lưỡng tính, màu trắng vàng, mọc thành chùm tán ở kẽ lá. Quả như quả táo ta nhưng nhỏ hơn và dẹt hơn. Mùa hoa quả: tháng 5-7 (Hình 107).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang đại ở những vùng đồi núi nơi dãi nấng hay ven rừng. Người ta dùng tá và rễ. Rể đào về rửa sạch đất, bóc lấy vỏ, thái nhỏ phơi hay sấy khô. Lá thường dùng tươi.

C. Thành phần hóa học

Trong rễ và lá có những chất cho phản ứng dưcmg tính với những thuốc thử ancaloit, flavonozit và saponin, (Vũ Ngọc Lô, Lẻ Đức Trường 1970).

D. Còng dụng và liều dùng

Chữa hắc lào: vỏ rễ khô giã nát ngâm với rượu 40% với tỷ lệ 1 rễ, 3 rượu, hoặc với đấm tỷ Lệ 1 vỏ rẽ 2 dấm. Bôi lên nơi hắc lào đã rửa sạch. Thuổc này có thể dùng chữa lang ben cũng có một số kết quả.

Chữa lở ngứa: Lá táo rừng tươi nấu nước tắm. Ngày một lần, liên tục trong 5 ngày.

Chủ thích:

Có tác giả trước đã xác định tên cây này là Zỉzyphus rugosa, nhưng tên Rhamnus crenưtus chính xác hơn.