Cỏn gọi là tạc tương thảo, toan tương thảo, toan vị thảo, toan vị vị, chua me ba chìa, tam diệp toan.

Tên khoa học Oxalis cornicuỉata L. (Oxaỉis repens Thunb, Oxaìis javanica Blume).

Thuộc họ Chua me đất Oxalidaceae.

A. Mô tả cây

Chua me đất hoa vàng là một loại cò mọc lan bò ưên mặt đất, thân đỏ nhạt, hơi có lông. Lá có cuống dài, gầy, hơi có lông, gồm 3 lá chét gần như nhẵn, mềm, mỗi lá chét có một vết hõm trên đầu thành hình tim ngược. Hoa mọc thành tán gồm 2-3 hoa, có khi 4 hoa màu vàng, cuống hoa gầy dài chừng l-2cm. Đài 5, tràng

5, màu vàng, nhị 10, dài ngắn khác nhau, xếp thành hai vòng, bầu 5 ô, 5 vòi. Quả nang, dài gấp 5-6 lần chiều cao của đài còn tồn tại, mò bằng 5 van. Hạt hình trứng, màu nâu thảm, dẹt, có bướu, mọc thành hàng rất đều. Mùa hoa: Các tháng 5-7 (Hình 172).

B. Phân bo, thu hái và ché’ biến

Mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Rất hay gặp ở những bãi cỏ hoang. Còn thấy mọc hoang ở châu Âu, các nước khác thuộc châu Á (Ân Độ, Trung Quốc, Philipin).

Người ta dùng toàn cây hay chỉ dùng lá; thường dùng tươi, ít khi dùng phơi khô. Mùa thu hái tốt nhất vào các tháng 6-7.

C. Thành phần hóa học

Mới biết trong lá và thân chua me có axit ox- alic, oxalat axit kali. Các hoạt chắt khác chứa rõ.

D. Cóng dụng và liều dùng

Tính chất của chua me theo đông y: Chua (toan), lạnh (hàn), không độc. Dùng làm thuốc giải nhiệt, khát nước, chữa xích bạch đới, sát

trùng.

Trong nhân dân, dùng toàn cây chua me sao vàng sắc uống chữa sốt và chữa lỵ: Tại Ân Độ, Phỉlipìn, nhân dân dùng chữa bệnh scobut. Còn dùng làm thuốc thông tiểu tiện, chữa viêm niệu đạo. Dùng lá đánh đồ đồng sẽ bóng sáng do chất axit oxalic.

Ngày đùng 30 đến 50g cây hoặc lá tươi, nếu dùng khô chỉ cần 5-10g, duới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài (nước sắc hoặc giã cây tươi vắt lấy nước) để rửa các vết loét. Những người có sỏi ưong bọng đái không nên dùng vì oxalat có thể làm tăng lượng sỏi. Cũng không nẽn dùng liều quá cao vì muối oxalat độc với liều 20-30g.

Chú thích:

Ngoài cây chua me hoa vàng kể trên, ở nhiều nơi trong nước ta còn thấy mọc hoang loại chua me đất hoa đỏ (Oxalìs deppeì Sw). Còn gọi là rau bợ là một loại cỏ có thân ngầm. Bẹ lá phổng lên, chứa nhiều tinh bột, làm cho thân trông có vẻ như một hành. Lá kép có cuống dài, cấu tạo bởi 3 lá chét hình tim nguợc. Hoa mọc thành chùm và có 5 lá đài, 5 cánh hoa màu hồng, 10 nhị xếp thành 2 vành, vành ngoài đối diên với các cành hoa, vành trong đối diện với các lá đài. Bầu 5 ô, hợp thành bầu thượng, 5 vòi rời nhau. Quả là một nang mở bằng 5 van. Cây này cũng thường mọc dại ở các bãi cỏ. Lá có vị chua (axit oxalic và oxalat axit kali) và được nhân dân luộc ăn với rau muống. ít thấy dùng làm thuốc.

Tại những vùng núi khí hâu mát như ở Sapa (Lào Cai) còn gặp một loại chua me «ứf’-sơn tạc tương ừiảo-(Oxalis acetoselỉa L.) cùng họ. Đây cũng là một loại cỏ không có thân, lá kép gồm 3 lá chét, hoa trắng hay hổng. Lá cũng có vị chua vì chứa nhiều oxalat axit kali; trước kia ở châu Âu người ta đùng để chế axit oxalic. Nhân dân châu Âu dùng cây này với chất màu để nhuộm cho ăn màu, giạt quần áo bị gỉ sắt. Lá và toàn cây cũng được coi như một vị giải khát, chữa sốt, chữa bệnh scobut, điều kinh. Dùng với liều 30 đến ốOg cây hay lá tươi Ưong một ngày, vò lấy nước hay sao khó sắc uống.

Tên rau bợ chua mế-hổng hoa tạc tương thảo còn dung để chỉ một cây nữa Oxalis corymbosa DC (Oxalis martiana Zucc.) cùng họ: Đó là một loại cỏ không thân, có dò, phù nhiều vẩy. Lá ở gốc, kép gồm 3 lá chét, hình tim ngược, dài chừng 2cm, rộng 3cm, hoa màu hổng. Đỏi khi cũng được dùng uống cho mát và thông tiểu tiện (Hình 173).