màu vàng tươi. VỊ rất đắng.
Trên vi phẫu từ ngoài vào trong ta thấy:
-
Mộc thiêm gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật;
-
Mô vò phần ngoài gồm những tế bào nhièu cạnh,, hoặc hình chữ nhật, kéo dài đường tiếp tuyến, những tế bào phía trong nhiều cạnh, to nhỏ không đểu, xếp lung tung. Sát với libe là những đám cương mô.
-
Bó libe gỗ xếp rải rác thành từng đám trong mô ruột. Giữa bó libe gỗ là tia một khá rộng với những khuyến hình bầu dục, trông phảng phất như những ống bài tiết.
-
Trong mô ruổt nơi gẩn gỗ thứ cấp có những mạch gỗ sơ cấp.
Thổ hoàng liên tán bột có màu vàng xám, tươi dưới tia ngoại tím. Soi kính hiển vi thấy có những đặc điểm: Mảnh mộc thiẽm, mảnh mạch, tế bào cương mô đơn độc hoặc tập trung thành từng đám, mỗi đám gồm 2-4 tế bào, không có tinh bột.
Lấy một ít bột, đạt lên tấm kính, thêm một giọt cồn 95°, một giọt axít nitric 30% đậy kính mỏng, chờ 5-10 phút, nhìn qua kính hiển vi sẽ thấy tinh thể hình kim màu vàng tươi (becberin nitrat). Ta có thể lấy một ít bột, đặt trên kính và thêm 1 giọt axit clohydric, chờ 15-20 phút sẽ thấy tinh thể becberin hình kim. Lấy chừng 30mg bột, cho vào ống nghiệm, nhỏ thêm độ 3ml nước cất, lắc vài phút, lọc lấy 2ml, cho vào ống nghiệm khác, thêm lml axit suníuaric đặc 35%, nhỏ dấn dần vào ống nghiệm lml nước clo, nơi phân cách 2 dung dịch sẽ thấy một vòng màu đỏ.
()(*)()Trong thổ hoàng liên có khoảng 3% becberin,
0, 3% panmatin, 0,02% jatrorrhizin. Ngoài ra còn một ít thalictrin nhưng có khi không thấy chất này (C. /ì. 1942, 36, 5478 a và c. A. 1953, 47, 1166311).
()(*)()Như vị hoàng liên. Ngày dùng từ 4 đến 6g chia làm 2 hoặc ba lần uống dưới dạng thuốc bột hay làm thành viên. Dạng thuốc sắc quá đắng khó uống. Dùng ngoài cũng để chữa đau mắt, mụn nhọt như hoàng liên bấc.
Tẽn khoa học Cyclea bicristata Diels.
Thuộc họ Tiết dê Menispermaceae.
Còn gọi là sâm hai sóng.
()(*)()Loại cây leo, đường kính gốc thân có thể đạt 8-10cm, thân dài 20cm hoặc hơn. Trên thân cây thỉnh thoảng có u lồi, vỏ màu ngà vàng, cát ngang thân có màu vàng tươi với nhiều vòng tẩng tăng trưởng. Các tia tủy xếp xít nhau thành hình nan hoa. Cây chứa nhiều nước, nhấm có vị đắng. Cuống lá dài, hai đầu phình, phiến lá hình tim, dài 10-12cm, rộng 8-9cm, lá đơn nguyên, mọc cách, măt lá xanh sẫm, khôong có lông lá, có 5 gân nổi rõ. Phát hoa trên phần giá, hoa đực không cánh, đài dính, 4-5 bao phấn hoa cái có cánh hoa bằng nửa lá đài. Quả tròn 4mm.
Tầ có thể phân biệt giữa 3 cây hoàng đằng, vàng đằng và hoàng đằng loong trơn dựa theo một sô’ đặc điểm sau đây: mọc ở Định Quán), Cyclea tonkinensis Gagn. (Dây sâm nam đỏ phát hiện ờ Quảng Trị), Cyclea barbata Miers (Dây sâm, sâm lông thấy mọc ờ cấc tỉnh phía Nam tới Nha Trang), được nhân dân trồng để lấy lá dùng với tên Nhân sâm, rễ dùng làm thuốc lọc máu và lợi tiểu) và cây Cyclea bicrìsiata Diels (Sâm hai sóng) phát hiện ở Bảo lộc. Ngoài ra A. Pételot (1952) còn kê thêm Cvclea peỉtata Hook. et Thw. (Nhân sâm, sâm nam -tiếng Cămpuchia Plou, plou bat), thấy ở các tỉnh phía Nam và Cămpuchia, có tác dụng lợi tiểu, lọc máu và chữa bệnh gan). Ngô Vân Thu và Vương Văn Ánh phát hiện cây hoàng đằng loong ươn trong tỉnh Thuận Hải được thấy nhân dân xã Sùng Nhem huyện Đức Linh dùng chữa bệnh kiết lỵ, tiêu chảy, sớt rét, cảm sớt. ‘c. ()(*)()Ngô Vân Thu và Vương Văn Ánh (Dược học
2, 1986) đã thấy trong hoàng đằng loong trơn
Đặc điểm H. đ. Loong trơn Hoàng đằng Vàng đằng
Lá Mặt dưới xanh,
5 gân chính Góc lá hình tim Mặt dưới xanh,
3 gân chính
Góc lá thẳng, hơi lồi Mặt dưới mốc ưắng,
5 gân chính
Góc Lá thẳng, hơi lồi
A. ()(*)()Dủy hoàng đằng loong trơn mọc hoang dại rất phổ biến ở các tỉnh phía Nam từ Quảng Trị ưở vào, cả ở Cămpuchia. Trong cuổn Cây cỏ miền Nam Việt Nam (Q.l), Phạm Hoàng Hộ có kể Cycleơ aphyỉìa Gagn. (Dây sâm không lá thấy có chứa ancaloit mà chủ yếu là becberin, với hàm lượng từ 0,9 đến 1,1%.
()(*)()Làm nguyên liêu chiết suất becberin.
Dùng làm thuốc chữa kiết lỵ, ỉa chảy, ăn uống không tiêu, sốt, cách và liều dùng như vị hoàng đằng hoặc vàng đằng.
()(*)()
Còn gọi là hoàng nghiệt.
Tên khoa học**: Phellodendron amurense Rupr. (Phelìodendron amurense Rupr. var. sachalìnense Fr.Schmidt).**
Thuộc họ Cam Rutaceae.
Hoàng bá (cortex Phellodenđri amurensis) là vỏ thân cạo sạch vỏ ngoài phơi hay sấy khô cùa cây hoàng bá Phelỉodendron amurense Rupr, hoặc của cây xuyên hoàng bá Pheỉỉodendron amurense Rupr. var. sachalinense Fr. Schmidt
đều thuộc họ Cam (Rutaceac).
Vị hoàng bá thật hiện nay còn phải nhập vì cãy này vốn chưa có ở nước ta, đang di thực và mới được một số cây. Ta thường dùng một sô’ vỏ cây khác có màu vàng như vỏ cây núc nác (xem vị này) với tên hoàng bá nam, hay nam hoàng bá. Cần chú ý ưánh nhầm lẫn.
Vốn tên cũ là hoàng nghiệt là vỏ màu của cây nghiệt. Sau này người ta dùng chữ bá thay cho chữ nghiệt để viết cho đơn giản (chữ nho).
()(*)()Hoàng bá là một cây to cao, có thể cao tới 20- 25m, đường kính thân có thể đạt tới 70cm. vỏ thân dày phân thành hai tầng rõ rệt. Tầng ngoài màu xám, tầng trong màu vàng. Lá mọc đối, kém gồm 5-13 lá chét nhỏ hình trứng dài, mép nguyên. Hoa tím đen, trong chứa 2-5 hạt. Ra hoa mùa hạ. (Hình 138)
Ngoài cây hoàng bá kể trên, tại Trung Quốc người ta còn khai thác vỏ cây xuyên hoàng bá Pheỉlodendron amurense Rupr. var. sachalinensỉs Fr. Schmidt (có tác giả xác định là Phellodendron sinensis Schneider), cây nhỏ và thấp hơn, 7-15 lá chét, quả hình trứng, còn quả
cay hoàng bá nói trên hình cầu.
()(*)()Vị hoàng bá thật hiện còn phải nhập. Tại Trung Quốc, hoàng bá mọc ở Hắc Long Giang, Hà Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quí Châu.
Tại nước Nga, hoàng bá mọc ở nhiều vùng Xibêri.
Mấy năm gần đây chúng ta đã xin được hạt và bắt đầu trổng thí nghiệm. Sơ bộ thấy cây mọc khòe, tốt. Nhưng chưa đưa ra trổng quy mò lớn.
Vỏ thân thường hái vào mùa hạ, cạo sạch vỏ ngoài, chỉ còn lớp trong dày chừng lcm, sau đó cát thành từng miếng dài 9cm, rộng 6cm, phơi khô. Loại tốt có màu vàng tươi rất đẹp, vị rất đáng.
()(*)()Trong hoàng bá có chứng 1,6% becberin
C, 0H1,OJN, một ít panmatin C₂₁H₂₃₀₅N.
Ngoài ra trong hoàng bá còn những chất có tinh thể, không chứa nitơ như obakunon và obakulacton C,6H30Os, chất béo, hợp chất sterolic.
Phản ứng hóa học thử hoàng bá: Láy chừng
0, 2g bột, thêm 2mL axit axetic, đun sổi nhẹ, lọc. Phần lọc thêm dung dịch iốt sẽ cho kết tủa màu vàng (becberìn iođua).
Phản ứng Liebecman xác định sự có mặt hợp chất sterolic.
Bột hay mảnh vỏ soi ánh ngoại tím cho huỳnh quang màu vàng tươi.
()(*)()Nhiểu thí nghiệm chứng minh tác dụng kháng sinh của hoàng bá, dịch chiết bằng cồn ức chế các vi trùng Staphyllococ, lỵ, thổ tả, Sal- monella Ợhực vật học báo 1954, 3(2): 121- 131, Giang tây Trung Y báo 1956 2: 54-58).
()(*)()Thuốc bổ đắng, giúp cho sự tiêu hóa, kém chưa đi rửa, bệnh do khuẩn ở ruột lỵ. Còn dùng rửa mặt, thay hoàng liên chế becberin, chữa giun, thuốc nhuộm, đắp chữa mụn nhọt, vết thương.
Ngày dùng 5 đến lOg dưới dạng thuởc sắc, thuốc bột.
Đông y coi hoàng bá có vị đắng, lạnh không độc có tác dụng tả tướng hỏa, thanh thấp nhiệt, dùng làm thuốc kiện vị, ngoại khoa chữa mắt và bệnh ngoài da, còn dùng chữa hoàng đản, trĩ hậu môn, phụ nữ bị xích bạch đới.
()(*)()Kiệnitalic2 vị kém tiêu hóa, hữàng đản do viêm ổng mật: hoàng bá 12g, chi tủ 12g, cam thảo 6g, nước 600ml. sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày.
Người có thai đi lỵ: Hoàng bá tẩm mật sao cho cháy, tán nhỏ. Dùng một củ tỏi nướng chín, bóc vỏ giã nát thêm bột hoàng bá vào viên bằng
hạt ngô. Ngày uống 3 lần mỗi lần 30-40 viên.
Lở miệng, loét lưỡi: Hoàng bá chẻ nhỏ, ngậm. Nước có thể nuốt hay nhổ ()(*)()
Chú thích:
Trong nhân dân ta thường dùng vỏ cây núc nác với tên hoàng bá hay nam hoàng bá. Hai vị thuốc có thành phần khác hẳn nhau nhung lại có mội số tấc dụng giống nhau (xem vị này).
()(*)()
Tên khoa học Euphorbìa thymiỷolia Burm {E.prostrata Grah).
Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.
Ta dùng toàn cây phơi khô của cây cỏ sữa nhỏ lá.
()(*)()Cỏ sữa là một loại cỏ nhỏ, gầy. mọc là là trên mặt đất, thân và cành tím đỏ. Lá mọc đối, hình bầu dục hay thon dài, dài nhất 7mm, rộng chừng 4mm mép lá hơi khía lai bèo. Cụm hoa mọc ờ kẽ lá thành xim đơn mang ít hoa. Quả nang đường kính ],5mm, có lông. Hạt nhần, dài
0, 7mm có 4 góc (Hình 139, Hm 45,3).
Toàn thân bấm đều chảy một chất nhựa mủ trắng.
()(*)()Mọc hoang khắp nơi ở Việt nam. Ưa các đất có sỏi, đá thường thấy ở các kẽ các gạch, sân xi măng dọc đường xe lửa có dải những hòn đá vôi xanh.
Hái vào mùa hè. Hái về rửa sạch, sao vàng phơi khô mà dùng. Có mọc ờ Ấn Độ, Inđônêxia, Trung Quốc, Philipin.
()(*)()Toàn cây có ancaloit (theo c. A. 1966, 64, 1013a), thàn và lá có cosmosiin C2|H₂₀O₁₀ chừng
0, 037%, rễ có taraxerol, và tirucallol và
myrixylalcohol (C. A. 1967, 66, 73239g).
()(*)()Theo Côpacdiuxki 1947 {Buỉỉ, Soc. Chìmie
biologique số 29: 924-926) chắt nhựa mủ của cỏ sữa có tính gày xót đối với niêm mạc và độc với cá và chuột.
- Dung dịch cỏ sữa 1/20 đến 1/40 có tác dụng ức chế sự sinh sản của các loại vi trùng lỵ Sonner, Plexne và Shiga.
()(*)()Vị thuốc chữa lỵ rất phổ cập trong nhân dân. Hay dùng nhất đối với trẻ em. Hằng ngày dùng 15g đến 20g (có thể dùng tới 50g) dưới dạng thuóc sác.
Người lớn có thể dùng tới 100-150g.
Mặc dầu có những tài liệu nghiên cứu dược lý kể trên, thực tế lâm sàng không thấy có triệu chứng độc trong và sau khí uống thuốc. Thời gian điều trị thường từ 5-7 ngày là khỏi. Dùng riêng hoặc phối hợp với vị rau sam (xem vị này ở trên).
Ngoài công dụng chữa lỵ ở nước ta, cây cỏ sữa nhỏ lá còn được dùng ở nước khác làm thuốc diệt sâu bọ và duốc cá (Ân Độ), giã đắp chữa bệnh ngoài da và vết thương (Malaixia, A Rạp).
Chú thích:
Ở nước ta còn có một cây mang tên cỏ sữa lớn lá (Euphorbia hiria L. Euphorbia piỉuỉiỷera L. cùng họ). (Hình ]38, Hm 50,1).
Theo A. Pételot sưu tầm, thì cây này được nhân dân ta dùng chữa lỵ. Nhưng theo kình nghiệm bản thân chúng tôi đã dùng và giới thiệu từ trước 1945, cũng như kinh nghiệm của Viện nghiên cứu đóng y (Y học thực hành tháng 11- 196]) thì cây cỏ sữa nhò lá hay được dùng hơn.
Cây cò sữa lớn lá ]à một cây sống hằng năm hoặc sống dai, thân mọc thẳng có thể cao tới 30-40cm, màu đỏ nhạt, phủ lông màu vàng nhạt. Có lá màu xanh lẫn màu đỏ, mọc dài, hình mác dài 2-3cm, rộng 5-15mm, mép có rãng cưa nhỏ, cuống ngán, hoa nhỏ, màu trắng đỏ nhạt, mọc thành xim đơn, hình cầu ở kẽ lá. Quả lúc đầu đỏ, sau xanh và nàu. Hạt màu đỏ nhạt, nhò có mặt xù xì.
Mọc hoang khấp nơi ỡ Việt Nam. Cũng ưa những đất sỏi, đá như cỏ sữa nhỏ lá.
Theo Povver và Browning (1913 Pharm. 506) trong có sữa lớn lá có axit galic, một glucozit độc chưa xác định được và một châ’t nhựa. Toàn cây chứa taraxerol, b sitosterol (Phy- tochemistry 1972, II, 1860). Theo Wehmer c. trong Die Pfỉanzenstoffe II, 1931, 699, thi ưong cỏ sữa lớn lá có jambulol, axit melissic, một ít tinh dầu, một ít ancaloìt, quexetin. Theo Kaưer w. {Konstií, und Vorkom, der Org. Pflanzenst, 1958, 1538) có xanthorhamnin C₃₄H₄,O20 ước
0, 2%. Thân chứa ữiedelin, myrixyl alcohol hentriacontan (C. A., 1967, 66, 26559b). Hoa tươi chứa axit ellagic.
Hoạt chất của sữa lớn lá với liều nhỏ có độc đối với súc vật. Con vật chết do ngừng hô hấp, tim ìúc đầu đập nhanh sau chậm lại. Tại chỗ không có tác dụng trên da cũng như niêm mạc nhưng gây xót với niêm mạc dạ dày. Liểu độc đối với súc vật lg cây khô /1 kg thổ trọng.
Tại các nước khác, cỏ sữa lớn lá được dùng chữa đau mắt, loét giác mạc (Malaixia), bệnh ho, hen …
Năm 1975, ở Việt Nam cao nước cỏ sữa Lớn lá được phối hợp với vị hoàng đằng để sân xuất thuốc chữa hội chứng lỵ mang tên codanzit (Phan Quốc Kinh và cộng sự, 1975).
()(*)()
Còn gọi là ba chẽ, niễng đực.
Tên khoa học Desmodium cephalotes Wall.
Thuộc họ Cánh bướm Pabaceae ịPapiìiỡnaceae).
()(*)()Cây nhỏ sống lấu nảm, thân nhỏ, có nhiều cành. Thường cao 0,5-0,60m nhưng cũng có thể cao tói 1,5Om. Lá gồm ba lá chét hình bầu dục với lá kèm nhỏ. Đường gân mặt trên lõm. Mặt dưới lồi, mặt dưới lá phủ một lớp lông tơ trắng trông hơi lấp lánh, đặc biệt các lá non ở ngọn có phủ lớp lông tơ nhiều hơn. Hoa nhỏ màu trấng, mọc thành chùm đơn ở kẽ lá. Quả giáp, hạt hình thân. Mùa hoa quả: Hè và thu. (Hình 141, Hm 15,4)
()(*)()Ba chẽ là một cây mọc hoang ở nhiều nơi
nhất là đồi núi ít cây vùng trung du. Nhân dân địa phương cắt cây về làm phân xanh hoặc làm củi đun. Có thể trồng bằng hạt hay bằng dâm cành, ở đồng bằng hay vùng trung du cây đểu mọc tốt.
Bộ phận dùng là lá, hái lá về phơi hay sấy khô. Có thể sao cho hơi vàng và cho thơm mà đùng.
()(*)()Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
D. Tác dụng dược lý
Nhân dân nhiều vùng trung du đã biết sử dụng lá cây này chữa kiết lỵ. Cách dùng như sau: hái lá về phơi khô hay sao vàng. Mỗi ngày dùng từ 30 đến 50g thêm nước vào, đun sôi kỹ (sôi chừng 15 phút đến nửa giờ). Chia hai ba Lần uống trong ngày. Uống liên tục từ 3 đến 5 ngày tùy theo bệnh nặng nhẹ.
Còn dùng chữa rấn cắn: Lá ba chẽ tươi giã nát hay nhai nát, nuốt nước, bã còn lại đắp lên nơi rắn cắn.
()(*)()
italic1Còn gọi là quang lang, chambok barang parcang prang (Càmpuchia), badamier (Pháp).
Tên khoa học Terminơỉia catappa L.
Thuộc họ Bàng Combretaceae.
()(*)()Bàng là một cây to, có thể cao tới 25m, cành mọc vòng làm cho tán cây xòe ra như cái lọng. Lá to hình thìa, đầu tròn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông hung nhạt phiến lá dài 20-30cm, rộng 10-13cm. Hoa nhiều mọc thành bổng dài 15-20cm, trên cán bồng hoa có lông. Quả hình bầu dục, nhẵn dẹt với hai bên dìa hẹp, đầu hơi nhọn, dài 4cm, rộng 3cm, dày 15mm, nhẵn, cơm màu vàng đỏ, có xơ. Hạch rộng 15mm, hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu. Mùa quả: Tháng 8-
10 (Hình 142).
()(*)()Cây bàng được trồng khắp nơi làm cây hóng mát. Ngưòti ta cho rằng cây bàng vốn không có ở nước ta, mà di thực tù đảo Moluques vào.
Người ta thường đùng lá, vổ cây và hạt.
Hình Ì42. Bàng - Terminalia catappa
Về mật nguyên liệu cho dẩu thì năng suất bàng thấp vì việc tách nhân bàng ra vất vả. Từ 100 g hạch khô chỉ tách được 23g nhân.
()(*)()Lá và vỏ cây chứa tanin: vỏ thân chứa từ 25- 35% tanin pyrogalic và tanin catechic. vỏ cành chứa 11% tanin.
Nhân hạt chứa 50% dầu béo màu vàng nhạt hay lục nhạt, vị dễ chịu, giống như dầu hạnh nhân, ăn được. Tuy nhiên nhân chỉ chiếm 10% toàn quà cho nên cuối cùng toàn quả chỉ chứa chừng 5% dầu béo, việc tách nhân lại đòi hỏi nhiều công sức, chưa cơ giới hóa đuợc cho nên đến nay việc khai thác dầu hạt bàng chưa được đặt ra. Một số tính chắt của dầu nhân hạt bàng đã được nghiên cứu kết quả như sau: Tỷ trọng
0, 917, chỉ số khúc xạ ở 35°c là 1,4660, độ đông đặc +rc, chỉ số axit 2,94, chỉ số xà phòng 197,8, chỉ số iốt 60,72, phần không xà phòng hóa 0,38, axit toàn phán tách được ở dạng đặc, màu vàng nhạt hay trắng, phần axit đạc chiếm tới 36%.
Do chỉ sổ iốt thấp và do không cho phản ứng hexabromua cho nèn người ta có thể kết luận dầu bàng không có glyxerit linoleic và thuộc loại dầu không khô.
()(*)()Tại một số vùng, nhân dân dùng vỏ bàng sấc uống chữa ly, ỉa chày và rửa các vết loét, vết thương.
ở Ân Độ, Inđônêxia và Philipin người la cũng dùng như vậy. Liều dùng hằng ngày 12-I5g, sắc với 200ml, thêm ít đường cho dẻ uống.
Lá còn được dùng sắc uống chữa cảm sốt làm cho ra mồ hôi, hoặc lá tươi giã nát, xào nóng để đắp và chườm vào nơi đau nhức.
Hạt dùng chữa ỉa ra máu (sắc uống), có thể dùng ép lấy dầu để ăn hay dùng trong công nghiệp.
()(*)()
Còn gọi là mỏ quạ, mỏ ó, gãng cơm, găng vàng, găng sơn, găng cườm, ihiết thỉ mễ (Trung Quốc).
Tên khoa học Canthium parviỷoỉium Roxb.
Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.
Cẩm xà lạc là tên vỏ cây này được xuất bán cho Trung Quốc. Tên này phổ biến ở tỉnh Quảng Bình là nơi được khai thác thu mua để xuất. Tại nhũng nơi khác tên mỏ quạ, mỏ ó phổ biến hơn. Cũng có nơi gọi là cây găng, tên mỏ qụa còn dùng để chỉ một cây khác (xem vị này) cần chú ý tránh nhầm.
()(*)()Cẩm xà lặc là một cây nhỏ có gai dài từ 0,3 đến 5cm hai đầu quặp lại gần giớng như mỏ qụa, phía gốc gai có lông. Lá hình trứng thuôn dài mặt trên nhẵn, mặt dưới hơi có lông trên đường gân; phiến lá dai, cuống rất ngắn. Hoa màu vàng họp thành chùm ở kẽ lá từng 2 đến 8 hoa. Cánh hoa 2-3mm. Quả hạch hình cầu đường kính 8-lOmm khi chín có màu vàng nhạt trong có hai ngăn mỗi ngăn chứa một hạt.
Mùa hoa và quả: tháng 10-12 (Hình 143, Hm 35,1).
()(*)()Mọc hoang ờ khắp các tình miền Bấc nước
TODO: thêm hình ảnh
Hình 143. Cẩm xà lặc - Canthium parvifolium
ta, đôi khi được trồng làm hàng rào vì rất nhiểu gai nhọn. Còn thấy mọc ở Hoa Nam, Trung Quốc, các nước nhiệt đới châu Á.
Thưcmg người ta đào rễ bóc lấy vỏ phơi khô để xuất, trước đây thu hái cả cành. Quả dùng để giặt quần áo thay xà phòng.
()(*)()Chưa thấy tài liêu nghiên cứu. Sơ bộ thấy có ancaloit và saponozit.
D. Tác dụng và liều dùng
Chưa rõ Trung Quốc mua vỏ rễ vể để làm gì, số lượng mua cũng còn ít chưa đáng chú ý.
Trong nhân dân thường dùng quà thay xà phòng để giặt quần áo, tơ, lụa không chịu được kiềm của xà phòng, vò quả rất đắng muốn àn
thì phải loại bỏ vỏ.
Vỏ thản và vỏ cành dùng chữa lỵ. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Mồi ngày dùng 5-10g.
Lá cây này được dùng giã nát đắp lên vết thương, nhưng ít được dùng hơn lá cây mỏ quạ thuộc họ Dâu tằm (xem vị này).
()(*)()
Còn gọi là xiêm phung, cham pou, champuk shralok (Cămpuchia), som hu, som phu, kam tai, kam set (Lào), rocouyer-annato.
Tên khoa học Bixa orelỉana L.
Thuộc họ Điểu nhuộm Bixaceae.
()(*)()Cây nhỏ đẹp, cao 4”5m. Lá đơn mềm, nhỉn, hơi hình ba cạnh, đấu nhọn, phía cuống hình tim, dài ]2cm, rộng 7cm hay hơn, cuống lá phình ở đầu, dài 34cm. Hoa khá lớn, màu tía, hay trắng, mọc thành chùy ngắn ở đầu cành. Bầu hai lá noãn với hai giá noãn mang nhiêu noãn. Quả to, đỏ tía, hình cầu, trên mặt có gai mềm, mở bằng hai van, mỗi mảnh mang ở trong rất nhiều hạt. Hạt hơi hình lạp phương trên một cuống ngắn, xung quanh tễ nở ra thành một thứ áo hạt ngắn màu đỏ (Hình 144).
()(*)()Cây nguồn gốc ở các vùng nhiệt đới châu Mỹ, hiện được trồng phổ biến ở An Độ và nhiều nước khác.
Tại nước ta, Lào, Cămpuchia nhiều gia đình trồng lấy chất nhuộm màu. Người ta thu hái hạt, cho ngay vào nước thật nóng, khuấy mạnh rồi để hạt lèn một cái rây để xát, tách hết bạt và những tạp chất. Được thứ cơm hạt để yên cho lên men và loại chất nhầy. Màu lắng xuống dưới, gạn lấy chất màu này, để cho hơi khô thì gói vào lá chuối thành từng bánh 1 đến 2kg. Chúng ta có chất màu mềm, mặt ngoài hơi xỉn, nhưng khi cắt thì giữa có màu tươi hơn. Chất màu này Ưên thị trường quốc tế trước đây người ta gọi là
TODO: thêm hình ảnh
Hình 144. Điều nhuộm - Bixa orellana
Rôcu (Rocou hay Acnato-Arnatto của người Anh, Orlean của người Đức). Nước ta hầu như chưa sản xuất loại chất màu này. Có khi để cho màu giữ được tươi, người ta cho thêm vào một ít nước tiểu.
Lá tươi được hái và dùng làm thuốc, c. Thành phần hóa học Trong cơm của hạt điều nhuộm có 20-30% nước, đường, một ít tinh dầu, tanin, 4-5% hợp chất carotenoit được Chereuil nghiên cứu từ 1833 và chiết được hai chất chủ yếu là bixin và orelin.
Bixin là este monometylic của một axit di- carboxylic gọi là norbixin. Hợp chất bixin thiên nhiên cis so với nối kép 3, không vững bền, dể chuyển thành trans hay isobixin.
Bixin kết tinh trong axít axetic thành hình
phiến màu đỏ tươi, tan trong các dung môi hữu cơ, trong dầu khi thêm axit sunfuric đặc sẽ chuyển thành xanh. Thủy phân kiềm cho norbixin.
Hiện đã tổng hợp được bixin.
Nam 1937, Bachster và Cavallini còn chiết được từ dầu hạt có chứa bixin 2,5g chất không xà phòng hóa được và phần khồng háp thụ trên alumin hoạt hóa chiếm 0,58% chất dầu lục nhạt, vị và mùi đặc biệt, các tác giả đặt tên là bixola C]8H30O. Đây là một ancol olefinic sesquitecpenic có 4 nối kép gần như chất bixin, các chất tecpen.
Bixin là một chất màu đỏ tươi, có tinh thể, orelin có màu vàng, không tinh thể. Khi thêm axit sunfuric thì cả hai chất đều cho màu xanh.
()(*)()Trước đây khi chưa có màu tổng hợp anìlin, thì rôcu là một chất màu quan trọng vì tuơi đẹp, xà phòng khõng làm sạch, nhưng chịu ánh sáng thì kém. Hiện nay một số nơi còn dùng nhuộm len, lụa, và sợi bông.
Còn dùng trong công nghiệp vecni, xi đánh sàn, và nhất là do độ tan trong chất béo, lại không độc và có tính chất của vitamin A, rôcu được .dùng để nhuộm bơ, phó mát (ngâm trong dầu vừng 2 đến 3 giọt cho lkg bơ). Nếu nhuộm nước thì dùng muối kiềm của norbixin.
Tại quê hương châu Mỹ, cơm và hạt được đùng làm thuốc tẩy giun.
Một số nơi dùng ()(*)()chữa lỵ, chữa sốt, sốt rét. Có khi sắc uổng nhưng có khi người ta chi nấu nước cho bệnh nhân tắm, thuốc thấm qua da mà tác dụng. Ngày uống 20-30g lá tươi sao khô. Dùng nấu nước tắm chữa sốt không kể liều lượng.
()(*)()
Còn gọi là Bởng trang đỏ, mẫu đơn, kam ron tea (Cãmpuchia).
Tên khoa học ỉxora coccinea L.
Thuộc họ Cà phê Ruhiaceae.
A. Mô ()(*)()cây
Cây nhỏ, thân cành nhãn, cao 0,6-lm. Lá mọc
đối, không cuống hay gần như không cuống, phiến lá hình bầu dục, hai đáu nhọn, dài 5-10cm, rộng 3-5cm, Mật trên xanh bóng. Hoa nhỏ, dài, màu đỏ, mọc thành xim dày đặc ở đầu cành. Quả màu đỏ tím, cao 5-6cm, rông 6-7mm. Mỗi ô có 1 hạt, cao 4-5mm, rộng 3-4mm, phía Lưng
phổng lên còn phía bụng thì hõm vào. (Hình 145)
B. Phàn bố, thu hái và chê biến Cây mọc hoang ở những vùng đồi trọc, dãi nắng. Nhiều nơi nhất là đình chùa hay trổng làm cảnh. Đừng nhầm cây mẫu đơn này hay đơn dỏ với cảy mẫu đơn Paeonia suffruticosa (cho vị mẫu đơn bì, xem vị này).
Người ta đào lấy rễ gần như thu hái quanh năm, rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc. Còn có nơi dùng hoa phơi hay sấy khô làm thuốc.
C. Thành phần hóa học Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.
D. Công dụng và liều dùng
Rễ đơn đò được nhân dân dùng làm thuốc lợi tiểu, dùng trong những trường hợp đái đục, còn dùng chữa cảm sốt, đau nhức và chữa lỵ. Dùng mỗi ngày 10-15g dưới dạng thuốc sác hay ngâm rượu.
Hoa cũng được dùng chữa ìỵ dưới dạng thuốc sắc.
Chú. thích:
Bên cạnh cây đơn đỏ, nhân dân còn trổng cây đơn trắng hay bông trang trắng, mẫu đơn trắng có tên khoa học Ixora nigricans R. Br. thuộc cùng họ (Hình 146). Cũng được trổng làm cảnh và một sổ nơi dùng làm thuốc cùng một công đụng với đơn đỏ, nhưng đơn đỏ có tác dụng mạnh hơn.
Bình luận