Tên khoa học Cola sp.
Thuộc họ Trôm Sterculiaceae.
Côla (Semen Colae) là hạt chế biến rồi phơi hay sấy khô của nhiều loài cola chủ yếu là loài Cola nitida A. Chev. (Cola vera K. Schum). Thường một số nước quy định hạt côla dùng làm thuốc phải chứa ít nhất 1,5% cafein mà người ta cho rằng nhờ chất này mà hạt côla có tác dụng kích thích thần kinh và bắp thịt.
A. Mô tả cây
Những cây côla thường là những cây cao 1- 15m, lá nguyên, hình trứng dài thuôn, nhọn dài 15-25cm, rộng 6-10cm (đối với loài Cola nitida), cuống lá phình ở dưới, lá mọc đơn độc (trong loài Cola nitida, nhưng mọc vòng trong loài Cola verticillata Stapf.). Cụm hoa là những chùm nhỏ, kép hoặc gồm toàn hoa đực, hoặc gồm hoa đực và hoa lưỡng tính. Không có tràng mà chỉ có 5 lá đài trắng điểm tía, 10 nhị đực xếp thành hai hàng, nhụy hình trứng gồm 5-6 lá noãn. Quả gồm 2 đến 6 đại hóa gỗ hợp thành hình sao quanh cuống. Mỗi đại dài 8-12cm, rộng 4-8cm, có sống ở lưng và rãnh ở phía bụng. Mặt quả xù xì thành những u. Mỗi quả chứa 5-10 hạt to, xếp thành hai hàng, hơi 4 cạnh, bị biến dạng do ép vào nhau, màu trắng, hồng hay đỏ nhạt khi còn tươi. Trong loài Cola nitida chỉ có 2 lá mầm to, trong loài Cola acuminata Schott et Endl., Cola ballayi Cornu, Cola verticillata P. Beauv. các lá mầm được chia thành 4, thành 6, người ta gọi đó là cola “quart” (quart là 1/4). Còn loại cola chỉ có 2 lá mầm thì gọi là cola “demi” (demi là nửa) (Hình 699).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 699. Côla - Cola sp.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Côla nguồn gốc ở những nước châu Phi nhiệt đới, mọc hoang dại ở miền tây châu Phi, Guynê, Gana. Côla ưa mọc ở dưới bóng cây. Hiện nay côla được trồng ở những nước châu Phi và di thực đến nhiều nước nhiệt đới khác như Inđônêxya, Braxin.
Tại Việt Nam, từ trước 1945, Pháp có nhập một số cây côla về trồng thí nghiêm ở trạm nghiên cứu nông nghiệp Phú Hộ (Vĩnh Phúc) nay là Viện cây công nghiệp, cây ăn quả và cây làm thuốc. Nhưng từ đó đến nay cây này chưa được nhân ra, mặc dầu cây mọc tốt và thích hợp với khí hậu của nước ta.
Thường người ta trồng loài Cola nitida var. mixta và Cola acuminata. Sau 15 năm mới cho quả, nhưng tiếp tục cho quả đến 50-60 tuổi. Hái quả khi gần chín. Mổ quả lấy hạt, xếp thành đống hay ngâm nước vài ngày. Xát và rửa để loại hết lớp vỏ nhầy. Khi dùng tại chỗ, người ta để hạt nơi ẩm, bọc trong những lá chuối to, đặt trong thúng hay sọt. Muốn gửi đi xuất khẩu, người ta bọc bột than gỗ để hút ẩm, hoặc trong túi vải nhựa chứa vôi để hút ẩm. Để giữ cho hạt không biến màu, người ta ổn định hạt bằng hơi nước hay hơi cồn. Nếu không hạt sẽ ngả màu nâu rất nhanh. Kích thước hạt thay đổi và có thể nặng tới 25g.
C. Thành phần hóa học
Hạt côla chứa từ 10 đến 12% nước, 2 đến 4% chất vô cơ, 40% tinh bột, một ít đường khử, chất nhầy, 1 đến 2% chất béo, một ít betain. Khi quả còn tươi, có một ít sắc tố antoxyan làm cho hạt có màu, khi khô thì không còn.
Người ta cho rằng hoạt chất của côla gồm hai nhóm:
-
Nhóm các tanoit (5-10%) tìm thấy vào cuối thế kỷ 18. Năm 1906 và 1910, Goris đã chiết được chất kolatin và kolatein. Năm 1930, Freudenberg đã xác định là những chất d. catechola và l. epicatechola. Trong hạt tươi chứa nhiều và ở dạng kết hợp với cafein. Trong quá trình bảo quản, các catechola bị ôxy hóa và trùng hiệp hóa để cho chất màu đỏ côla (rouge de cola) không tan trong nước.
-
Nhóm các ancaloit dẫn xuất của purin gồm caferin (trimetyl 1,3,7 dioxy 2-6 purin) từ 1,5 đến 2,5%, kèm theo một ít theobromin 3-7 dioxy 2-6purin).
D. Tác dụng dược lý
Từ cổ xưa nhân dân châu Phi đã biết dùng hạt côla để làm chất kích thích giúp cho lao động chân tay lâu dài mà không mệt: Họ nhai hạt trong khi đi bộ dài ngày mà phải đeo nặng. Người ta cho rằng tác dụng này là do cafein, nhưng tác dụng sở dĩ kéo dài và ít gây khó chịu là do sự có mặt của các catechola. Ngoài ra các catechola còn có thêm tác dụng của vitamin P nữa.
Với liều vừa phải, côla là một vị thuốc quý đối với người làm việc trí óc và chân tay, người làm công tác thể dục thể thao và có khi dược dùng cả đối với ngựa đua nữa.
Với liều cao thì nguy hiểm, vì thực sự nó chỉ che dấu sự mệt nhọc chứ không có tác dụng làm hết sự mệt nhọc, có thể gây kích thích quá độ, sau đó thì gây mệt kéo dài.
E. Công dụng và liều dùng
Côla tươi được dùng tại chỗ. Mỗi năm tiêu thụ hàng nghìn tấn, còn chỉ xuất sang châu Âu khoảng vài trăm tấn một năm.
Các nước châu Âu dùng côla làm thuốc từ cuối thế kỷ 19. Đây là một vị thuốc có tác dụng kích thích dùng trong những trường hợp mới yếu dậy hay lao động chân tay, lao động trí óc quá sức. Thường dùng dưới dạng bột (hạt khô hoặc ổn định), cao lỏng (chứa 1,25% cafein), cao mềm (chứa ít nhất 0,80g cafein trong 1kg). Hàng năm riêng Pháp tiêu thụ 15-20 tấn hạt làm thuốc.
Tại nhiều nước châu Mỹ, người ta rất hay dùng côla để chế nước giải khát, hoặc riêng hoặc phối hợp với côca (côcacôla chế gần như loại bia) để làm nước giải khát.
Tuy nhiên do thiếu côla cho nên một số nước uống tuy mang tên “nước côla” nhưng thực tế chỉ là một dung dịch chứa cafein, một ít tanin và một số chất khác, chứ không có hạt côla.
Liều dùng: Bột hay cao lỏng dùng mỗi ngày từ 1 đến 2g, cồn côla, mỗi ngày 2 đến 10g, rượu vang côla, mỗi ngày 60 đến 100g.
VÚ SỮA 星果
Còn gọi là caimiteer, cahimitir.
Tên khoa học Chrysophyllum cainito L.
Thuộc họ Hồng xiêm Sapotaceae.
A. Mô tả cây
Cây to, cao 10-15m, ngọn mang cành um tùm, thân nút kẽ trắng nhạt. Lá dày, cứng, mặt trên xanh đậm, mặt dưới có lông hung vàng. Hoa nhỏ ở kẽ lá màu trắng hồng. Quả mọng hình cầu, to bằng quả cam, da nhẵn, có loại trắng, có loại tím. Vú sữa trắng, khi còn non màu xanh bích ngọc, khi chín chuyển màu trắng nhạt, lớp vỏ mỏng, mịn, dưới lớp vỏ là phần thịt dày 1-2 đốt ngón tay. Trong lớp thịt này có chất nước trắng, đục như sữa, thơm ngon, còn thịt ăn hơi có vị chát. Qua lớp thịt là lớp ruột màu trắng trong như lòng trắng trứng bọc lấy 5-9 hạt dẹt, màu đen, có nhân hơi đắng.
Quả vú sữa tím hơi nhỏ hơn quả vú sữa trắng, nhưng khi chín chuyển sang tím sẫm phơn phớt hồng (Hình 700).
[]
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Vú sữa vốn nguồn gốc ở đảo Ăngti, được di thực vào miền Nam nước ta từ lâu. Hiện cũng được trồng ở miền Bắc, chủ yếu để lấy quả ăn. Phải biết cách làm đúng thì ăn vú sữa mới thấy thơm ngon: Trước hết phải đợi quả thật chín, vì nếu chưa chín, vú sữa có vị chát và có nhựa dính. Sau khí hái quả về, nắn cho quả mềm ra, khi ấy lớp thịt tiết ra chất sữa quyện vào lớp ruột. Sau đó bổ đôi hoặc bổ dọc thành miếng như múi cam, rồi dùng thìa xúc ăn. Có người nắn cho quả mềm ra rồi khoét một lỗ quanh cuống và hút. Cũng có người bổ đôi quả, khoét bỏ giữa, cho nước vắt quả cam vào. Vị chua và mùi thơm của cam làm tăng thêm vị thơm ngon của vú sữa.
Nhân dân được dùng làm kẹo hoặc ép dầu.
C. Thành phần hóa học
Trong quả sữa tươi có 0,08% protit, 7,3% gluxit, 1,8% xenluloza, 0,6% tro. Trong tro thành phần chủ yếu là canxi (53mg%), phôtpho (25mg%), Vitamin C (4mg%) (Theo bảng Thành phần hóa học thức ăn Việt Nam-1972: 65).
D. Công dụng và liều dùng
Vú sữa chủ yếu mới được dùng làm thức ăn bổ tráng miệng. Một số nơi dùng vỏ cây vú sữa làm thuốc bổ và kích thích. Dùng dưới dạng thuốc sắc. Ngày uống 6-10g.
LÊKIMA 蛋黄果
Còn gọi là lu cu ma, sapotille Mamey, Mamey, sapote Mamey.
Tên khoa học Lucuma mammosa Gaertn. ; Vitellaria mammosa Radik.; Calocarpum mammosum Pierre.
Thuộc họ Hồng xiêm Sapotaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ, cành to. Lá mọc ở đầu cành, hình hơi bầu dục, dài 10-25cm, nhẵn. Hoa nhỏ, cuống nhỏ và dài, mọc đơn độc ở kẽ các lá. Quả hình trứng, dài 8-15cm, màu nâu hung, vỏ sần sùi, chứa một hạch hình trứng nhẵn, màu nâu, phần rốn hơi xù xì (Hình 701).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 701. Lêkima - Lucuma mammosa
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây vốn nguồn gốc những nước nhiệt đới châu Mỹ, hiện được di thực và trồng ở nhiều nước nhiệt đới. Ở nước ta được trồng nhiều nhất ở miền Nam lấy quả ăn.
C. Thành phần hóa học
Mới thấy trong quả có hydratcacbon.
D. Công dạng và liều dùng
Hiện cây lêkima được trồng chủ yếu để lấy quả ăn tươi hoặc làm mứt. Hạt rang lên được pha với bột hạt cây cacao để chế biến sôcôla (xem vị cacao).
SẦU RIÊNG 榴莲
Còn gọi là thu ren (Cămpuchia), durio.
Tên khoa học Durio zibethinus Murray.
Thuộc họ Gạo Bombacaceae.
A. Mô tả cây
Sầu riêng là một cây to cao tới 25m. Lá mọc so le, đơn, nguyên, hình trứng thuôn dài, đầu nhọn, dày, trên mặt có những lông vảy. Hoa mọc thành xim ở những đốt trên cành.
Quả to, hình đầu hay hình trứng dài, vỏ cứng, trên mặt vỏ rất nhiều gai ngắn, nhọn. Quả có 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 3-5 hạt; quanh hạt có chất cơm màu trắng vàng mùi đặc biệt, chưa quen thì không thích nhưng đã quen rồi thì rất thơm. Hạt có lá mầm dày (Hình 702).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 702. Sầu riêng - Durio zibethinus
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Sầu riêng được trồng rất nhiều ở miền Nam nước ta. Ngoài ra còn được trồng ở Cămpuchia, Malaixia. Trồng chủ yếu để lấy quả ăn. Người ta cho quả sầu riêng rất bổ đối với trẻ em.
Làm thuốc người ta còn dùng rễ, lá. Dùng tươi hay phơi khô.
C. Thành phần hóa học
Trong 100g cơm sầu riêng có 37,14% nước, 6,38% chất đạm, 2,7% chất béo, 16,2% chất đường và nhiều chất khác.
D. Công dụng và liều dùng
Quả sầu riêng vừa là một quả ngon, lại là một quả ăn có tác dụng kích thích sinh dục. Rễ và lá còn được dùng làm thuốc chữa sốt và chữa bệnh về gan, da vàng.
Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc.
Lá còn dùng dưới dạng nấu nước tắm cho những người vàng da do bệnh gan.
Hạt sầu riêng rang lên hay nấu chín ăn được. Có thể làm thành kẹo, mứt.
DƯA HẤU 西瓜
Còn gọi là dưa đỏ, tây qua, thủy qua, hàn qua, hạ qua.
Tên khoa học Citrullus vulgaris Schrad.
Thuộc họ Bầu bí Cucurbitaceae.
A. Mô tả cây
Cỏ sống hằng năm, mọc bò, thân có lông nhất là ở ngọn và các đốt. Lá xẻ thùy 3 đến 5, xẻ sâu, mỗi thùy cũng lại chia thùy nữa. Tua cuốn có 2-3 nhánh. Hoa đơn tính, cùng gốc, màu vàng, to. Hoa đực đơn độc, đài hình chuông, tràng 5, nhị 3 (do 4 nhị dính từng đôí, 1 cái rời). Hoa cái có đài, tràng giống hoa đực, 3 nhị lép dạng chi, bầu dưới, 3 ô, vòi nhụy ngắn, 3 đầu nhụy hình thận dày. Quả hình cầu hay hình trứng, vỏ nhẵn bóng, màu lục đen, nhiều khi có vân sẫm, đường kính tới 30-40cm, thịt quả đỏ hay vàng đỏ rất nhiều nước, ngọt. Hạt dẹt, bóng láng hay nhám mờ, màu đen nhạt hay đỏ (Hình 703).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 703. Dua hấu - Citrullus vulgaris
Mùa quả ở miền Bắc từ tháng 4 đến tháng 7, ở các tỉnh miền Nam từ tháng 1 đến 3-4 (trước và sau tết âm lịch).
B. Phân bố thu hái và chế biến
Dưa hấu được trồng khắp các tỉnh ở miền Bắc và miền Nam nước ta và ở nhiều nước nhiệt đới khác. Chủ yếu người ta trồng để lấy quả ăn. Hạt cũng được thu nhặt để làm thực phẩm.
Việc sử dụng các bộ phận của dưa hấu làm thuốc ít được chú ý hơn. Thường chỉ có tính chất địa phương: Người ta dùng vỏ quả giữa của dưa hấu với tên tây qua thủy-Mesocarpium Citrulli. Vỏ dưa được cạo bỏ lớp vỏ ngoài màu xanh, phơi khô vỏ quả giữa mà dùng.
Ngoài ra người ta còn dùng lớp vỏ xanh phơi khô với tên tây qua bì-Exocarpium Citrulli.
Hạt dưa hấu cũng được thu nhặt phơi khô rang chín mà ăn hay làm nhân bánh, kẹo.
C. Thánh phần hóa học
Trong dưa hấu, đặc biệt loại dưa hấu chua Enslen đã phân lập được từ 1956 một glucozit đặt tên elaterinide. Khi thủy phân axit, elaterinide sẽ cho glucoza và β elaterin hay cucurbitaxin E.
Trong hạt dưa hấu, J . Barksdale chiết được chất cucurboxitrin.
Theo bảng Thành phần hóa học thức ăn Việt Nam (Nhà xuất bản y học Hà Nội, 1972, 63) trong dưa hấu có 52% ăn được, 49,7% nước, 0, 6% protit, 1,3% gluxit, 0,3% xenluloza, 0,1% tro, 4,2mg% canxi, 6,8mg% P, 0,5mg% Fe, 0,10mg% caroten, 0,02mg% B₁, 0,02mg% vitamin B2, 0,10mg% vitamin PP và 4mg% vitamin C.
Trong một loài dưa Citrullus colocynthis Schrad. (Coloquinte) dùng làm thuốc tẩy mạnh, Vauquelin và Braconnot đã chiết được một glucozit có tinh thể gọi là colocynthine C₅₆H₈₄O₂₃, màu vàng, rất đắng, tan trong nước (1/20), trong cồn, không tan trong ête, khi thủy phân cho glucoza và colocynthin C₄₄H₆₄O₁₃. Ngoài ra còn colocynthilin và citrullin; trong hạt quả này người ta chiết được 15-17% dầu béo, chất nhầy và muối.
D. Công dụng và liều dùng
Quả dưa hấu được dùng chủ yếu trong nhân dân làm thức ăn bổ và mát vào mùa hè (tết ở miền Nam vào đúng những ngày nóng nực), hạt rang lên ăn hay dùng làm bánh mứt kẹo.
Tại Marốc (bắc châu Phi) người ta dùng dưa hấu chế thành một thứ rượu uống: Khoét một mảnh vỏ hình nêm đồ vào đó một ít mật, thêm ít men rượu, đem vùi quả dưa hấu vài ngày trong một đống ngũ cốc (nếu không cho men, men cũng tự phát sinh). Đóng nêm lại. Sau ít ngày trong quả dưa hấu sẽ xuất hiện một thứ nước uống có rượu, uống cũng có thể say như rượu.
Trong y học cổ truyền dân gian, người ta coi dưa hấu có vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng thanh thử, giải nhiệt, lợi tiểu, dùng trong những trường hợp huyết áp cao, nóng trong bàng quang, đái buốt, viêm thận, phù thũng, vàng da, đái đường, say rượu, cảm sốt, phiền khát. Ngày dùng 10-40g vỏ quả giữa hay vỏ quả ngoài (tây qua bì) dưới dạng thuốc sắc: Thêm nửa lít nước vào đun sôi giữ sôi trong 15 phút rồi uống thay nước trong ngày. Tại Malaixia, nước ép rễ dưa hấu dùng cầm máu sau khi đẻ hay sau khi bị đọa thai.
Đơn thuốc có vỏ dưa hấu
-
Chữa đi ỉa chảy: vỏ dưa hấu khô 20g, nước 500ml sắc còn 300ml, chia 3-4 lần uống trong ngày.
-
Chữa cảm sốt, đầu váng, mắt hoa, nhiều mồ hôi: Tây qua bì 20g, hoa hay cành kim ngân 20g, trúc diệp 10g, nước 500ml, đun sôi, giữ sôi 15 phút. Chia 3 lần uống trong ngày.
ĐẬU NÀNH 大豆
Còn gọi là đậu tương, đại đậu.
Tên khoa học Glycine soja Siebold et Zucc, Glucine max (L.) Merill, Soja hispida Maxim.
Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).
Chú thích về tên khoa học. Việt Nam ta phân biệt rõ ràng ra đậu nành hay đậu tương (hạt mầu vàng nhạt) với đậu đen, đậu đỏ… nhưng trong các tài liệu nước ngoài với tên khoa học Glycine soja hay Glycine max hoặc Soja hispida người ta dùng chỉ nhiều loài đậu có hạt màu vàng nhạt, màu nâu, màu đen…
A. Mô tả cây
Cây thảo, hằng năm, có thân mảnh, gần hỏa mộc, cao từ 0,80 đến 0,90m, có lông, có cành hướng lên phía trên. Lá mọc cách có 3 lá chét hình trái xoan, gần nhọn mũi, hơi không đều ở gốc. Hoa trắng hay tím xếp thành chùm ở nách. Quả thõng, hình liềm, gần bị ép có nhiều lông mềm màu vàng, thắt lại giữa các hạt.
Hạt 2, 3, 5 gần hình cầu, hình thận dài, màu vàng rơm nhạt. Như trên đã nói ở nước ta chỉ thấy có loại đậu nành màu vàng rơm, còn những loại hạt màu đen, đỏ, lục… người ta gọi tên khác nhưng trong các tài liệu thực vật nước ngoài người ta mô tả hạt đâu nành có thể có màu vàng, đỏ, lục, hay đen (Hình 704).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 704. Đậu nành - Glycine soja
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Người ta cho rằng nguồn gốc đậu nành là ở Trung Quốc rồi từ đó lan ra các nước khác Việt Nam, Malaixia, Nhật Bản, Triều Tiên. Từ thời cổ xưa đậu nành đã được sử dụng ở những nước này làm thực phẩm. Châu Âu mới biết đến đậu nành vào đầu thế kỷ 18 và việc trồng trọt bắt đầu phát triển lớn ở Liên Xô cũ, nhưng ngược lại việc trồng đậu nành phát triển nhanh chóng tại những nước châu Mỹ: Những nước thuộc miền trung và đồng bằng sông Mitsipxipi đã trở thành những nước sản xuất đậu nành với những sản lượng lớn.
C. Thành phần hóa học
Toàn cây chứa 12% nước, 16% gluxit, 14- 15% protein, 6% muối khoáng và các chất khác không có nitơ.
Hạt chứa trung bình 8% nước, 4-5% chất vô cơ, trong đó rất nhiều kali (2%), natri (0,38%), Ca (0,23%), photpho (0,65%), magiê (0,24%) S (0,45%).
Giuxit từ 15-25% bao gồm các holozit (sacaroza, rafinoza, stachyoza) các pentozan và galactozan. Rất ít tinh bột (chỉ chiếm khoảng 55 trong hạt chín) nhưng lại bị men amylaza chuyển thành dextrin và đường.
Chất béo chiếm 15-20% có khi đat 23%. Đây là một chất đậu rất rõ (do chất metylnonyxeton), mùi vị này lâu dần sẽ thay đổi do hiện tượng oxy hóa và tạo thành một màng mỏng trên mặt dầu (dầu đậu tương thuộc loại dầu khô như dầu hạt lanh graine de lin). Lỏng ở nhiệt độ thường, đông đặc ở -13° và -15°C, tỷ trọng 0,924 đến 0,927 (15°C), chỉ số khúc xạ 1,4762 -1,4765 (15°C). Sền sệt ở +8° và +15°C, các axit béo chảy ở 27-29°C, chỉ số iôt 137-142, chỉ số xà phòng hóa 192,5, không xà phòng hóa 0,30%. Tỷ lệ % của các glyxerit axít béo: Linolein 49,3%, olein 32%, linolenin 2%, panmitin 6,5%, stearin 4,2%, aracgidin 0,7%, lignoxerin 0,1% và 0,5% axit panmitooleic hay axit hexadexenoic. Trong dầu béo đậu nành còn có photpholipit chủ yếu là lexitin (1-5%). Lexitin hoặc nằm trong dầu béo (tách ra bằng lạnh) hoặc còn nằm trong phần bã (tách ra bằng dung môi bay hơi). Trong phần dầu béo còn có các chất steron như stigmasterol độ chảy 258°C, sitosterol và một số sapogenol khác.
Chất protit chiếm thành phần chủ yếu 35- 40%, có khi đạt tới 50%, bao gồm một anbumin, một globulin, glyxinin và một casein (photphoproteit) gần giống casein của sữa bò. So sánh các axit amin của acsein đậu nành và casein của sữa bò ta thấy:
Đậu nành Sữa bò
Glyxin 0,97 -
Valin 0,63 7,2
Alanin - 1,5
Leuxin 8,45 9,4
Prolin 3,78 6,7
Phenylalanin 3,86 3,2
Axit aspactic 3,89 1,4
Axit glutamic 19,46 15,55
Serin - 0,5
Tyrosin 1,86 4,5
Acginin 7 đến 8 4,84
Histidin 1,39 2,5
Lysin 2,96 5,95
Tryptophan 1,25 1,5
Xystin 1,18 -
Xem vậy ta thấy casein đậu nành ít lysin và histidin hơn, nhưng lại chứa nhiều acginin hơn và có xystin và xustein mà trong casein sữa bò không có.
Các thành phần khác:
Sắc tố màu vàng bao gồm những carotenoit và dẫn xuất flavon.
Đây là những glucozit izoflavon trong đó genin là genistein hay genisteol (trihydroxy 4’-5-7 isoflavon metyl-genistein và daidzein (dihydroxy 4’-7 isoflavon) do chữ daizu tiếng Nhật có nghĩa là đậu nành.
Sắc tố anthoxyan trong những loại đậu có màu tím và đen.
Vitamin, đậu nành chứa hầu hết các loại vitamin. Đã xác định những loại vitamin tan trong nước như B₁, B₂… PP, vitamin tan trong dầu A và D (phối hợp với những lexitin), E (trong đậu nành ở châu Á và Mỹ), K, F (axit linoleic, dầu) không có vitamin C (trừ trong giá đậu nành). Có tác giả phủ nhận sự có mặt của vitamin A và D nhưng thực ra những vitamin đó xuất hiện khi hạt mới chín, sau đó bị những men oxy hóa phá hủy.
Trong nhóm vitamin B, đậu nành chứa lượng vitamin gấp 3 lượng vitamin B trong sữa bột và trong bột những loại hạt đậu khác chứa tinh bột. Lượng vitamin B2 có ít hơn trong sữa bột khoảng 1/3 nhưng lại gấp 6 lần so với một số loại đậu khác.
Các loại men trong đậu nành rất nhiều các loại men.
Men amylaza mạnh hơn trong mạch nha. Chính men này đã chuyển phần lớn tinh bột trong hạt non thành dextrin. Men còn có thể chuyển nhiều loại tinh bột khác.
Men lipaseidin hoạt tính kém lipaza của hạt thầu dầu, có khả năng làm hỏng dầu chứa tinh chế.
Men proteaza có khả năng chuyển casein thành những chất có thể có độc tính (hạt đậu sống và bị phồng).
Men ureaza giống như men trong hạt đậu rựa (Canavalia).
Ngoài ra có tác giả còn cho rằng trong hạt đậu nành có chứa men trophophylaxin có khả năng tránh một số trường hợp ngô độc.
D. Công dụng và liều dùng
Trong y dược, bột đậu nành (làm mất mùi bằng hơi nước) trộn với bột ngũ cốc, cacao dùng làm thức ăn cho trẻ sơ sinh, người bị bệnh đường tiện (đái đường) do giá trị dinh dưỡng cao, ít gluxit sinh glycogen. Còn dùng làm thức ăn cho người bị thấp khớp, bệnh gút, người mới ốm dậy, người lao động quá sức.
Lexitin và casein dùng riêng hay phối hợp làm thuốc bổ dưỡng, làm tá dược Stigmasterol dùng trong tổng hợp progesteron.
Trong công nghiệp dược phẩm, bột đậu nành được dùng chế môi trường nuôi cấy nấm mốc kháng sinh, trong công nghiệp chế một số axit amin như acginin, axit glutanic bằng thủy phân axit bột đậu nành. Nelt đã thống kê trong năm 1965, trong sản lượng 100.000 lần axit glutamic/ năm của toàn thế giới, một phần ba số axit này do thủy phân dậu nành.
Bột đậu nành sau khi đã loại dầu hay nước đậu nành sau khi đã tinh chế được dùng chế men ureaza, thuốc thử đặc hiệu đối với urê trong hóa sinh.
ĐẬU XANH 绿豆
Còn gọi là lục đậu, boubour , haricot doré, green bean.
Tên khoa học Phaseolus ayreus Roxb. , Vigna aurea Roxb.
Thuộc họ Đậu Pabaceae(Papilionaceae).
A. Mô tả cây
Cây thảo hằng năm, mọc đứng, ít phân nhánh, cao 0,6m, lá có 3 lá chét, lá chét hình trái xoan, ba cạnh, màu lục sẫm, có lông nháp. Hoa màu vàng hoặc lục, rất dày đặc, xếp thành chùm ở nách, quả nằm ngang hình trụ, có lông rồi nhẵn, có đầu nhọn ngắn. Hạt 10-15 phần cách nhau bởi các vách, màu lục, bóng (Hình 705).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 705. Đậu xanh - Phaseolus ayreus
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây được trồng ở khắp nước ta lấy hạt chủ yếu làm thực phẩm. Nhiều nước nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ cũng trồng. Năm 1964, theo thống kê của tổ chức lương nông thế giới FAO sản lượng đậu xanh hạt toàn thế giới khoảng 9 triệu tấn.
Trong nhân dân Việt Nam, ngoài công dụng thực phẩm, đậu xanh toàn hạt và vỏ hạt được dùng làm thuốc.
Vỏ hạt đậu xanh còn gọi là lục đậu bì, hay lục đậu y, lục dậu xác thu được bằng cách xay đậu, ngâm nước và gạn lấy vỏ phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Hạt đậu xanh có trung bình 13,7% nước, 23% protit, 2,4% lipit và 52% gluxit, 4,6% xenluloza. Mỗi 100g đậu xanh cung cấp cho cơ thể 329 calo, 62,7mg canxi, 369,5mg P, 4,7mg% Fe, 0,06mg% caroten, 0,71mg% vitamin B₁, 0,15mg% vitamin B₂, 2,4mg% vitamin PP, 4mg% vitamin C.
D. Công dụng và liều dùng
Đậu xanh được ghi làm thuốc trong sách “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh và “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân. Theo Lý Thời Trân vỏ hạt đậu xanh vị ngọt, tính nhiệt không độc, có tác dụng giải nhiệt độc, làm cho mắt khỏi mờ.
Toàn hạt đậu xanh vị ngọt, tính hàn không độc, có tác dụng tiêu tích nhiệt, giải bách độc (các chất độc). Dùng nấu ăn để tiêu thũng phù, hạ khí, giải nhiệt độc, giải các chất độc của thuốc và kim loại.
Ngày dùng 20 đến 40g dưới dạng nấu chín nhừ mà ăn.
Đơn thuốc có đậu xanh
Chữa đái đường (tiêu khát): Nấu cháo đậu xanh mà ăn hằng ngày.
Chữa phát nóng, sưng quai hàm nhức nhối: Đậu xanh tán thật nhỏ trộn với dấm mà phết lên nơi sưng đau thật dày khô lại thêm dấm vào, mỗi ngày 1 lần, khỏi thì thôi (Nam dược thần hiệu).
Trúng phải thuốc có chất độc, ngất đi nhưng tim còn đập: Bột đậu xanh quấy với nước mà uống.
NHỤC THUNG DUNG 肉蓯蓉
Tên khoa học Herba Cistanches Caulis Cistanchis.
Vị thuốc nhục thung dung ít dùng, nhưng lại rất được sử dụng chữa những trường hợp yếu sinh lý, sinh dục. Sách thần nông bản thảo xếp vị nhục thung dung vào loại “thượng phẩm”.
A. Mô tả cây
Vị nhục thung dung là toàn thân cây có mang lá vẩy Caulis Cistanchis. Trên thị trường người ta khai thác:
- Cây thung dung- Cistanche deserticola Y. G. Ma thuộc họ Nhục thung dung Orobranchaceae (Hình 706).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 706. Nhục thung dung - Cistanches deserticola:
-
Toàn cây; 2. Bao phiến; 3. Cánh hoa mở dọc;
-
Hoa mở dọc nhìn rõ nhị đực và nhị cái; 5. Nhị đực.
-
Cây mễ nhục thung dung có tên khoa học Cistanche ambigua G. Beck (Bge) cùng họ Nhục thung dung.
-
Cây nhục thung dung có tên khoa học Cistanche salsa (C. A. Mey.) G. Bek.
Còn có tên Phelipaea salsa C. A. Mey. hay Orobranche Kuntz, đều thuộc họ Nhục thung dung Orobranchaceae.
Theo tác giả Diệp Quyết Tuyền (Hiện đại thực dụng trung dược, Thượng Hải, 1957) thì Nhục thung dung lại mang tên khoa học là Boschniakia glabra C. A. Mey.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Vị thuốc nhục thung dung hiện nay ta còn hoàn toàn phải nhập. Theo những tài liệu của Trung Quốc thì những tỉnh có Nhục thung dung là Nội Mông Cổ, Thiểm Tây, Cam Túc, Tân Cương…
Vì vị thuốc này nung núc những thịt, tính chất bổ lại hòa hoãn từ từ, do đó có tên này. Tại những nơi có cây, người ta thu hoạch vào hai mùa xuân và thu, nhưng tháng 3 đến tháng 5 thu hoạch là tốt nhất. Quá thời gian đó thì chất lượng kém. Nếu thu hái vào mùa xuân, thì chỉ cần loại bỏ đất cát, để khô trong mát là được, còn nếu thu hoạch vào mùa thu, nước nhiều rất khó làm khô. Người ta cho vào hũ với muối và muối từ 1 đến 3 năm. Khi nào dùng làm thuốc thì rửa sạch muối mới dùng. Có khi người ta đun cách thủy với rượu đế khi rượu cạn mới dùng. Cứ 1kg nhục thung dung dùng 0,3 lít rượu.
C. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý
Cho đến nay chưa có tài liệu nghiên cứu về hóa cũng như về dược lý.
D. Công dụng và liều dùng
Hiện vẫn chỉ thấy được sử dụng trong y học cổ truyền. Vị ngọt, chua, tính hơi ôn. Không có độc. Có tài liệu nói cay, ôn, đại nhiệt. Có tác dụng tư âm, bổ thận, ích tinh, huyết, tráng dương hoạt trường (mạnh dương chơn ruột). Dùng trong những trường hợp liệt dương, lưng gối lạnh đau (nam giới), vô sinh bạch đới khí hư (nữ giới), huyết khô, táo bón.
Ngày dùng 8-12g dưới dạng thuốc sắc, thuốc hòan. Những người thận dương vượng, đại tiện lỏng, dương vật dễ cương lại di mộng tinh thì không dùng được.
Đơn thuốc có nhục thung dung dùng trong nhân dân
Nhục thung dung 10g, sơn thù du 5g, thạch xương bồ 4g, phục linh 6g, thỏ ty tử 8g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày. Hâm nóng thuốc khi uống. Chữa suy nhược thần kinh (Kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền).
Bình luận