TODO: thêm hình ảnh
Hình 392. Náng hoa trắng ’ Crinum asiơticum
(ỉ ì Trong nhiêu hệ thống phái sinh, hiện nay họ Amaryliidaceae nhập chung vào họ Hành ịAỉliaceae).
B. Phán bố, thu hái và chẻ’ biến
Cãy náng mọc hoang ở những nơi ẩm ướt trong khắp nước ta; đôi nơi đem về trồng làm cảnh. Trồng bằng dò. Màu hoa trắng đẹp, thơm về chiều và đém. Còn thấy mọc ở Ân Độ, Inđônêxya.
Người ta dùng lá và củ để làm thuốc. Thường dùng tươi. Hái về dùng ngay, không phải chế biến gì cả.
OH
Lycorin
C. Thành phần hoá học
Trong cây náng hoa trắng có chất ancaloit gọi là lycorin C]6H)7N04 có độ chảy 275-280°C. Ngoài ra còn những ancaloít có cấu tạo tương tự. Nghiên cứu thành phần hoá học trong cây náng hoa trắng ỏ Việt Nam, chúng tôi thấy ancaloit dược phân phối cả iá, hoa, đò và quả (Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu và Phạm Xuân Cù, 1963).
D. Công dụng và liều dùng
Nhân dân thường dùng lá cây náng hơ nóng đắp và bóp vào những nơi sai gân, bong gân khi ngã. Còn dùng xoa bóp khi bị tê thấp, nhức mỏi. Khòng thấy dùng để uống.
Nhân dân tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc) cũng dùng lá hơ nóng đắp và bóp vào những nơi sưng đau như ở ta, có khi người ta còn sắc với nước để lấy nước sắc rửa tri ngoại, có kết quả tốt.
Tại Ân Độ, người ta hay dùng củ ép lấy nước pha loãng để uổng thuốc gây nôn; không gây tầy và không gày đau đớn. Với liều nhỏ, nó gây buồn nôn và ra mổ hôi. Thường dùng củ tươi giã nát, thêm chừng 4 phần nước vắt lấy nước, rồi cứ vài phút lại uổng chừng 8-16g cho đến khi nón được. Có thể thêm đường cho dể uống. Trẻ con cũng dùng được. Cần chú ý theo dõi tránh ngộ độc.
Người ta còn dùng nước ép củ để nhỏ vào tai ^chữa đau tai.
Chú thích:
Ngoài cây nấng hoa trắng nói trên, ở nước ta còn dùng cả cây nấng hoa đỏ (Crinum ensi/olium Roxb.) cùng họ. Cây giống cây náng hoa trắng, nhưng có hoa màu đỏ tím. Trong lá, hoa, quả và dò cây này chúng tôi cũng thấy có nhiều ancaloit như trong náng hoa tráng (Đỗ Tất Lợi và cộng sự, Góp phán nghiên cứu những cây có ancaioit ở Việt Nam, Tạp chí y học, 1964).
Cùng một công dụng như náng hoa trắng. Cây náng hoa đỏ cũng được trổng làm cảnh vì dáng cây đẹp. hoa đỏ tím đẹp, mùi thơm mát.
TRINH Nữ HOÀNG CUNG
Cỏn gọi là: Hoàng cung trinh nữ-Tây nam văn châu lan- Thập bát học sĩ (Trung Quốc), Tỏi Thái Lan.
Tên khoa học Crinum ỉatifolium L.
Thuộc họ Thuỷ tiên Amaryiìidaceae.
Tên trinh nữ hoàng cung do cây này được dùng để trị bệnh cho những phụ nữ còn trinh tiết được tuyển chọn vào cung vua nhưng không được vua chú ý nên mắc một số bệnh riêng của
những phụ nữ sống trong cùng hoàn cảnh.
A. Mô tả cây
Trinh nữ hoàng cung là một loại cỏ, thân hành như củ hành tây to, đường kính 10-15cm, bẹ lá úp vào nhau thành một thân giả dài khoảng 10-15cm, có nhiều lá mỏng kéo dài từ 80-100cm, rộng 3-8cm, hai bên mép lá lượn sóng. Gân lá song song, mặt trên lá lõm thành rãnh, mặt dưới lá có một sống lá nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát đất có màu đỏ tím.
IIinh 393. Trinh nữ hoàng cung Crinum latiỊoỉium L,
Hoa mọc thành tán gồm 6-18 hoa, trên một cán hoa dài 30-60cm. Cánh hoa màu trắng có điểm màu tím đỏ, từ thân hành mọc rất nhiểu củ con có thể tách ra để trồng riêng dễ dàng (Hình 393, Hm 25,4).
B. Phân bô, thu hái và chê biến
Nhần dân thuờng nói rằng trinh nữ hoàng cung chỉ mọc ở Thái Lan, Cămpuchia nhưng thực tế ở Việt Nam cũng có mọc từ lâu và hiện nay thấy trồng ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam. Ở Việt Nam bộ phận đùng là lá dùng tươi hay phơi hoặc thái nhỏ sao vàng dùng dần. Nhưng ở một số nước người ta dùng cán hoa, thân hành của cây, thái nhỏ phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Năm 1984, Ghosal (Ấn Độ) đã phân lập và xác định từ cán hoa trinh nữ hoàng cung một glucoancaloit có tên latisolin. Thủy phân bằng enzym thu được aglycon có tên latisodin ụ. Chem. Res., 1983).
Ghosal và Shibnath còn phản lập được từ thân hành lúc cây đang ra hoa pratorimin và pratosin là 2 ancaloit pyrolophenanthrinđon mới cùng với những chất đã được biết như pratorimin, ambelin và lycorin.
Năm 1986, Ghosal còn công bô’ tách được từ trinh nữ hoàng cung một sô’ dẫn chất ancaloú có tác dụng chống ung thư crinaíolin và crinafolidin (C. À., 1987, vol, 106. 6428ón). Năm 1989, Ghosal còn chiết được từ dịch ép của cán hoa trinh nữ hoàng cung 2 ancaloit mới có nhân pyrrolophennanthridin là 2-epilycorin và 2- epipancrassidin (Phytochemistry, 1989, 28(9), 2535-7).
Một sô nhà khoa học Nhật Bản (Kobayashi Shìgenru., Tomođa. Masashi, vol. 102. 3236s và 128865C, 21140k) cũng tìm thấy một số ít ancaloit khác từ trinh nữ hoàng cung.
D. Công dụng và liều dùng
Từ những năm 1989-1990, nhân dân ta đồn nhau tìm sử dụng lá cây trinh nữ hoàng cung để chữa những truờng hợp u xơ, ung thu tử cung (đối với phụ nữ) u xơ và ung thư tiển liệt tuyến (đối với nam giới) với cách dùng như sau: Ngày uống nước sắc của 3 lá trinh nữ hoàng cung hái tươi thái nhỏ ngắn l-2cm, sao khô màu hơi vàng, uống luôn trong 7 ngày, rồi nghỉ 7 ngày, sau đó lại uống tiếp 7 ngày nữa, laị nghi 7 ngày và uổng tiếp 7 ngày. Tổng cộng 3 đợt uống là 7x3x3 là 63 lá, xen kẽ 2 đợt nghỉ uống, mỗi đợt 7 ngày. Nhiều người chỉ uống nước sắc trinh nữ hoàng cung như trên cũng thu được kết quả tốt. Nhưng có một sô’ bệnh nhân uống thêm cùng nước sắc trinh nữ hoàng cung nước sắc một “đơn thuốc bổ thận”, khi hỏi từ đâu có đơn thuốc này, thì câu trả lời không rõ ràng, nhưng vì tôi được đọc một bản chụp một tò báo tiếng Việt ở nước ngoài gửi về (không thấy ghi tên, ngày tháng), nhiỀu người chỉ uống nước sắc trong đơn thuốc này không cùng uống nước sắc trinh nữ hoàng cung mà cũng
khỏi cho nên tôi cứ ghi lại ở đây để mọi người
Chế viễn chi 8g
Đảng sâm 12g
Quảng bì 12g
Hắc đỗ trọng 12g
Sơn thù nhục 8g
Phục linh 12g
Nhục thung dung 12g
Câu kỷ tử 12g
Bạch truật H
Để tiện cho người dùng cũng như tiện cho
người thầy thuốc theo dõi kết quả điều tri, sau khi kiểm tra đúng các vị thuốc, chúng tôi chế thành ba dạng thuốc: Trà trinh nữ hoàng cung, trà thuốc bổ thận, trà phối hợp thuốc bổ thân và trinh nữ hoàng cung. Ở những nơi khí hậu quá ẩm thấp, dạng trà khó bảo quản, chúng tôi chế thành dạng nước sắc
cùng theo dõi: Đơn thuốc có 18 vị như sau:
Liên nhục 12g
Thục địa 12g
Mâu đơn 8g
Hắc táo nhân 16g
Trích hoàng kỳ 8g
Trích thảo 8g
Ngưu tất 12g
Hoài sơn 12g
Trạch tả 12g
đóng ống, cũng với ba dạng như trên.
Khi uống phối hợp nước sắc trinh nữ hoàng cung với đơn thuốc bổ thân, thì cân 10 thang thuốc bộ thận. Tuần đầu uống 4 thang thuớc bổ thận cùng với 7 ngày uống nước sắc trinh nữ hoàng cung. 2 tuần sau, khi uổng nước sắc trinh nữ hoàng cung thì mỗi tuần uống 3 thang thuớc bỏ thận.
Bình luận