Còn có lén là cây mã đề nước.

Tên khoa học Aỉisma plantago-aquaúca L. var. orienlơìis Samuelsson.

Thuộc họ Trạch tả Aiismataceae.

Trạch tả (Rhiioma Alismatis) là thân củ. chế biến, phơi hay sấy khô cùa cây trạch tả (trạch-đầm, tả=tát cạn, vì vị này thồng tiểu tiện rất mạnh như tát cạn nước đầm ao).

()(*)()Cây trạch tả mọc ở ao và ruộng, cao 0,3-Im. Thân rẻ trắng, hình cầu hay hình con quay, thành cụm, lá mọc ở gốc hình trứng thuôn, hay lưỡi mác, phía cuống hai hẹp lại hmh tim. Hoa họp thành tán có cuống dài đều, lưỡng tính có 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa trâng hay hơi hồng, nhị nhiều lá noãn rời nhau, xếp xoắn ốc. Quả ỉà một đa bế quả. (Hình 157, Hm 37,4).

()(*)()Cây này mọc hoang ở những nơi ẩm ướt ở Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hiện được trồng ở nhiều linh như Nam Hà, Thái Bình, Hà Tày, Hoà Bình… Hái lấy rễ củ, rửa sạch, cạo hết rẻ nhò, phơi hoặc sấy khô.

()(*)()Trong trạch tả, người ía mới phàn tích thấy được tinh dầu, chất nhựa 7%, chất prôtit và 23% chất bột. Thành phần hoạt chất chưa rõ.

Dược diển Triểu Tiên quy định: Độ ẩm dưới 15%, tro dưới 7%, tro không tan trong HC₁ dưới 2% , cao rượu trên 1%.

()(*)()Trong chuyên san của Viện nghiên cứu tiền Bắc Bình có báo cáo: Bắt đầu, tiêm kali nitrat cho thỏ để gây viêm thận đưa đến hiện tượng ứ đọng urê và cholesterin trong máu, sau đó tiêm thuốc trạch tả. Kết quả là lượng urê và cholesterin trong máu giảm xuống.

Cho người mạnh khỏe, uống nước sắc trạch tả, thấy lượng nước tiểu, lượng urê và lượng

Hình ỉ57. Trạch lả - Alisma plantago aquatica L. var. orientaỉis

natri clorua bài tiết đều tăng lên.

()(*)()Chủ yếu làm thuốc thông tiểu chữa bệnh thủy thũng trong bệnh viêm thận. Ngày dùng từ 10 đến 30g dưới dạng thuốc sắc hoặc dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Có người nói là có thể chữa bệnh sỏi thân và lợi sữa.

  1. ()(*)()Chữa thủy thũng:italic2 Trạch tả 40g, bạch truật 40g, tán nhỏ, mỗi lần uống 10-12g. Dùng nước sắc phục linh để chiêu thuốc.

  2. Phục linh trạch là thang: Trạch tả 6g, phục linh 6g, bạch truật 4g, cam thào 2g, quế chi 2g, nước 600ml. sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Cũng chữa bệnh thủy thũng.

()(*)()Đợi phúc bì (Pericarpium Arecae) là vỏ ngoài và vó giữa phơi hay sấy khô của quả cau (xem cây cau ở trên) (Hình 158).

Thườna các mảnh vò này đuợc đập làm hai mà phơi cho chóng khô.

()()() ()()()Trong đại phúc bì có những ancaloit Irong hạt CHU như arecolin, arecaidin, guvacolin và guvaxin v.v… nhưng tỷ }ệ rất thấp.

()(*)()Tác dụng thông tiểu tiện rất rõ rệt, thường dùng chữa các bệnh phù toàn thần, nhất là bụng.

Ngày dùng 10-12g dưới dạng ihuốc sắc.

Chú thích:

Có người dùng và gọi đại phúc bì là những miếng mo cau phơi khô. Nhưng vỏ ngoài và vỏ giữa của quả cau hay được dùng hơn.

()(*)()

Còn gọi !ù cỏ gà, cỏ ống.

Tên khoa học Cỵnodon dactvlon Pers.

Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineae).

Cỏ chỉ-cỏ ống (Rhizoma cynodoni) là thân rễ phơi hay sấy khò của cây cỏ ống hay cây cỏ chỉ.

()(*)()Đây là một loại cỏ sống dai, thân có nhiều cành, cứng, bò, thỉnh thoảng lại phát ra những thân đứng, bất thụ. Lá phẳng, ngắn, hẹp, nhọn, dài 3-4cm. Cụm hoa gồm 2-5 bòng hình ngón tay, gầy, dài 2,5-5cm màu xanh hay tím, tỏa trên đỉnh một cuống gầy. Quả dĩnh, hình thoi thường dẹt, không có rãnh, tự do trong các mày nhỏ (Hình 159).

()(*)()Cây cỏ Ống mọc hoang kháp nơi ở Việt Nam. ở các nước khác cây này thường dùng để giả mạo hay dùng cùng với cây Agropyrum repens Beauv. {Triticum repens L.) làm thuốc thông tiểu tiện. Đào cây, cát lấy thân rể rửa sạch đất, cát, phơi hay sấy khô.

c. ()(*)()Chưa thấy có tài liệu. Trong cây Agropyrum repens (petit chiendent) người ta tiiấy có các muối kali.

()(*)()Thuốc thông tiểu tiện dùng dưới dạng thuốc pha hay thuốc sác (20%o: 20g pha trong 1 lít nước).

Có thể dùng dưới dạng cao nước.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 159. Cò chỉ - Cynodon dacíyion

Còn gọi là bạch mao.

Tên khoa học Ịmperata cyìindrica Beauv.

Thuộc họ Lúa Poaceae (Grctmineae).

Rễ cỏ tranh hay Bạch mao cãn (Rhiioma ỉmperataè) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây tranh hay cổ tranh.

()(*)()Cây cỏ tranh là một loại cỏ sống dai, thân rễ khỏe chác. Thân cao 30-90CIĨ1, lá hẹp dài 15- 30cm, rông 3-6mm, gân lá ở giữa phát triển, ráp ở mặt trên, nhẵn ở mặt dưới, mép lá sắc. Cụm hoa hình chùy nhưng hình bắp dài 5-20cm màu trắng bạc, bồng nhỏ phủ đầy lông nhỏ níểm, rất dài (Hình 160, Hm 10,3).

Mọc hoang ở khắc nơi trong nước ta.

()(*)()Trong thân rễ có glucoza, fructoza và axit hữu cơ.

()(*)()Tính chất theo tài liệu cổ: Bạch mao căn có vị ngọl tính hàn, hoa có vị ngọt tính ôn. Vào ba kinh tâm, tỳ và vị. Có lác dụng trừ phục nhiệt, liêu ứ huyết, lợi tiểu tiện, dùng chữa nội nhiệt phiền khái, tiểu tiện khó khăn, đái ra máu, thổ huyết, máu cam.

Rễ cỏ tranh có tác dụng thông tiểu tiện và tẩy độc cơ thể. Còn dùng chữa sổt nóng, khát nước, niệu huyết, thổ huyết.

Liểu dùng 10-40g dưới dạng thuốc sắc.

()(*)()Chè lợi tiểu:italic2 Râu ngô 40g, xa tiền 25g, rễ cỏ tranh 30g, hoa cúc 5g. Tất cả thái nhỏ, trộn đcu. Mỗi lần cân 50g pha thành 0,751ít chia uống

()(*)()Còn có tén gọi là cây bông bạc.

Tên khoa học Orthosiphon stamineus Benth.

Thuộc họ Hoa môi Lamiơceae (Labiatae).

Ta dùng lá râu mèo (Folium Orthosiphonis) là lá và búp phơi hay sấy khô hoặc chế biến rồi phơi hay sấy khô của cây râu mèo hay bông bạc.

()(*)()Cây râu mèo-có tên như vậy vì nhị và nhụy

trong ngày vào lúc khát.

Trẻ em 6-14 tuổi, ngày cán 25g pha với 350ml chia uống trong ngày vào lúc khát.

Như thần thang (Thánh huệ phương) chữa phổi nóng, hen cò cử: Sinh mao căn sác uống lúc còn nóng vào .sau bữa ăn.

Ma căn thang, chữa đái ra máu: Bạch mao cãn, khương thán, thêm mật ong trắng, sắc uống.

Chú (hích:

Lá non dùng cho trâu, bò, ngựa ăn rất tớt. Lá già dùng để lợp nhà.

()()()mm ()()()của hoa thò ra giống râu con mèo.

Cây nhỏ, sống lâu năm, cao 0,30 hoặc 0,50 đến lm. Thân cây có cạnh vuông, mang nhiểu cành. Lá mọc đối, cặp lá trước mọc thành chữ thập đối với cặp lá sau. Cuống lá rất ngắn, chừng 2-5mm. Cụm hoa tận cùng thẳng, mọc thành chùm, màu hoa lúc non thì trắng, sau ngả màu xanh tím. Hoa nở suốt mùa hè (Hình 161, Hm 10,1).

Hình J6Ỉ Râu mèo - Orthosiphon stamineus

()(*)()Mọc hoang và được trồng ở nước ta. Trổng bằng hạt hay dủm cành. Còn mọc italic1ở Inđônêxia, Philipin.

c. ()(*)()Trong cây râu mèo có một glucozit đáng gọi là orthosiphonin, ít tan trong ruợu, tan nhiều trong nước.

Ngoài ra còn một ít tinh dầu, một ít chất béo, tanin (5-6%), đường, và một tỷ lệ khá cao muối vồ cơ (rong đó chủ yếu ià muôi kali.

Có táf giả nói còn lấy đưực một chất saponin tritecpenic gọi là sapophonin. Chất này thủy phân sẽ được sapogenin, arabinoza và hexoza. Nhung gần đây có người không công nhận chất này.

()(*)()Nước sắc hay nước pha lá râu mèo làm Căng lương nước tiểu, đổng thời tăng cả lượng clorua, lượng urê và lượng axit uric.

Còn có tác dụng chữa xung huyết gan, đuờng mật.

()()()và ()()()Thuốc thông tiểu tiện dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, sốt ban, cúm, tê thấp, phù.

Liều dùng 5-6g pha với nửa lít nưóc. Chia 2 íần uống trong ngày, trước khi ăn cơm 15-30 phút. Uống nóng.

Thường uống luôn 8 ngày, lại nghỉ 2 đến 4 ngày. Có thể dùng cao lỏng 2-5g.

()(*)()Ràu ngô (Stigmata Maydis hay Styìi ei Stìgmata Maydis) là vòi và núm phơi khô của hoa cây ngố (Zea.mavs L.) đã già và cho bắp. Râu ngô hái vào lúc ta thu hoạch ngô (Hình 162, Hm 10,2).

()(*)()Trong râu ngô có các chất xitosterol, stìgmas- terol, chất dầu, tinh dầu, saponin, glucozit đắng, vitamin c, vitamin K, chất nhầy và một sô’ chất khác.

Ig râu ngô chứa tới 1600 đơn vị sinh lỷ vita- min K.

Tỷ lệ muối kali trong râu ngô cũng cao: 20g râu ngó phơi khố chứa 0,028g canxi và 0,532g kali.

  1. ()(*)()Râu ngô làm tăng lượng nước tiểu từ 3 tới

5 lần.

  1. Râu ngô uổng vào làm tăng sự bài tiết của

mâl, nước mật lỏng hơn và tỷ Irọng nước mật giảm đi, lượng bilirubin trong máu cũng giảm.

Lượng protbrombin trong máu (ăng lên và do đó làm máu chóng đông, c. Còng dụng và liều dùng Râu ngô là một vị thuốc dùng trong nhân dàn từ lâu. Hiện nay khoa học đã chứng minh kinh nghiệm cổ truyển đó và được áp dụng trong các bệnh sau đây:

  1. Viêm tủi mật, viêm gan với hiện tượng trở nụại bài tiết mật.

Cỏ thể phối hợp với vitamin K để làm thuốc cầm máu.

  1. Còn dùng làm thuốc thông tiểu tiện, dùng trong các bệnh vé tim, đaư thận, tê ihấp, sỏi thận.

Dùng dưới hình thức thuốc pha hoặc nấu sôi, hoặc chế thành cao lỏng. Ngày uống L0-20g râu ngô.

Có thể tự chế như sau:

Cân lơg râu ngô, cắt nhỏ, cho vào 1 bát nuớc (200ml) đun sỏi, để nguội mà uổng. Cứ 3-4 giờ uống 1-3 thìa xúp.

Nếu chê thành cao lỏng, đóng thành lọ 20g. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lân 30-40 giọt trước bữa àn.

()(*)()

Tên khoa học Cvnara scoỉymus L.

Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae),

Ta dùng thân và lá tươi của cây Actisô.

A. Mò tả cây

Cây Actísô cao gán lm hay hơn, có khi tới hơn 2m, trên thân và lá có lòng trắng như bồng. Lá lo mọc cách, phiến lá bị khía sầu, có gai, mặt đưới có lông trắng. Cụm hoa hình đầu, màu tím nhạt. Lá bdc ngoài của cụm hoa dầy và nhọn. Phần gốc nạc của lá bác và đế hoa ãn được (Hình 163)

()(*)()Cây được di thực và trồng ở nước ta, nhiều nhất ở Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo. Có thể trồng được ở đồng bằng. Lá hái vào lúc cây sáp hoặc đang ra hoa. Rọc bỏ sống lá, sấy hay phơi khô.

c. ()(*)()Hoạt chất của actisô hiện chưa xác định. Mới xác định trong lá actisô có một chất đắng có phản ứng axit gọi là xynarin đã tổng hợp được. Công thức đã được xác định là axit 1-4 dicaíein quinic.

Ngoài ra còn thấy inulin, inulinaza, tanin, các muối hữu cơ của các kim loại ka li, canxí, magiê, natri (tỷ lệ kali rất cao).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 163- Acỉisỗ - Cynara scohmus

  1. ()(*)()Sau khi tiêm mạch máu dung dịch actisô từ 2 đến 3 giờ lượng mật bài tiết tăng lên gấp 4 lần (M. Chabrol, Charonnat Maxim và Watz, 1929).

  2. Uống và tiêm actisô đều có tác dụng tăng lượng nước tiểu, lượng urẻ trong nước tiểu cũng

OH OH

o 1 COOH ()(*)()

CH- CH —c —o-/ o — ổ — CH - CH

OH

Xynarin

tăng lên, hằng sô Amba (Ambard) hạ xuống, lượng cholesterin và urê trong máu cũng hạ thấp, tuy nhiẽn lúc mới uống, có khi người ta thấy lượng urê trong máu tăng lên. do actisô làm tăng sự phát sinh urê trong máu (Tixier, De Sèze M. Erk và R. Picarl, 1934-1935).

  1. Actisô không có độc.

D. Công dụng và liều dùng Ngoìii việc dùng đế hoa và lá bắc để ãn, actisô dùng làm thuốc thórm tiểu tiện, thông mật, các bệnh yếu gan, thận, viêm Ihân cấp tính và kinh niên, sưng khớp xuơng.

Nhuận và tẩy máu nhẹ đổi với trẻ em.

Lá tươi và khô dùng dưới hình thức thuổc sắc 5-10% hoặc cao lỏng 2-10g trong một ngày.

Có khi chế thành cao mềm hay khô đế chê thuổc viên, thuốc tiêm dưới da híiy mạch máu. Có khi được chế thành dạng cao lỏng đặc biệt dùng dưới liình thức giọt. Ngày uống 1-3 lán, mỗi lần 10-40 giọt. Tại mién Nam ở các chợ, người ta còn bán cả thân và rề actisô thái mỏng phơi khô với cùng cồng dụng như lá.

Còn có tên là bạch phục linh, phục thần.

Tên khoa học Poria cocos Wolf. (Pachyma hoeìen Rumph.).

Thuộc họ Nấm lỗ Pơlyporaceae.

()(*)()Nấm này mọc ký sinh trên rễ cây thông. Vì người ta cho phục linh là linh khí của cây thông nấp ở dưới đất, do đó mà đặt tên. Nếu nấm mọc xun? quanh rễ khi đào lên có rễ thông ở giữa nẩm thì gọi là phục thần. Người ta cho loại này có lác dung yên thần phách, chữa sợ hãi, mất ngù.

Nấm hình khôi to, có (hể nặng tới 5 kg. Nhỏ có thể bàng nắm tay. Mặt ngoài màu xám đen, nhăn nheo có khi thành bướu, cắt ngang sẽ thây mặt lổn nhổn hoặc trắng (bạch phục linh) hoặc hổng xám (xích phục linh).

Bột phục linh có màu trấng xám, chủ yếu gồm các khuẩn ty. bào tử, cuống đảm tử.

Dùng glyxêrin để soi sẽ thấy các khuẩn ty không mầu, thỉnh thoảng có các khuẩn ty màu nâu đường kính 3-4 f.urs, Cuống đám tử có đường kính 9-18^lm, trên đầu có nhiều đảm bào tử đường kính 11-26 |U.m. Ngoài ra, đôi khi có các đám chất keo (Hình 164, Hm 49,1).

()(*)()Phục linh hiên phải nhập của Trung Quốc. Loại tốt nhất mọc ở Vân Nam gọi là Vân Linh.

Thứ ớ Quàng Đồng có thể không tổt bằng thứ ở Vàn Nam. Năm 1977 phát hiện thấy có ở vùng Đà Lạt (Lâm Đồng) ở nước ta.

()(*)()Chưa rõ hoạt chất là gì. Tuy nhiên, trong phục linh người ta đã phân tích có chất đường đặc biệt của phục linh: Pachymoza, glucoza, frucíoza và chất khoáng.

Mới đây người ta nghiên cứu thấy thành phần phục linh gổm 3 loại:

  1. Các axit có thành phần hợp chất tritecpen: Axit pachimic C₃₃H₅₂₀₅, axit tumolosic C₅₁H₅₀O₄, axit eburicoic C₅₅H₅₀O₃, axit pinicolic C₃₀H₄₆O₃, axit 3p- hydroxylanosta-7,9 (II), 24 trien, 21- oic (Dược học tạp chí ,1970, 90, 475, tiếng Nhật).

  2. Đường đặc biệt của phục lính: Pachyman có trong phục linh tới 75%.

  3. Ngoài ra còn ergosterol, cholin, histiđin, và rất ít men proteaza.

()(*)()Cao Úng Dấu và Chu Nhĩ Phượng (1955, Trung Hoa V học lạp chí, 10) đã nghiên cứu và báo cáo vé tác dụng dược lý của phục linh như sau:

  • Chuẩn bị một số thỏ trong 5 ngày: Nhốt từng con vào chuồng riêng, mỗi ngày cho mỗi con ãn ngoài đậu đcn ra còn cho uống 200ml nước (cho vào cố họng). Hằng ngày hứng nước tiểu của từng con và cân.

Đến ngày thứ sáu ticm vào màng bụng dung dịch 25% phục linh (ngâm bột phục linh 48 giờ với 5 phần cổn 70", lọc, cô thu hổi cổn, thêm nước cấl VÌIO thành dung địch 25%). Mỗi kg thể trọng tiêm 2ml (tương ứng với 0,5g dược liêu). Tiến hành và theo dõi như vậy trong 5 ngày liền. Sau khi nghi thuốc, tiếp tục theo dõi 5 ngày nữa.

Sau đó tiến hành đôi chiếu với lượng tro tương đương cúa dược liệu và thuốc lợi tiểu (mersalylum và thcophỵllinum).

Kêì quả thí nghiệm chứng mình phục linh có lác đụng lợi ticu và tác dụng lợi tiểu đó không phái do muôi có trong tro của phục linh.

()(*)()Tính chất phục linh theo íài liệu cổ: VỊ ngọt, nhạt, tính bình, vào 5 kính tâm, phế, thận, tỳ và vị. Có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, bổ tỳ, định tam, dùng chữa tiểu tiện khó khăn, thủy thũng trướng man, tiết tả, phục thán định tâm, an thần chữa hồi hôp mất ngủ.

Trong nhân dân , phục linh được coi là vị thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, dùng trong bệnh thủy thũng.

Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, chữa các trường hợp mất ngủ, hay sợ hãi, đi tinh.

Ngày dùng 5 đến 10g dưới dạng thuốc sác, thuốc bột, viên.

()(*)()ỉ. Chữa bệnh thủy thũỉiỊ’:italic2 Phục linh ]0g, mộc thông 5g, tang bạch bì lOg, nước 600ml. sác còn 200ml. Chia làm 3 lần uôYig trong ngày.

  1. Dơn thuốc chữa phù íhũni’, sợ hãi: Phục linh 8g, cam thảo 3g, quế chi 4g, sinh khương 3g, nước 400ml, sắc còn 200ml.

Chia làm 3 lần uống trong ngày.

  1. Chữa vết đen trên mặt: Tán bớt phục linh mà bối.