Còn gọi là tần, (ứ diệp thảo, điền tự thảo, phá đồng tiền, dạ hợp thảo, phak vèn (Lào-Vientian).

Tên khoa học Marsilea quadrifoỉia L. {Lemna quadriỷolia Desr. Pteris quadri/oỉiata L.).

Thuộc họ Tẩn Marsileaceae, bộ Dương xỉ (Hydropterides).

A. Mô tả cây

Cỏ bợ là một loài cỏ mọc hoang ờ những nơi ẩm hay ồ dưới nước, có thân rễ bò mảnh, mang từng nhóm 2 lá một, cuống lá dài 5-15cm, Mỗi lá gồm 4 lá chét, xếp chéo chữ thập. Tối đến, các lá chét ni xuống. Từ gốc mỗi nhóm lá phát xuất ra một chùm rẻ phụ. Bào tử quả rất bé, nầm ở gốc cuống lá chia làm nhiều ô ngang trong chứa bào tử nang lớn, sẽ sinh nguyên tản cái và nhiều bào tử nang nhỏ sẽ cho nguyên tản đực. Mỗi ô đó tương đương với một ổ tử nang và có áo riêng của nó. (Hình 175, Hm 48,3)

B. Phán bố, thu hái và chế biên

Cây cỏ bợ là một loài cỏ mọc hoang ở khắp nơi ở Việt Nam. Cây mọc cạnh ao, đầm nơi ẩm thấp, đồng ruộng (chú ý phân biệt nó với cây chua me có 3 lá). Còn mọc hoang tại các tỉnh ở Trung Quốc, châu Âu và châu Mỹ. Khi dùng, người ta hái toàn cây về dùng tươi, ít khi dùng khỏ.

C. Thành phần hóa học

Trong cỏ bợ có xyclaudenol C3|H520 (Reinhold và cộng sự-Progress in Phytochemis- //7(1) 1968, 669).

D. Cồng dụng và liều dùng

Còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân

Cỏ MAY

Còn gọi là bông cỏ, thảo tử hoa, trúc tiết thảo.

Tên khoa học Chrysopogon aciculatus (Retz.)

Hình ỉ 75. Rau bợ nước - Marsiíea quadri/oiìa

dân. Nhàn dán Việt Nam có nơi hái vé làm món rau ăn sống. Có khi hái về sao vàng hoặc phơi khỏ, sắc đặc uống làm thuốc mát thông tiểu tiện, chữa bạch đới, khí hư, mất ngủ.

Có nơi còn giã cây tươi, ép lấy nước uống chữa rắn độc, bã đắp lên những chỗ sưng đau, sưng vú, tắc tia sữa.

Nhân dân Trung Quốc cũng dùng với những công dụng gần tương tự như ỏ ta.

Liều dùng hàng ngày 20-30g.

Cần chú ý nghiên cứu.

Trin., (Andropogon aciculatus Retz. Rhaphis trivialis Lour.).

Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramìneae).

A. Mó tả cây

Cây cỏ may là một loại cỏ sống lâu năm, thân rễ cứng mọc bò. Thân mọc bò lan trẽn mãt đất, mọc đến đâu bén rể đến đó: Những thân mọc thẳng lên cao 20-50cm, có nhiều đốt, đốt phía gốc ngắn hơn phía ưên. Lá mọc so le, lá phía dưới mọc mau, lá phía trên mọc thưa hơn. Phiến lá hẹp dài 2-10cm, rộng 3-5mm, đầu nhọn, phía cuống tròn, nhẩn. Cụm hoa 1Ĩ1ỌC thành chùy dài 5-10cm, màu tím than, có những nhánh mọc vòng mang hoa mọc thành bông dài 8mm. Quả khi chín có thể móc vào quần áo khi người ta đi qua do đó có tên cỏ may. Và cũng do hình thức này, cây lan từ vùng này sang vùng khác (Hình 176).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cỏ may mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Còn mọc ở các nước khác vùng châu Á như Ân Độ, Thái Líin, Miến Điện, nam Trung Quốc.

Thường ít dùng làm thuốc. Nhưng cũng có người dùng cày hái về phơi khô hay sao vàng, có người chí dùng quả.

c. Thành phán hóa học

Chưa có tài liệu nghiên cứu.

D. Còng dụng và lìểu dùng

Cây cỏ may còn là một vị thuốc dùng trong nhân dân. Tại vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, có người dùng cỏ may chữa bệnh da vàng, mắt vàng, bệnh về gan như sau:

Toàn cây cỏ may cả rễ rửa sạch, thái nhỏ sao

vàng, 300g, nước nửa lít, sắc còn 250ml, chia làm nhiều lần uống trong ngày thay nước uống. Thường sau 4-5 ngày thấy có kết quả rõ rệt.

Theo sự điều ưa của A. Sallet (1931) tại Vinh có người gọi cây này là nam hoàng liên và nhân dân ở Huế và một số tính miền Trung dùng nó chữa giun như sau: Quả cỏ may 20g sao vàng, sắc với 500ml nước cho sôi kỹ, sau đó lọc bỏ bã và cô đặc còn 150ml. Sau khi ãn cơm uống hết chỗ thuốc này để chữa giun đũa. cắn kiểm ưa lại, chúng tôi chưa thấy lại kinh nghiệm này trong nhàn dân.